LUẬN VĂN:
Thực trạng cũng như những mặt
được và chưa được của chương
trình cổ phần hóa
Lời nói đầu
Đại hội VI (năm 1986), tiếp đó là các Đại hội VII và VIII của Đảng đã đề ra đường
lối đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nước, trong đó đổi mới về kinh tế là nhiệm vụ trọng
tâm và đổi mới hệ thống doang nghiệp Nhà nước (DNNN) là khâu đột phá. Trong 10 năm
qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, các cơ quan Đảng và Nhà nước ở Trung ương
đã ban hành trên 200 văn bản về sắp xếp lại và đổi mới cơ chế quản lý các DNNN. Đến
nay hệ thống DNNN đã được sắp xếp lại một bước khá căn bản, đã giảm quá nửa số doanh
nghiệp (những doanh nghiệp nhỏ bé và yếu kém) và số doanh nhiệp còn lại được củng cố
một bước, cơ chế quản lý mới được hình thành, ngày càng hoàn thiện giúp các DN chuyển
đổi và thích nghi dần với các quy luật của kinh tế thị trường trong bối cảnh nền kinh tế mở,
hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế.
Trước những yêu cầu to lớn của CNH, HĐH đất nước và cạnh tranh trên thị trường ngày
càng gay gắt, cần tiếp tục đổi mới các DNNN. Công việc này gồm hai nội dung lớn: sắp
độc lập. Đây là hình thái phổ biến thống trị trong nền sản xuất hàng hoá nhỏ và trong giai
đoạn đầu của CNTB cạnh tranh tự do. ở đó, sở hữu của người chủ tư nhân được duy trì và
phát triển bằng lao động của bản thân hoặc thuê mướn với vốn liếng sẵn có và sự tính toán
của người chủ sở hữu trên cơ sở những đòi hỏi của thị trường. Mục đích phương thức kinh
doang của những người sản xuất hàng hoá nhỏ chỉ là sự duy trì và bảo toòn mối quan hệ
của họ đối với tư liệu sản xuất như người chủ sở hữu. Phương thức này có đặc điểm người
sử hữu đồng thời là người lao động và người đó chỉ có thể làm giàu bằng lao động của
chính mình. Do vậy, sự phát triển sản xuất có được rất chậm chạp, quy mô mở rộng từ từ
tuỳ theo sự phát triển của thị trường của từng địa phương và khu vực.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, lưu thông tiền tệ cũng
ngày càng phát triển cho phép đẩy nhanh và mở rộng quá trình trao đổi thanh toán cũng
như tích trữ tiền tệ như là hình thái và mục đích tự thân của sự vận động sở hữu và điều đó
góp phần làm thay đổi dần dần bản chất của phương thức kinh doanh này.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa thì sự phân công lao động xã hội
ngày càng sâu sắc làm cho mối quan hệ giữa những người sản xuất ngày càng phụ thuộc vào nhau. Trình độ phân công lao động xã hội phản ánh trình độ xã hội hoá sản xuất, do đó
khi sự xã hội hoá sản xuất càng cao thì nhu cầu trao đổi mua bán hàng hoá để duy trì
quyền chiếm hữu đối với tư liệu sản xuất, đặc biệt là những người sản xuất nhỏ ngày càng
lớn. Vì vậy, mặc dù tư bản thương nghiệp đã ra đời trước CNTB nhưng phải đến CNTB nó
mới phát triển mạnh mẽ với tư cách là để phục vụ cho quá trình lưu thông. Tư bản thương
nghiệp từ chỗ là trung gian môi giới giữa những người sản xuất nhỏ và thị trường đã xâm
nhập vào toàn bộ sản xuất, bắt nó phục vụ cho mục đích tư bản. Như vậy, tư bản thương
nghiệp đã góp phần phá vỡ phương thức sản xuất nhỏ, hình thành phương thức sản xuất
TBCN. Song song với tư bản thương nghiệp thì tư bản cho vay nặng lãi cũng có cơ hội
phát triển mạnh vào thời kỳ này do yêu cầu mở rộng sản xuất. Tư bản cho vay nặng lãi đã
tham gia tích cực vào việc làm người sản xuất hàng hoá nhỏ ngày càng mắc nợ nhiều hơn
và dần dần mất phương tiện để duy trì tái sản xuất bình thường. Chế độ tư hữu có được
nhờ lao động của bản thân, gắn chặt người lao động cá thể độc lập với những điều kiện lao
nên không kinh doanh quy mô lớn. Do đó ít có cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh nên bị
