TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC BÁO CÁO THỰC TẬP TÔT NGHIỆP
“QUY TRÌNH SẢN XUẤT DẦU NHỜN TẠI
NHÀ MÁY SẢN XUẤT DẦU NHỜN
NHÀ BÈ”
chú Nguyễn Tấn Lợi đã tận tình chỉ dạy chúng em về
đặc điểm công nghệ, cách vận hành các thiết bò. Giúp
chúng em có thêm có thêm những kinh nghiệm thực tế
thật bổ ích để bổ sung vào kiến thức mà chúng em
được học ở trường.
Để hoàn thành được báo cáo thực tập này không
thể không nhắc đến GV Trần Thò Hồng, cô đã tận tình
hướng dẫn và chỉ dạy giúp chúng em xác đònh rõ mục
đích và phương hướng thực tập. Chúng em xin gởi lời
cảm ơn chân thành đến cô.
Cuối cùng xin chúc quý Thầy Cô, các Cô, Chú,
Anh, Chò dồi dào sức khỏe, đạt nhiều thành tích trong
sự nghiệp giáo dục và thành công trong công việc. GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
30 Nhóm: Hóa Dầu 2
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
LỜI MỞ ĐẦU.
Y Z
Xã hội ngày một phát triển, kéo theo các ngành công
nghiệp cơ khí phát triển một cách nhanh chóng. Trong đó dầu
nhờn đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành và bảo
vệ máy móc, thiết bò. Vì vậy xăng dầu nói chung và dầu nhờn
nói riêng là những sản phẩm mang tính chiến lược. Sự tồn tại
Tp.HCM, ngày…. , tháng…. , năm 2005
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
32 Nhóm: Hóa Dầu 2
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
33 Nhóm: Hóa Dầu 2
Tp.HCM, ngày…. , tháng…. , năm 2005 Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
chủ yếu thuộc chức năng. Nhiệm vụ của công ty xăng dầu khu vực II. Xăng dầu được
cấp phát theo chỉ tiêu kế hoạch do nhà nùc giao hàng năm cho tất cả các nhu cầu an
ninh quốc phòng, vận tải, sản xuất kinh doanh và tiêu dùng… mang lại hiệu quả lớn
trong việc ổn đònh giá cả, thò trường và an ninh xã hội.
Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thò trường, ngành xăng dầu nói chung và
Công ty xăng dầu khu vực II nói riêng được trao quyền chủ động xuất nhập xăng dầu,
thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong sinh hoạt và đặc biệt là trong công nghiệp,
góp phần vào tăng trưởng của GDP và chất lượng sống của toàn dân.
Từ năm 1992 trở lại đây, các hãng dầu nhờn lớn trên thế giới như Castrol, BP,
Shell, Esso, Caltex… đã bắt đầu thâm nhập vào thò trường Việt Nam và cạnh tranh gay
gắt. Vì vậy , trong thới gian này Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã liên doanh với
BP thành lập công ty BP Petco tổ chức sản xuất kinh doanh dầu mỡ nhờn tại thò
trường Việt Nam.
Để củng cố và tiếp tục phát huy sức mạnh của một hảng xăng dầu quốc gia,
9/6/1994, Bộ Thương mại ra quyết đònh số 745TMT – CCB - QĐ về việc thành lập
Công ty dầu nhờn Petrolimex (Petrolimex Lubricants Company), gọi tắt là PLC.
Trong quá trình họat động, công ty đã mở rộng kinh doanh các mặt hàng khác như:
nhựa đường hóa chất bên cạnh mặt hàng chủ lực là dầu mỡ nhờn.
Nhằm phù hợp với chức năng đa dạng hóa nghành nghề kinh doanh, ngày
13/10/98 theo quyết đònh số 1191/1998/QĐ/BTM của Bộ Trưởng Bộ Thương Mại,
Công ty dầu nhờn Petrolimex được đổi tên thành Công ty Hóa dầu Petrolimex trực
thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam. Trụ sở công ty : Số 1-Khâm Thiên-Đống Đa
- Hà Nội.
