LUẬN VĂN: Quản trị hoạt động bán hàng cá nhân đối với mặt hàng ôtô ISUZU trên thị trường miền Trung của Công ty Cơ khí Ôtô và Thiết bị Điện Đà Nẵng - Pdf 12

LUẬN VĂN:

Quản trị hoạt động bán hàng cá nhân đối với
mặt hàng ôtô ISUZU trên thị trường miền
Trung của Công ty Cơ khí Ôtô và Thiết bị
Điện Đà Nẵng

Lời nói đầu
“ Thuật ngữ đại diện bán hàng “ đã bao trùm rất nhiều chức vụ khác nhau của
nền kinh tế , khi nói đến nó là nói đến những con người đại diện cho một Doanh Nghiệp
một tổ chức nào đó, đến để giao tiếp, để “Bán những cái đã được sản xuất và bán những
cái khách hàng cần”. Để đưa một món hàng đến tay người nhận sẽ có rất nhiều cách, và
bán hàng cá nhân là một trong những cách đưa sản phẩm đến tiếp cận với người có nhu
cầu về nó một cách hiệu quả nhất. Và trong ngày nay bán hàng cá nhân trở thành một
hoạt động vô cùng quan trọng, nó giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu kinh
doanh của mình. Tuy mỗi người có một cách khác nhau để bán được sản phẩm của
mình nhưng nó vẫn được đi theo một quy trình cụ thể, dù dưới hình thức này hay hình
thức khác, đó chính là các nguyên tắc để quản trị bán hàng cá nhân một cách có hiệu
quả. Thông qua “Quản trị bán hàng cá nhân” nó sẽ giúp doanh nghiệp quản lý tốt được
lực lượng bán hàng của mình đồng thời có thể bán được các sản phẩm của doanh nghiệp
một cách nhanh nhất, và nhiều nhất. Vì vậy có thể khẳng định rằng Marketing là một
hoạt động không thể thiếu của các doanh nghiệp.
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cơ khí Ôtô và Thiết bị Điện Đà Nẵng mà cụ
thể là bộ phận đại lý ôtô ISUZU DAMEFA tôi nhận thấy rằng cần phải có một số các
giải pháp nhằm giúp cho hoạt động bán hàng và công tác quản trị nó có thể hoạt động

nói chung và cả trong xã hội phát triển theo định hướng tiêu dùng. Marketing có ảnh
hưởng cả đối với người sản xuất, người tiêu dùng và không một cá thể nào có thể tồn tại
biệt lập với nền sản xuất hiện hành và cả đối với xã hội mà họ đang sống. Người sản
xuất thì muốn tạo ra nhiều lợi nhuận, người bán cũng muốn có được nhiều lợi ích, người
tiêu dùng thì muốn mua được những sản phẩm, dịch vụ hợp với nhu cầu và khả năng
thanh tóan của mình, và ngay cả nhà chính trị cũng muốn tập hợp những người ủng hộ
mình Như vậy khi muốn tồn tại tất cả mọi người đều sử dụng những cách thức nào đó
để thực hiện mục tiêu của mình, điều đó có nghĩa là họ đã thực hành hay tiếp xúc với
Marketing
Riêng trong kinh doanh, hoạt động Marketing sẽ cung cấp những thông tin cần
thiết cho sản xuất, giúp đỡ một cách chắc chắn cho quyết định chọn sản xuất loại sản
phẩm nào và tìm ra cách bán sản phẩm đó đến người tiêu dùng một cách nhanh hơn,
nhiều hơn. Quá trình này liên hệ mật thiết với quá trình sản xuất và cùng với quá trình
sản xuất đó thì marketing đáp ứng 5 tiêu chuẩn kinh tế có biểu thị độ thỏa mãn của nhu
cầu người tiêu dùng: dạng thức, thời gian , địa điểm, tài sản có ích và thông tin.
Như vậy, trong kinh doanh: “Marketing là tập hợp các hoạt động của doanh
nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu thông qua quá trình trao đổi,
giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận“.
Tuy nhiên dưới mỗi góc độ nhìn nhận khác nhau thì sẽ có những nhận định khác
nhau về marketing, rất nhiều người thường cho rằng marketing chỉ là bán hàng và quảng
cáo hay tiêu thụ và kích thích tiêu thụ. Đó thực sự là các phần việc của marketing,
nhưng marketing có phạm vi rộng lớn hơn. Nó bao gồm những hoạt động được tiến
hành trước khi sản xuất, trong quá trình sản xuất, trong khâu tiêu thụ và ngay cả trong
giai đoạn sau khi bán. Về thực chất marketing là các hoạt động kinh doanh nhằm hướng
luồng hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng và thông qua quá trình
này, các doanh nghiệp thành công sẽ thu được lợi nhuận. Xong để đạt được mục đích đó
thì hoạt động marketing phải thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hay marketing là hướng việc
điều chỉnh sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với nhu cầu.
Như vậy marketing là gì? Khi bàn về marketing thì đã có rất nhiều nhận định
được đưa ra để khái niệm vấn đề này:

marketing là một quá trình quản lý, thúc đẩy một cách tốt hơn lĩnh vực này.
1.2. Vai trò của marketing trong hoạt động kinh doanh:
1.2.1. Vai trò của marketing đối với doanh nghiệp:
Nếu hiểu theo nghĩa rộng: toàn bộ các hoạt động kinh doanh là hoạt động
marketing từ lúc hình thành ý tưởng sản xuất của một loại hàng hóa, đến khi triển khai
sản xuất và tiêu thụ để hàng hóa đó thực sự được đưa ra thị trường, thì việc quảng cáo,
xúc tiến bán, định giá và phân phối được xem là những chức năng cơ bản để tiêu thụ
hàng hóa đó. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp phải làm marketing nếu muốn kinh
doanh thực sự trong cơ chế thị trường, qua đó ta thấy được vai trò của marketing trong
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thứ nhất: Marketing có vai trò giúp cho doanh nghiệp tồn tại lâu dài và vững
chắc trên thị trường, nó cung cấp khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường
và môi trường bên ngoài. Do đó sự thành công của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào việc
họ có cung cấp cho thị trường đúng cái mà thị trường cần, phù hợp với mong muốn và
khả năng của người tiêu dùng hay không.
- Thứ hai: Marketing tạo sự kết nối các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với
thị trường trong tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất. Marketing cung cấp các
hoạt động tìm kiếm thông tin từ thị trường và truyền tin về cho doanh nghiệp để doanh
nghiệp nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, tiêu thụ sản phẩm, và cung cấp dịch vụ cho
khách hàng một cách phù hợp.
- Thứ ba: Marketing được coi là chức năng quản trị quan trọng nhất của doanh
nghiệp. Marketing có vai trò kết nối hoạt động của các chức năng khác với thị trường.
Nó định hường hoạt động cho các chức năng khác, như là: sản xuất, nhân sự, tài chính
theo những chiến lược đã định. Tất nhiên hoạt động marketing cũng chỉ có thể hoạt
động tốt nếu có sự phối hợp và ủng hộ của các bộ phận chức năng khác. Như vậy việc
kết nối hoạt động của các chức năng khác với thị trường và sự phối hợp giữa các chức
năng sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp trên thị trường và điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp
phát triển.
1.2.2. Vai trò của marketing đối với người tiêu dùng:
Theo quan điểm marketing hiện đại: hoạt động marketing không chỉ có lợi cho