thu hẹp về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Ngoài hình thái kinh doanh HTX của những người sản xuất nhỏ còn có hình thái
kinh doanh Công ty chung vốn của các nhà tư bản với mục đích giành chiến thắng trong
cạnh tranh, giảm sức ép của tín dụng ngân hàng và các hình thức vay mượn khác. Đặc
điểm chung của loại hình công ty này là góp vốn thiên về thân nhân, trách nhiệm pháp lý
vô hạn và cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đơn giản. Vì vậy, vào thời kỳ đầu của sự phát triển
phương thức sản xuất TBCN khi mà cạnh tranh còn đang thống trị thì loại hình này rất
được ưu chuộng, nó phản ánh một bước tiến của chế độ tín dụng. Tuy nhiên sau này do
trách nhiệm pháp lý không hạn chế trong lĩnh vực kinh doanh chung vốn làm cho nó mang
tính mạo hiểm quá cao, do đó rất khó khăn trong việc huy động một số vốn lớn. Thêm nữa
sự ràng buộc của nó hết sức lỏng lẻo có thể bị giải tán bất cứ lúc nào nếu một người chung
vốn muốn rút lui. Những hạn chế này làm cho hình thái Công ty chung vốn cũng bị thu
hẹp dần về những ngành kinh doanh nhỏ lẻ, nhường chỗ cho các hình thức Công ty cổ
phần ra đời.
Sự ra đời và phát triển của chế độ tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và
tập trung tư bản bằng việc đẩy nhanh quá trình tuần hoàn và chu chuyển các loại vốn, tăng
nhanh quy mô sản xuất và thúc đẩy quá trình xã hội hoá sở hữu trong nền kinh tế thị
trường TBCN. Đồng thời nó đã tạo cơ sở cho việc hình thành thị trường vốn đầu tư và thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời của các
Công ty cổ phần. Sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán đã giúp cho các công
ty mở rộng và xâm nhập ngày càng mạnh mẽ ra hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế
TBCN.
Công ty cổ phần ra đời đánh dấu sự chuyển hướng nền kinh tế từ trạng thái vay mượn
chủ yếu qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính. Sự
phồn vinh của các Công ty cổ phần luôn đảm bảo cho sự thịnh vượng của thị trường tài
chính, ngược lại sự phát triển của thị trường tài chính luôn tạo điều kiện cho các Công ty
cổ phần sinh sôi nảy nở.
phép huy động một số vốn lớn trong xã hội bằng cách có thể định giá cổ phiếu thấp để khai
thác được cả những số tiền tiết kiệm nhỏ nhất trong công chúng. Việc mua cổ phiếu không
những mang lại lợi tức cổ phần mà còn hứa hẹn những khoản thu nhờ việc gia tăng giá trị
cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả. Ngoài ra các cổ đông có quyền được tham gia
quản lý theo điều lệ của công ty và được pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho quyền sở hữu
của cổ đông trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn, thêm nữa cổ đông có quyền được ưu đãi
trong việc mua những cổ phiếu mới phát hành trước khi chúng được đem bán rộng rãi cho
công chúng.
Do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý mà những người đóng vai trò sở
hữu trong công ty cổ phầnkhông trực tiếp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác chức năng đó
cho bộ máy quản lý của công ty. Bản thân công ty được pháp luật thừa nhân như một pháp
nhân độc lập tách rời với các cá nhân góp vốn và kiểm soát nó. Nhờ đó, công ty cổ phần
tiến hành tất cả các hoạt động kinh doanh dưới danh nghĩa của chính mình và nhận trách
nhiệm đến cùng với các cam kết tài chính của công ty.
Trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần có Đại hội cổ đông - có quyền quyết định
tối cao: bầu hoặc bãi miễn Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị - có trách nhiệm phân chia
lợi nhuận, sửa đổi Điều lệ công ty, bảo toàn và phát triển giá trị các khoản vốn đầu tư của
cổ đông Ban giám đốc có trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động quản lý kinh doanh.