Tháng 3 năm 2004 công ty được cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty Cổ phần
Hóa dầu Petrolimex. Hiện nay công ty có các thành viên như sau:
• Xí nghiệp Dầu nhờn Hà Nội
• Chi nhánh Hóa dầu Hải Phòng
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
Nhà máy là đơn vò sản xuất trực thuộc chi nhánh Hóa dầu Sài Gòn,chuyên sản
suất các mặt hàng dầu nhờn mang nhãn hiệu PLC, RACER , ELF thuộc các chủng
loại dầu động cơ, dầu thuỷ lực, dầu hộp số…
Nhà máy có vò trí rất thuận lợi cho việc xuất nhập nguyên liệu, hàng hóa bằng
đường bộ, đường sông và đặc biệc là đường biển. Nhà máy nằm trong kho B trong
tổng kho xăng dầu Sài Gòn, phía Đông giáp sông Sài Gòn, phía Tây là đường Huỳnh
Tấn Phát dẫn về khu chế xuất Tân thuận, đại lộ Nguyễn Văn Linh, và Trung tâm
thành phố.
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè 1.3.1.Cơ cấu tổ chức nhà máy: GĐNM
Phòng kế
hoạch điều độ
Phòng hóa
nghiệm
Đội pha
chế đóng
rót
máy. GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
37 Nhóm: Hóa Dầu 2
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
1.3.3. Sơ đồ bố trí mặt bằng :
ù
cxư
û
Xưởng sửa
chư
û
acơkhí
Văn phòng ,phòng
hóa n
g
hie
ä
m
Khu đóng rót
Bồn thành
phẩm
Cổng vào
Khu pha
chế
Bãi chứa phi
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
38 Nhóm: Hóa Dầu 2
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
40 Nhóm: Hóa Dầu 2
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
41 Nhóm: Hóa Dầu 2
2.2.1. Bôi trơn máy :
Bôi trơn máy là công dụng quan trọng nhất của dầu nhờn làm giảm ma sát khi
2 bề mặt kim loại tiếp xúc với nhau nên làm giảm tổn thất cơ giới, tăng hiệu suất có
ích của động cơ.
Khi bôi trơn thì ma sát trực tiếp giữa các chi tiết máy được thay thế bằng ma
sát nội tại màng chất bôi trơn thể lỏng ngăn cách giữa các chi tiết máy ma sát nội tại
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
42 Nhóm: Hóa Dầu 2
của màng chất lỏng này có hệ số ma sát nhỏ hơn rất nhiều so với các loại ma sát
khác. Nó có tác dụng tăng hiệu suất hữu ích của động cơ và ngăn chặn tối đa sự mài
mòn, đặc biệt là ở chỗ tiếp xúc có vận tốc thấp bề mặt chòu tải cao.
Trong trường hợp này cần sử dụng phụ gia chống mài mòn khi ở nhiệt độ và áp
lực cao vẫn bảo đảm tính bôi trơn.
2.2.2. Chống ăn mòn kim loại :
Khi máy hoạt động một phần hơi nước không thoát ra ngoài được đọng lại ở
Cacte hoặc các acid, các chất có tính ăn mòn sinh ra khi nhiên liệu cháy dở. Khi máy
ngừng hoạt động hoặc khi hoạt động trên công trường, đồng ruộng môi trường ẩm ướt
đôi khi tiếp xúc trực tiếp với nước hoặc khi thời tiết lạnh, máy mới khởi động máy
móc rất dễ bò ăn mòn và bò rỉ sét. Để bảo vệ máy sử dụng bôi trơn phủ lên lớp màng
bên ngoài tránh sự tiếp xúc của chi tiết máy với môi trường xung quanh và trung hòa
lượng acid thì phải sử dụng dầu phụ gia mang tính kiềm.
2.2.3. Làm mát máy :
Máy nóng lên khi động cơ làm việc do sự ma sát và nhiên liệu cháy toả ra.
Như ở pittong, xilanh, vòi phun… Dầu máy Cacte sẽ làm mát khi tải nhiệt ở bộ phận
có nhiệt độ cao đi vào dầu Cacte và được làm mát nhờ bộ tản nhiệt. Hệ thống làm
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
43 Nhóm: Hóa Dầu 2
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
44 Nhóm: Hóa Dầu 2
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
45 Nhóm: Hóa Dầu 2
Các chỉ tiêu quan trọng của dầu gốc. Khi lấy mẫu từ các hầm tàu mang về lên
phòng thử nghiệm đầu tiên người ta thử dầu có bò lẫn nước hay không. Sau đó tiếp tục
xác đònh các chỉ tiêu khác.
Các chỉ tiêu phải kiểm tra trước khi nhập dầu gốc :
Cảm quan.
Tỷ trọng ở 15
0
C (ASTM D 1298-85).
Độ nhớt ở 40
0
C (ASTM D 445-94).
Độ nhớt ở 100
0
C (ASTM D 445-94).
Chỉ số độ nhớt (ASTM D 2270-93).
Màu ASTM (ASTM D 1500-96). Nhiệt độ chớp cháy (ASTM D 92).
