THỰC TRẠNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRONG LAO ĐỘNG TRỒNG CÀ PHÊ TẠI TỈNH ĐẮC LẮC NĂM 2009 - Pdf 12

30 Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Thực trạng tai nạn thương tích trong lao động
trồng cà phê tại tỉnh Đắc Lắc năm 2009
Trần Thò Hồng (*), Nguyễn Thúy Quỳnh (**), Hồ Thò Hiền (***)
Nông nghiệp là ngành nghề có số lượng lao động nhiều nhất nước ta hiện nay. Lao động nông nghiệp
(LĐNN) có nhiều nguy cơ gây tai nạn thương tích (TNTT), tuy nhiên thông tin về TNTT trong LĐNN
ở Việt Nam còn ít. Bài báo này là báo cáo một phần kết quả của nghiên cứu "Thực trạng TNTT và
một số yếu tố liên quan tại các vùng nông nghiệp trọng điểm tại Việt Nam" được thực hiện từ 5/2009-
12/2010. Mục tiêu của bài báo là mô tả thực trạng TNTT trong lao động trồng cà phê tại tỉnh Đắc
Lắc năm 2009. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là mô tả cắt ngang, thông qua phỏng vấn và
quan sát 1562 hộ gia đình, sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn. Kết quả cho thấy, tỷ suất TNTT tử vong
trong lao động trồng cà phê là 57/100.000, tỷ suất TNTT không tử vong là 3.149/100.000. Ba nguyên
nhân TNTT hàng đầu là vật sắc nhọn, động vật cắn/tấn công và ngã. TNTT liên quan đến máy nông
nghiệp thường gây ra các thương tổn ở mức độ nặng. Hai công đoạn canh tác cà phê có số trường
hợp TNTT xảy ra cao vượt trội so với các công đoạn khác, đó là chăm sóc và tạo hình. Chương trình
can thiệp phòng ngừa TNTT tại Đắc Lắc cần tập trung vào nâng cao hiểu biết và thực hành của người
dân về thực trạng và cách phòng tránh TNTT trong lao động nông nghiệp, đặc biệt chú ý đến các
nguyên nhân và công đoạn hay xảy ra TNTT.
Từ khóa: Tai nạn thương tích, tai nạn lao động, tai nạn lao động nông nghiệp, trồng cà phê
Injuries among coffee production farmers in
Dak Lak province
Tran Thi Hong (*), Nguyen Thuy Quynh (**), Ho Thi Hien (***)
In Vietnam, agriculture is the largest contributor to the labour force. Although it is one of the most
hazardous industries, studies on occupational injury in agriculture in Vietnam remain limited. This
paper presents a subset of results from a larger study on the "current situation of and associated
factors to injuries in key agricultural regions in Vietnam in 2010". The objective was to assess the
current situation of injuries related to coffee production in Dak Lak province. The study conducted
from 5/2009 to 12/2010 using a cross sectional design. Structured interviews and observations using
safety checklists were conducted with 1.562 households who produce coffee. The fatal and non-fatal
rates of occupational injuries during coffee production were 57/100,000 and 1.291/100.000

trường Đại học Y tế Công cộng thực hiện. Bài viết
mô tả thực trạng TNTT đối với nông dân trồng cà
phê, từ đó đưa ra những khuyến nghò cho việc xây
dựng chương trình phòng chống TNTT cho người
lao động trồng cà phê.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng TNTT trong lao
động trồng cà phê tại tỉnh Đắc Lắc năm 2009
2. Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Người lao động trồng cà
phê; Hộ lao động trồng cà phê;
Thời gian và đòa điểm: Nghiên cứu được tiến
hành từ tháng 5/2009-12/2010 tại huyện Cưmgar
của tỉnh Đắc Lắc.
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang
Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập thông
tin: 1562 hộ nông dân trồng cà phê được phỏng vấn
bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn và bảng kiểm quan sát.
Thông tin thu thập bao gồm: thông tin chung về
HGĐ, thông tin về từng trường hợp TNTT xảy ra
trong vòng 1 năm trước thời điểm nghiên cứu của
từng thành viên HGĐ, bảng kiểm quan sát yếu tố
nguy cơ trong lao động nông nghiệp.
TNTT trong lao động trồng cà phê được đònh
nghóa là tất cả những trường hợp bò TNTT trong khi
thực hiện các hoạt động canh tác cà phê, bao gồm:
chọn cây giống, xử lý hạt; làm đất; đào hố trồng
cây; chăm sóc; tạo hình; thu hoạch; phơi hạt; phân
loại; đóng bao bảo quản trước khi chế biến; chế
biến; vận chuyển nông sản.