Cổ đông cũng có thể bầu ra Ban kiểm soát thực hiện việc kiểm tra giám sát hoạt động của
công ty để bảo vệ lợi ích cho những người góp vốn. Chính vì những ưu việt của mình về trách nhiệm pháp lý, cơ cấu tổ chức chặt chẽ, rõ
ràng mà hình thái Công ty cổ phần ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trong nền
kinh tế thị trường khi có sự phát triển của thị trường chứng khoán - giúp việc giao dịch
mua bán cổ phiếu, trái phiếu trở nên vô cùng dễ dàng. Công ty cổ phần và thị trường
chứng khoán vừa duy trì được sự ổn định của doanh nghiệp vừa tạo nên sự di chuyển linh
hoạt của các luồng vốn xã hội. Ngày nay, hàng ngàn tập đoàn công ty khổng lồ được hình
thành theo hình thái Công ty cổ phần đã góp phần tạo nên sức mạnh kinh tế của một quốc
gia (do biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nhanh chóng phát triển lực lượng sản
được nhưng tốc độ tăng trưởng không đều giữa các ngành và chưa tạo ra sự liên kết phát
triển bền vững.
Thông thường các DNNN có quy mô nhỏ bé và dàn trải vè ngành nghề. Đến nay cả
nước có khoảng 5.280 doanh nghiệp, bình quân mỗi doanh nghiệp chỉ có 22 tỉ đồng
(khoảng 1,5 triệu USD). trong đo số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỉ đồng (khoảng 350
nghìn USD) chiếm tới 65,45%, số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỉ đồng (trên 700 nghìn
USD) chỉ chiếm dưới 21%. Đặc biệt số doanh nghiệp do địa phương trực tiếp quản lý quy
mô còn nhỏ bé hơn nhiều, trong đó số doanh nghiệp có vốn dưới 1tỉ đồng (khoảng 70
nghìn USD) còn chiếm hơn 30%. Nhiều doanh nghiệp cùng loại thì hoạt động trong tình
trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, cấp quản lý và trên cùng một địa bàn tạo ra
sự cạnh tranh khônh đáng có. Do dàn trải về ngành nghề từ sản xuất đến thương mại và
dịch vụ, manh mún về vốn trong khi vốn đầu tư của Nhà nước rất hạn chế đã gây chi phối
xé lẻ các nguồn lực kể cả hoạt động quản lý của Nhà nước, không tập trung được cho
những ngành lĩnh vực then chốt.
Thiếu vốn cũng là nguyên nhân làm cho công nghệ của chúng ta không cải thiện
được, dẫn đến năng lực cạnh tranh kém: sản phẩm làm ra thường kém chất lượng, giá cả
lại cao, không có thị trường tiêu thụ (chỉ khoảng 15% đạt chất lượng xuất khẩu) nên cũng
thua thiệt trong hội nhập về kinh tế với khu vực và thế giới. Các máy móc, thiết bị được
trang bị thường nhập từ nhiều nước với các chủng loại và thế hệ rất khác nhau. Theo kết
quả khảo sát của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thì dây chuyền sản xuất, máy
móc thiết bị của ta lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ
30 đến 50%, có tới 38% ở dạng phải thanh lý. Do nhiều lý do khác nhau không ít trường
hợp chúng ta nhập khẩu những máy móc không đúng tiêu chuẩn và quy cách, thường là
công nghệ thải của các nước phát triển được tân trang lại. Hơn nữa, việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề chưa
được chú trọng hoặc chưa phù hợp với xu thế phát triển, chưa có những ràng buộc về mặt
lợi ích để người lao động phát huy hết khả năng của mình, đặc biệt là tình trạng tham
nhũng, lãng phí rất khó kiểm soát đang là những nhân tố làm khu vực kinh tế Nhà nước
Với mục tiêu nhất quán của CPH một bộ phận DNNN là huy động vốn của toàn xã
hội để đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm
chủ doanh nghiệp, tạo động lực bên trong thay đổi phương thức quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời làm tăng tài sản và thay đổi cơ cấu
doanh nghiệp, thì CPH đang được coi là yêu cầu cấp bách của cải cách DNNN cần tiến
hành liên tục, có hiệu quả.
1.4. Kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số nước.
Tuy nhiên qua kinh nghiệm một số nước ta thấy rằng CPH là quá trình vô cùng khó
khăn, phức tạp không thể thực hiện ào ạt thiếu thận trọng. Từ đầu thập kỷ 90 đã diễn ra
một quá trình chuyển đổi mạnh mẽ nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị
trường ở Đông âu, Liên Xô (cũ) và một số nước Châu á, mà song song với nó là quá trình
cải cách các doanh nghiệp, trong đó có CPH. Nhìn chung các nước này đều tiến hành theo
một trong hai mô hìnhlà: mô hình liệu pháp sốc (chủ yếu ở Nga) và mô hình chuyển đổi
dần dần (chủ yếu ở Trung Quốc).