Hàm lượng nước (ASTM D 95).
TAN, mg KOH/g (ASTM D 2896).
Kết quả phân tích được ghi vào hoá đơn nghiệm.
Ví dụ: Chỉ tiêu của loại dầu gốc SN 150
Đặc điểm Chỉ tiêu Phương pháp thử
Cảm quan Trong và sáng
hoá học. Có rất nhiều loại tên phụ gia khác nhau, phụ gia cũng có tính ảnh hưởng
quyết đònh đối với dầu nhờn. Nó làm tăng những tính nămg vốn có của dầu nhờn như
bôi trơn, làm sạch, làm kín, giảm sự ăn mòn kim loại do oxy hoá … Ngoài ra nó còn
mang lại các tính năng mới cho dầu nhờn như mùi thơm, màu sắc. Trên thò trường
hiện nay yêu cầu về chất lượng sử dụng cho máy móc rất cao nên hầu như trong dần
nhờn
đều có pha thêm phụ gia từ khoảng 0,1 ppm đến 25%.Khi nhập phụ gia yêu cầu phải
kiểm tra, kiểm đònh rất khắt khe. Tuỳ từng loại phụ gia có tính chất khác nhau. Có
những phụ gia tương trợ lẫn nhau tăng cao tính năng của dầu cũng có những phụ gia
khác nhau có những hiệu ứng đối kháng nhau làm giảm tính năng của dầu.
Phụ gia ở nhà máy thường được nhập bằng phuy, có thể bằng tàu và bằng xe
bồn lưu động của Nhà Máy Dầu Nhờn (Có 2 xe bồn V = 4000L). Trước khi nhập phải
lấy mẫu để xác đònh chất lượng và kiểm tra qua chứng từ).
Các chất phụ gia chống tạo bọt, Silicon đặc biệt polymetyl – syloxan,
polymetacrylat, etanolamin …
3.1.2.2. Một số tên thương mại của các phụ gia :
PLC : 31/46B/49E/60/78E/85/96e, ADI.
ELF : MF 385A/394V/668V/, Disopac
SHEEL : Lubad/199/223/383/498/1024
3.1.2.3. Một số tên phụ gia và công dụng của nó :
Phụ gia
Công dụng
1. Nhóm động cơ
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
Độ nhớt ở 100
0
C/40
0
C (ASTM D2896-95).
TBN, mgKOH/g (ASTM D2896-95).
Hàm lượng nước (ASTM D95-83).
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
48 Nhóm: Hóa Dầu 2
Hàm lượng kim loại (ASTM D4628-96).
Kết quả phân tích được ghi vào đơn hóa nghiệm.
3.1.3. Một số vật liệu khác : Bao bì chứa thành phẩm :
Các loại can : 18 lít, 25 lít
Các loại phuy : 200 lít, 209 lít
Các loại lon : 700 ml, 800ml, 1 lít, 4 lít. Được cung cấp bởi Công ty
TNHH Nhựa Phước Thành.
Các loại phuy sẽ được tái sử dụng.
Các loại bao bì khi đưa vào sử dụng sẽ được bổ sung thêm các số liệu như số
batch, loại sản phẩm, nhãn hiệu. (Bằng máy in phun hoặc lăn tay bằng sơn).
Dầu FO :
Dầu Fo được sử dụng để làm nhiên liệu lò gia nhiệt (Khoảng 30-40 l/h)
Máy nén khí cung cấp khí cho hệ thống đóng nắp lon, phuy và pha chế dầu
nhờn.
Máy gia nhiệt (hơi nước hoặc dầu truyền nhiệt) để gia nhiệt đường ống khi bơm
hút dầu gốc, phụ gia và gia nhiệt khi pha chế dầu nhờn.
Ngoài ra còn có băng keo, các hoá chất dùng để băng dán nguyên liệu và
thành phẩm. Để đảm bảo chất lượng của sản phẩn đầu ra trong việc nhập nguyên vật
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
49 Nhóm: Hóa Dầu 2
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
50 Nhóm: Hóa Dầu 2
bắt đầu cho nhập dầu.
Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp
Khoa Công Nghệ Hoá Học ĐVTT: Nhà Máy Sản Xuất Dầu Nhờn Nhà Bè
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4
51 Nhóm: Hóa Dầu 2
Lúc dầu nhập dầu với áp suất nhỏ khoảng 0,5kg/cm
2
trong khoảng 10-15 phút
lấy mẫu đường ống thử lại và cách 1 giờ lấy mẫu đường ống 1 lần để kiểm tra (hàm
lượng nước, độ nhớt… ) để tránh trường hợp khi đổi hầm hàng chất lượng không đạt
yêu cầu.