Vật sắc nhọn là nguyên nhân gây TNTT cao
nhất tại Đắc Lắc. Các loại vật sắc nhọn gây TNTT
cho người lao động chủ yếu là từ các dụng cụ lao
động như dao, kéo tỉa cành, cuốc chiếm 63,3%;
26,5% số trường hợp TNTT do bò cành cây nhọn
đâm; 8,2% số trường hợp là các bộ phận của máy
nông nghiệp như máy tưới cà phê gây ra; 2% còn lại
là do các vật sắc nhọn khác.
Động vật cắn/tấn công là nguyên nhân đứng thứ
hai gây TNTT cho nông dân. Có tới 61% trường hợp
TNTT do bò ong đốt; 24,4% các trường hợp do côn
trùng như rết, bọ, kiến đốt hoặc cắn; có 12,2%
trường hợp bò rắn cắn và 2,4% còn lại là do những
động vật khác.
Ngã là nguyên nhân đứng thứ ba gây TNTT cho
nông dân trồng cà phê. Kết quả phân tích cho thấy,
hơn 50% số trường hợp ngã do trượt chân, bước hụt;
25% các trường hợp là do vấp ngã và 11,8% các
trường hợp do va đụng trong quá trình LĐNN. Số
còn lại là ngã do va đập với vật đang chuyển động.
3.2. TNTT theo tuổi và giới
Những nông dân trong độ tuổi 55-64 có tỷ suất
TNTT không tử vong cao nhất (6762/100.000), tiếp
đến là các nhóm người trong độ tuổi 45-54
(4.603/100.000), 35-44 (4.578/100.000) và 25-34
(4.057/100.000). Tỷ suất này thấp hơn ở nhóm trẻ
tuổi 15-24 và nhóm người lao động già trên 65 tuổi.
Tỷ suất TNTT không tử vong của nam là
4420/100.000 - cao gấp 2,3 lần so với tỷ suất TNTT
của nữ (1191/100.000). Xu hướng này thể hiện ở

Kết quả nghiên cứu cho thấy TNTT xảy ra ở
9/12 công đoạn. Chăm sóc và tạo hình là 2 công
đoạn mà người lao động hay mắc TNTT nhất với số
ca mắc chiếm 41,6% và 35,5% tương ứng. Tiếp đến
là công đoạn thu hoạch (8,4%), vận chuyển (7,2%).
Còn lại là công đoạn đào hố và các công đoạn khác.
"Chăm sóc" bao gồm các công việc như bón
phân, tưới nước, làm cỏ, phun thuốc… Bảng 2 cho
thấy các loại TNTT thường gặp ở công đoạn này
bao gồm: TNTT do động vật cắn/tấn công (chiếm
36,2%), vật sắc nhọn như dao, kéo làm cỏ (27,5%)
và ngã (15,9%). Ngoài ra, ngộ độc trong khi phun
thuốc sâu và tai nạn lúc đang vận chuyển nông sản
(TNGT) cũng là một trong những nguyên nhân cần
lưu ý ở công đoạn này.
Tạo hình là công đoạn bao gồm các việc liên
quan đến nuôi thân, tỉa cành, cưa đốn. Vật sắc nhọn
là nguyên nhân hàng đầu gây TNTT, chiếm gần
một nửa số trường hợp TNTT trong công đoạn này
(45,5%). Kể đến tiếp theo là các nguyên nhân do
động vật cắn/tấn công (27%), ngã (gần 17%) và
mang vác nặng/quá sức (10,2%).
Ở hai công đoạn "thu hoạch" và "vận chuyển",
ngã và mang vác nặng/quá sức là các nguyên nhân
chính gây TNTT cho người nông dân. Công đoạn
"đào hố trồng cây" có 4 trường hợp bò TNTT đều
do ngã.
4. Bàn luận
Tỷ suất TNTT không tử vong trong LĐ trồng cà
phê tại Đắc Lắc là 3.149/100.000, cao gấp 2,4 lần