Theo mô hình liệu pháp sốc các nước đều nhanh chóng tư nhân hoá mạnh mẽ các
DNNN. Họ cho rằng việc tư nhân hoá mạnh mẽ các DNNN sẽ rthúc đẩy đầu tư trên toàn
xã hội, các doanh nghiệp sau khi tư nhân hoá sẽ hoạt động với hiệu quả và chất lượng tốt
hơn. Nhưng kết quả ở một số nước chuyển đổi theo mô hình này lại trái ngược với sự
mong đợi của các nhà cải cách cũng như hy vọng của chính người dân các nước này. Có
thể rút ra một số đánh giá chủ yếu sau: do tư nhân hoá quá nhanh các DNNN đã dẫn đến
hậu quả không lường trước là sản xuất công nghiệp nhanh chóng bị đình đốn, giảm sút và
rối loạn; các sản phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ nhân dân trở nên hết sức khan hiếm,
lạm phát, thất nghiệp tăng lên, đời sống đa số người lao động lâm vào cảnh khó khăn; do
không ổn định cả về kinh tế , chính trị và xã hội nên đầu tư trên toàn xã hội không tăng mà
lại giảm đi. Như vậy, hy vọng vào sự xút hiện các doanh nghiệp tư nhân hoạt động có hiệu quả để bù đắp sự thiếu hụt này đã không diễn ra trong phút chốc mà đòi hỏi phải có thời
gian và quá trình tích luỹ kinh nghiệm.
Ngược lại ở một số nước Châu á tiêu biểu là Trung Quốc, quá trình này được tiến
(tháng 11/1991)đã ghi: “chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công
ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo
chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp”.
- Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá 7 (tháng1/1994) chỉ rõ
CPH nhằm thu hút thêm vốn cho doanh nghiệp.
- Nghị quyết Bộ chính trị về tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chỉ đạo của DNNN
(số 10 NQ/TW) đã chỉ rõ: tuỳ tính chất loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán một tỷ lệ
cổ phần cho cán bộ công nhân viên và bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân ngoài doanh
nghiệp”.
- Thông báo số 63 TB/TWngày 4/4/1991 của Bộ chính trị khẳng định tiếp tục triển
khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới.
- Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội Khoá VIII ngày 26/12/1991 về nhiệm vụ phát
triển kinh tế xã hội 5 năm 1991- 1995 đã ghi: “Thí điểm về việc cổ phần hoá một số cơ sở
kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển”.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các văn bản:
- Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ
tướng chính phủ) về tiếp tục thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần. - Quyết định số 203/CT ngày 8/6/1992 chọn 7 DNNN do Chính phủ chỉ đạo thí điểm
và giao nhiệm vụ cho mỗi bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn từ 1 đến
2 doanh nghiệp thí điểm chuyển thành công ty cổ phần.
- Chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc xúc tiến thực
hiện thí điểm CPH doanh nghiệp nhà nước và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu
đối với các DNNN.
- Nghị định số 28/CPngày 7/5/1996 của Chính phủ về chuyển một số DNNN thành
công ty cổ phần.
- Nghị định số 25/CP ngày 26/3/1997 của Chính phủ về sửa đổi một số điều của Nghị
định số 28/CP ngày 7/5/1996.
- Chỉ thị số 658/TTg ngày 20/8/1997 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy triển khai
Phòng) và Công ty Gạch Bông Đức Tân (TP HCM).
Sau 4 năm thực hiện đã đúc rút được một số kinh nghiệm để bổ sung và sửa đổi chế
độ về CPH, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ra Nghị quyết số 28/CP thay cho Nghị quyết số
202/CT với những quy định cụ thể rõ ràng hơn. Thực hiện Nghị định 28/CP công tác CPH
đã được quan tâm hơn, các ngành các cấp đã triển khai một số việc sau:
- Củng cố tổ chức, bổ sung thành viên vào Ban Chỉ đạo CPH, kiện toàn và thành lập
các Ban Chỉ đạo CPH ở địa phương.