Trong quá trình nhập cần theo dõi đồng hồ áp suất liên tục giữ cho áp suất
được ổn đònh để người canh bồn có chuẩn bò trong trường hợp nếu có chuyển bồn
chứa. Cần giữ áp suát không quá 6kg/cm
2
để bảo vệ đường ống nhập tránh sự cố xảy
ra.
Trong trường hợp nhập nhiều loại dầu gốc cùng 1 lần trong khi nhà máy chỉ có
2 đường ống nhập thì ta nhập hết 1 loại dầu khi muốn nhập loại dầu khác ta cần làm
sạch đường ống bằng pit.
4.2.1. Cách làm.
Bỏ pit vào đường ống dùng khí nén từ máy nén khí lưu động của nhà máy, nén
khí từ 2-3kg/cm
2
thì giật nhanh van để pit co đà đẩy sạch dầu trong đường ống về bồn
chứa. Theo dõi pit chạy đến cuối đường ống thì cờ báo hiệu sẽû bật lên. Lúc này cần
mở bơm phụ trợ hút phần dầu còn dư ở cuối đường ống khoảng 20-30 lít đồng thời tắt
máy nén khí xả gió cuối đường ống để giảm áp suất trước khi lấy pit ra khỏi đường
ống để tránh nguy hiểm.
cước….Tùy mục đích sử dụng và độ co của đường ống mà sử dụng và đường ống có độ
rỉ sét cao cần làm sạch thì dùng banh cước vì có khả năng mài mòn cao lớn. Trường
hợp độ co của đường ống hẹp thì không dùng pit vì sẽ không chạy qua được mà phải
dùng banh cao su để làm sạch.
4.4. Qui trình xuất dầu gốc.
Hệ thống đường ống nhập trong điều kiện cần thiết cũng có thể là đường ống
xuất từ bồn chứa ngược ra cầu tàu để xuất cho các tàu nhận hàng, nhưng các công
đoạn thủ tục đơn giản hơn.
Nếu xuất xe bồn thì 1 hoặc 2 người kiểm tra chứng từ xuất đúng số lượng, loại
hàng. 1 ngươi điều khiển controlpanel, 1 người cầm cần xuất. Hoặc 1 người kiêm cả 2
việc vừa điều khiển vừa xuất hàng.
4.5. Quá trình nhập phụ gia
Nhập phụ gia dạng phy thuộc trách nhiệm của đội giao nhận :Tiến hành kiểm
tra đối chứng từ hàng hoá về chủng loại, tình trạng bao bì, số lượng của bên giao gởi
4.5.1. Các bước tiến hành của phòng thực nghiệm:
Lấy mẫu:
Mẫu lấy phuy bể, hầm tàu,xà lan đường ống. Lấy mẫu phải đúng cách thức quy
đònh để có mẫu đại diện cho lô hàng
Khi lấy mẫu cần có các dụng cụ: ống lấy mẫu hoặc bình lấy mẫu, giẻ lau.
Lấy mẫu đối với phuy và các bao bì chứa nhỏ có các loại mẫu :
Mẫu chung: đưa ống lấy mẫu vào phuy hoặc bao bì chứa chất lỏng bòt
kín miệng ống cho tới khi ống chạm đáy và kéo từ từ lên căn cho tới khi đưa ống ra
khỏi phuy hoặc bao bì thì chất lỏng vừa đầy ống, đưa đổ vào bình chứa mẫu .
Lấy mẫu đối với bồn nằm ngang, hầm tàu, xà lan:
% vò trí lấy mẫu Mẫu chung theo tỉ lệ
% chiều cao
của dầu
Mẫu
trên
Mẫu
giữa
Mẫu
dưới
Mẫu
trên
Mẫu
giữa
Mẫu dưới
100 80 50 20 3 4 3
90 75 50 20 3 4 3
80 70 50 20 2 5 3
Nếu đạt: nhân viên hoá nghiệm thông báo cho trưởng kho và chủ hàng để tiến
hành nhập hàng.
Nếu không đạt: kiểm tra lại mẫu của từng hầm hàng để phát hiện các hầm
hàng không đạt và thông báo cho đại diện chủ hàng để cùng thuyền trưởng xác nhận
hàng không đạt yêu cầu.
Trong khi xác đònh số lượng hàng nếu phát hiện hầm nào có nước thì phải tiến
hành lấy mẫu đấy để giữ phòng hoá nghiệm kiểm tra.
GVHD: Trần Thò Hồng Lớp: CDHD4