nông nghiệp tại Việt Nam, Trung Quốc và Ấn Độ,
nơi mà người nông dân vẫn cần phải sử dụng sức lao
động, các thao tác và các dụng cụ lao động thủ công
trong nhiều công đoạn sản xuất. Do vậy tần suất
xuất hiện TNTT sẽ xảy ra trong các hoạt động đó
và có liên quan tới các dung cụ lao động mà người
nông dân sử dụng. Đây là một đặc điểm khác với
các nước phát triển như Mỹ, Canada, Úc, nơi sản
xuất nông nghiệp được cơ giới hóa cao và triệt để
trong các khâu của sản xuất. Ở những nước này, tỷ
Bảng 2. Các loại TNTT không tử vong và mức độ
thương tổn theo từng công đoạn canh tác
cà phê tại tỉnh Đắc Lắc
34 Tạp chí Y tế Công cộng, 8.2012, Số 25 (25)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
lệ TNTT liên quan đến máy móc lại cao hàng đầu
trong các loại TNTT nông nghiệp [1,15,18], TNTT
do vật sắc nhọn thường không thấy được đề cập.
Việc người nông dân sử dụng bảo hộ lao động
không đúng và không đầy đủ có thể là yếu tố khiến
họ không được bảo vệ. Đối với các loại hình TNTT
do các dụng cụ lao động cầm tay gây ra, nếu chú ý
sử dụng găng tay hoặc đồ bảo hộ, tần suất bò thương
tích có thể sẽ giảm đi. Một số nghiên cứu gần đây
cho thấy, tuân thủ VSATLĐ như trang bò bảo hộ khi
làm việc của người nông dân Việt Nam còn rất hạn
chế [4,7,6]. Lý do mà người nông dân ngại sử dụng
các phương tiện BHLĐ là do họ cảm thấy bò vướng,
bò cản trở hoặc làm chậm quá trình lao động của họ
[6]. Điều này cũng có thể do họ chưa quen sử dụng

thương tổn đa phần là vừa và nặng, tức là nạn nhân
phải nằm viện ít nhất 1 ngày hoặc/và phải thực hiện
những phẫu thuật/thủ thuật tại viện, thậm chí tử
vong. Như vậy, so với các loại TNTT khác như vật
sắc nhọn, động vật cắn. TNTT liên quan đến máy
nông nghiệp có tỷ suất thấp hơn nhưng hậu quả về
sức khỏe cho người lao đông lại trầm trọng hơn rất
nhiều. Nhận đònh này cũng tương tự như kết quả của
một số nghiên cứu khác [9,10,14]. Để phòng tránh
loại TNTT này, việc tập huấn, hướng dẫn cho người
nông dân về an toàn trong sử dụng máy nông nghiệp
là hết sức cần thiết [4].
Hai công đoạn canh tác có tỷ lệ mắc TNTT
nhiều nhất và cao vượt trội so với các công đoạn của
trồng cà phê là chăm sóc và tạo hình, đây là hai
công đoạn chính. Trong các công đoạn này, người
nông dân phải sử dụng các phương tiện lao động như
cuốc, dao, kéo tỉa cành để làm việc; phải dành
nhiều thời gian làm việc tại rẫy cà phê hơn nên tần
suất mắc TNTT sẽ nhiều hơn các công công đoạn
khác. Công đoạn vận chuyển và thu hoạch thường
gây ra do ngã và mang vác nặng.
Cần cung cấp thông tin cho người nông dân
trồng cà phê về các nguyên nhân và nguy cơ mắc
TNTT, đặc biệt là TNTT do vật sắc nhọn, động vật
cắn và ngã, và hai công đoạn hay mắc TNTT nhất
đó là chăm sóc và tạo hình.
Truyền thông nâng cao hiểu biết của người dân
về thực hành phòng tránh TNTT trong lao động
trồng cà phê như tăng cường sử dụng BHLĐ và an

hành. 786, tr. 6.
7. Nguyễn Thò Thơm (2009). Tình hình công tác ATVSLĐ
trong sản xuất nông nghiệp và vai trò của Hội Nông dân Việt
nam, Ban xã hội - Dân số- Gia đình. Trung ương Hội Nông
dân Việt Nam, Hà Nội.
8. Đinh Hạnh Thưng (2009). An toàn vệ sinh lao động đối
với lao động nông nghiệp. Tài liệu hội thảo an toàn vệ sinh
lao động đối với lao động nông nghiệp ở Việt Nam. Hội An
toàn vệ sinh lao động Việt Nam, Hà Nội.
9. Báo cáo điều tra Đánh giá tình hình vệ sinh an toàn lao
động trong nông nghiệp tại Việt Nam (2006). Cục An toàn
lao động - Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Hà Nội.
Tiếng Anh
10. Mukherjee Amitawa, Chang Ping (2008). Agricultural
Machinery Safety - a Pepertual theme of human society.
11. Canadian Center for Occupational Health and Safety
(2009).s Avoiding Harm on the Farm, Health and Safety
Report.
12. Farmers' risk of fatal accidents at work has fallen by
nearly one-fifth in ten years (2008). Occupational accident
statistics 2008, Statistics Finland
13. Adarsh Kumar, J.K. Singh, Dinesh Mohan, Mathew
Varghese (2008). "Farm hand tools injuries: A case study
from northern India", Safety Science. 46(1), tr. 10.
14. SK Patel, M.R. Varma, Adarsh Kumar (2010).
"Agricultural injuries in Etawah district of Uttar Pradesh in
India", Safety Science(48), tr. 8.
15. Gopinath R. Narasimhan, Yingwei Penga, Trever G.
Crowe, Louise Hagel, James Dosmand, William Picketta
(2010). "Operational safety practices as determinants of


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status