- Một số bộ, địa phương đã tổ chức hội nghị truyền đạt chủ trương, chính sách về
CPH DNNN cho đội ngũ cán bộ chủ chốt như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
Bộ Thuỷ sản, Bộ Xây dựng, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Bình Định, tỉnh Quảng Ninh Tuy
nhiên, còn nhiều địa phương và ngành chưa chú ý đến công tác tuyên truyền, hướng dẫn,
giải thích cho cán bộ, người lao động trong doanh nghiệp hiểu chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước. Đây là i trong những nguyên nhân gây chậm chễ trong quá trình triển
khai thực hiện CPH doanh nghiệp. Đến đầu năm 1998 có 36 tỉnh, thành phố, bộ, ngành và các Tổng Công ty 91 đã đăng
ký hơn 200 doanh nghiệp thực hiện CPH chiếm 3% số DNNN.
Từ khi có Nghị định số 28/CP, đã thực hiện CPH được 13 doanh nghiệp, số doanh
nghiệp đang tiến hành ở các bước xác định giá trị doanh nghiệp, kiểm toán là 30 doanh
nghiệp. Đầu năm 1998 có khoảng18 doanh nghiệp thực hiện CPH chuyển sang hoạt động
theo Luật Công ty. Trong số 18 doanh nghiệp có 1 doanh nghiệp Nhà nước không nắm giữ
cổ phần là Công ty Đầu tư sản xuất và Thương mại Hà nội (Xí nghiệp Mộc). Còn lại 17
công ty cổ phần, Nhà nước nắm ít nhất 18%, cao nhất là 51% cổ phần Công ty; Cổ đông
do người lao động trong công ty chiếm từ 18 - 50%; cổ phần còn lại là do cổ đông ngoài xã
hội nắm giữ. Hầu hết các công ty này sau khi chuyển sang Công ty Cổ phần đều kinh
doang phát triển, có tiến bộ về mọi mặt, Nhà nước và doanh nghiệp đều có lợi.
Sau một thời gian thí điểm và rút kinh nghiệm, tại Thông báo số 63/TB-TU ngày
4/4/1997, Bộ Chính trị đã tổng kết và cho ý kiến chỉ đạo tiếp tục triển khai vững chắc CPH
doanh nghiệp nhà nước. Ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
2.2. Những thành tựu đạt được.
Tính đến giữa quí III năm 2000, cả nước ta đã có 451 doanh nghiệp nhà nước được
CPH, một con số còn ít so với mục tiêu đặt ra. Theo dự kiến của Chính phủ thì cuối năm
2000 sẽ có khoảng 1.000 DNNN chuyển sang hình thức Công ty Cổ phần. Kết quả nghiên
cứu, tổng kết thực tiễn ở một số doanh nghiệp điển hình trước và sau khi CPH đã chứng tỏ
rằng CPH là một chủ trương đúng. Mục tiêu của chủ trương này là huy động thêm vốn, đổi
mới phương thức quản lý để tăng hiệu quả kinh tế, tạo động lực cho sự phát triển, qua đó
cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước, xác định quyền làm chủ thật sự của người lao động
trong doanh nghiệp. Đánh giá về thành công của chủ trương này ta hãy xem xét những
mục tiêu đạt được:
- Về huy động vốn: theo tính toán của các nhà kinh tế, trong dân hiện còn một nguồn
vốn nhàn rỗi khoảng 8 tỷ $.Cổ phần hóa chính là biện pháp có hiệu quả để huy động nguồn
vốn này cho phát triển kinh tế nếu doanh nghiệp hoạt động sản xuất có hiệu quả. Đây
không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là một chiến lược lâu dài. Thống kê 451 DNNN
cổ phần hoá có giá trị phần lớn vốn nhà nước là 1.649 tỷ đồng qua CPH đã thu thêm được
1.432 tỷ đồng của các cá nhân, pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau đầu tư
vào. Đồng thời thông qua việc bán cổ phiếu, Nhà nước đã thu lại 814 tỷ đồng để đầu tư
vào các DNNN khác và dùng vào việc giải quyết chính sách cho người lao động trong DNNN thực hiện CPH. Về số tuyệt đối thì đây chưa phải là lớn, nhưng về mặt tỷ lệ thì rất
đáng kích lệ.
Phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp khi CPH được xác định lại, nhìn chung đều
tăng lên từ 10-15% so với giá trị ghi trên sổ sách. Như vậy, khi thực hiện CPH, vốn của
nhà nước tại các doanh nghiệp CPH không mất đi mà được tăng lên, hơn nữa còn thu hút
thêm được một nguồn vốn nhàn rỗi trong dân.
Tuy nhiên, số lượng 451 DNNN cổ phần hóa mới chỉ chiếm 7% tổng số DNNN hiện
có. Số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp CPH so với tổng số vốn nhà nước tại các DNNN
hiện nay chỉ chiếm gần 1%. Điều này cho thấy số lượng doanh nghiệp và số vốn nhà nước
CPH còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chưa có tác động đáng kể đến việc cơ cấu lại vốn của khu
CPH là 55 tỷ đồng.
- Về lợi tức cổ phần: bình quân đạt từ 1-2%/tháng. Trong điều kiện nền kinh tế nước
ta đang phải chịu sức ép lớn từ cuộc khủng hoảng khu vực thì mức độ lợi tức cổ phần như
vậy là cao và được các cổ đông chấp nhận.
- Về vốn: tăng gần 2.5 lần so với trước CPH, nổi bật nhất là Công ty Chế biến hàng
xuất khẩu Long An, tổng số vốn tăng 5 lần.
- Về nộp ngân sách: tăng bình quân 2 lần so với trước khi CPH. Điển hình là Công
ty Cơ điện lạnh TP HCM tăng gần 3 lần.
Một số Công ty Cổ phần khác, do những khó khăn về thị trường nên doanh số, lợi
nhuận, nộp ngân sách chưa tăng nhưng sau khi CPH nền nếp, kỷ cương trong quản lý đã
được thiết lập lại. Chẳng hạn như Công ty Cổ phần Thiết bị thương mại (Bộ Thương mại)
khi mới hoạt động gặp phải bất lợi do thị trường khó khăn làm giá thành sản phẩm tăng
không bán được nhiều ra thị trường, Công ty đã điều chỉnh những khâu bất hợp lý và do đó
đã đạt được những thành công: giảm giá thành, doanh số , tiền lương, các chỉ tiêu nộp
ngân sách bảo đảm, lợi tức cổ phần đạt 16%/năm.
- Về việc làm và thu nhập cho người lao động. Đây là vấn đề khiến người lao động
vô cùng băn khoăn, lo lắng khi chuyển sang Công ty Cổ phần. Họ không lo lắng sao được
khi chưa biết rõ ngày mai mình sẽ sống ra sao, có được tiếp tục làm việc hay không, thu
nhập có giảm không, quyền dân chủ có được bảo đảm không. Bởi họ nghĩ rằng khi đã là
doanh nghiệp cổ phần, tài sản trong doanh nghiệp không còn hoàn toàn của Nhà nước, các
ông chủ mới là người nắm trong tay đa số cổ phiếu của công ty, họ có thể chỉ chạy theo lợi nhuận, sa thải công nhân mà không một đoàn thể nào bảo vệ họ. Nhưng trên thực tế, hầu
như không có một công ty cổ phần sa thải vô lý công nhân, không những thế thu nhập và
việc làm của họ luôn ổn định và có xu hướng tăng lên. Do luôn luôn phải mở rộng sản xuất
kinh doanh bảo đảm sự phát triển nên các doanh nghiệp này đã tạo thêm nhiều việc làm,
lao động tăng bình quân 12%, thu nhập của người lao động tại các công ty cổ phần tăng
bình quân hàng nămgần 20% (chưa kể cổ tức). Năm 1999 thu nhập của công nhân viên
Công ty Cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển đạt 4trđồng/người/tháng, gấp gần 3 lần so
thành viên được CPH tính độc lập sẽ cao hơn, ít lệ thuộc vào Tổng Công ty hơn. Cũng có
những đơn vị có đề án tổng thể sắp xếp lại DNNN trong phạm vi quản lý nhưng lại không
có chương trình kế hoạch cụ thể, việc triển khai mang tính chất đối phó, hình thức.
Ngay cả Ban Chỉ đạo CPH ở Trung ương và địa phương do phải kiêm nhiệm nhiều
việc nên chưa tập trung vào công tác chỉ đạo dẫn đến công việc bị chậm trễ, kéo dài.
Ban Chỉ đạo CPH Trung ương không đủ thẩm quyền quyết định trực tiếp các đề án, kế
hoạch CPH DNNN, chỉ có nhiệm vụ hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và giám sát các Bộ, ngành,
địa phương thực hiện CPH nên tính hiệu quả của CPH chưa cao.
Hơn nữa việc tuyên truyền quán triệt tư tưởng chỉ đạo về CPH trong nội bộ các cấp
có thẩm quyền, tới cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp được CPH, tới người dân
còn bị xem nhẹ, đặc biệt là ở các khâu trung gian như sở, ban ngành, Tổng Công ty. Chưa
có một chế tài cụ thể đối với việc chấp hành chủ trương CPH, thậm chí có nơi không triển
khai cũng không sao. Do đó chưa tạo được sự quan tâm và hưởng ứng tích cực của toàn xã
hội đối với chủ trương CPH.
Ngoài các lý do trên còn một nguyên nhân khác , đó là căn bệnh nằm ngay trong nội
tại các doanh nghiệp CPH. Trước hết là tình trạng tài chính nhập nhèm, nợ đọng dây dưa,
nhiều năm không quyết toán được. Giá trị doanh nghiệp cũng là một vấn đề. Hầu hết ở các
doanh nghiệp, giá trị được phán ánh trên sổ sách khác xa với giá trị thực của doanh nghiệp.
Không ít người đã khai thác triệt để sự không rõ ràng của hệ thống tài chính doanh nghiệp
để mưa lợi cho bản thân. Chính vì vậy mà không phải ai cũng sẵn sàng chữa trị căn bệnh
này. 2.4. Quan điểm và giải pháp để xúc tiến cổ phần hóa.
Để khắc phục những hạn chế và nguyên nhân gây ảnh hưởng chậm tới quá trình
CPH, Chính phủ đã nhấn mạnh công tác CPH và chuyển đổi hình thức sở hữu DNNN nói
chung phải được đặt ở vị trí trung tâm trong lộ trình đổi mới và sắp xếp lại DNNN. Chính
phủ đã có những nhắc nhở, phê bình kịp thời trong việc triển khai thực hiện CPH.
Tiếp theo Quyết định số 51/2000/QĐ-TTg, ngày 7/7/2000, Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 80/2000/QĐ-TTg về giao chỉ tiêu CPH và đa dạng hoá hình thức sở hữu
phù hợp với yêu cầu và những vấn đề đặt ra trong CPH: từ đối tượng, chính sách đối với
doanh nghiệp và người lao động, đồng thời cần xem xét mối quan hệ giữa giai cấp công
nhân với nông dân, đảm bảo sự công bằng xã hội, có chính sách hỗ trợ những người có thu
nhập thấp, giảm bớt chênh lệch giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp
trong doanh nghiệp.
- Chính phủ giao nhiệm vụ và phân cấp mạnh cho các bộ, ngành Trung ương và
UBND tỉnh, thành phố xử lý các vấn đề cụ thể nẩy sinh, giải quyết nhanh các yêu cầu
không cần phải chờ đợi kéo dài.
Các ngành, các địa phương cần tiến hành phân loại sắp xếp DNNN do mình quyết
định thành lập, phân loại thành:
+ Trước mắt là một số ít các doanh nghiệp nhà nước cần giữ 100% vốn Nhà nước
hoặc có cổ phần chi phối mà các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không có khả
năng đầu tư vốn.
+ Các doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 1 tỷ đồng làm ăn thua lỗ triền miêm thì
cho thuê, sát nhập, bán, giao cho công nhân sử dụng hoặc phá sản.
+ Các doanh nghiệp còn lại không phụ thuộc qui mô, ngành nghề đều thuộc diện
CPH với bước đi thích hợp.
- Các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố chưa thành lập Ban Chỉ đạo CPH cần khẩn trương
thành lập ngay như các văn bản hướn dẫn của Trung ương. Riêng một số Bộ và các thành
phố lớn có thành lập Ban Chỉ đạo CPH hoạt động theo chế độ chuyên trách để giúp UBND
thành phố và Bộ giải quyết các công việc về CPH.
- Hoàn thiện hệ thống Luật doanh nghiệp và các Luật khác có liên quan. Cần quán
triệt các tư tưởng mới của Luật doanh nghiệp đến các cơ quan chức năng. Bởi vì các DNNN sau khi được chuyển đổi sẽ được điều chỉnh theo luật này, thế nhưng không ít các
cơ quan chức năng vẫn còn sử dụng những qui định cũ đã lỗi thời để gây khó khăn cho các
hoạt động của doanh nghiệp.
- Tiếp tục đẩy nhanh quá trình CNH,HĐH, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ
khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý, trình độ dân trí làm cơ sở cho CPH đi lên.