- Quảng cáo: là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người và người mà
người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để
đưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin.
- Marketing trực tiếp: là hình thức sử dụng thư, điện thoại và những công vụ gián
tiếp khác để thông tin cho những khách hàng hiện có và khách hàng triển vọng hay yêu
cầu họ có phản ứng đáp lại.
- Xúc tiến bán: là những khích lệ ngắn gọn, là sự mời chào hay là hình thức
thưởng trong một thời gian ngắn để kích thích khách hàng hướng nhanh tới việc mua
hàng và sử dụng hàng.
- Tuyên truyền: là hoạt động bao gồm các chương trình khích khởi những nhu
cầu phi cá nhân cho sản phẩm, cho Công ty thông qua việc khuyếch trương những tin
tức có ý nghĩa thương mại về chúng.
- Bán hàng trực tiếp: là sự giao tiếp trực tiếp với khách hàng triển vọng nhằm
mục đích đẩymạnh mua hàng.
3. Bán hàng cá nhân:
3.1. Bán hàng cá nhân là gì?
“Bán hàng cá nhân là quá trình người bán tiếp xúc trực tiếp với khách hàng hiện
tại và khách hàng tiềm năng với mục đích bán cho họ những hàng hóa, dịch vụ mà họ
cần”
Như vậy cả người mua và người bán đều có lợi trong quá trình mua bán, trao đổi
này. Và những người trong lực lượng bán hàng có thể có những chức vụ, danh vị khác
nhau nhưng họ đều là những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và có trách nhiệm
trực tiếp về việc bán các sản phẩm, dịch vụ của Công ty, đơn vị họ.
3.2. Quy trình bán hàng:
3.2.1. Sơ đồ quy trình bán hàng:
khách hàng, xem xét cách tiếp cận nào, với thời gian nào là phù hợp và hiệu quả nhằm
tiếp xúc với người mua hay người ra quyết định mua.
b. Tạo niềm tin và tình cảm với khách hàng: là cách thức mà nhân viên bán hàng
gặp gỡ và chào hỏi người mua để tạo mối quan hệ tốt ban đầu.
c. Phát hiện nhu cầu của khách hàng: qua tiếp xúc, nhân viên bán hàng thảo luận
để khách hàng bộc lộ thái độ và nhu cầu của mình trên cơ sở đó nhân viên bán hàng xác
định được khách hàng có nhu cầu về loại sản phẩm nào.
d. Trình bày đặc tính và lợi ích của sản phẩm, khắc phục các ý kiến phản đối.
- Trình bày đặc tính và lợi ích sản phẩm: trình bày và giới thiệu về sản phẩm mà
khách hàng có nhu cầu và chứng tỏ sản phẩm đó thỏa mãn được nhu cầu của họ. Để giới
thiệu có hiệu quả nhân viên bán hàng phải là người am hiểu thông tin đầy đủ về sản
phẩm và dự đoán những câu hỏi có thể xảy ra.
- Xử lý các phản bác: người mua thường có những ý kiến phản bác về sản phẩm
và người bán phải xử lý những ý kiến này một cách tích cực và nghiêm túc.
e. Kết thúc một cuộc bán hàng: nhân viên bán hàng phải nhận biết và xác định
được khi nào thì khách hàng sẽ mua và có thể yêu cầu họ đặt hàng. Người bán (nhân
viên bán hàng) biết cách đưa ra những chiêu dụ đặc biệt để kích thích người mua kết
thúc cuộc bán hàng, chẳng hạn: nói giá, tặng quà
f. Phục vụ khách hàng: đây là điều rất cần thiết, là giai đoạn thắt chặt mối quan
hệ với người mua. Trong giai đoạn này nhân viên bán hàng phải hoàn chỉnh mọi chi tiết
cần thiết của việc bán hàng và giải quyết những vấn đề phát sinh, tạo mối quan hệ lâu
dài hướng đến nhu cầu của khách hàng trong tương lai.
3.3. Chức năng và nhiệm vụ của nhân viên bán hàng:
Có thể chia lực lượng bán hàng thành 4 nhóm chức năng sau: bán hàng, quản lý
điều hành, tài chính và nhiệm vụ marketing.
3.3.1. Bán hàng:
Với chức năng này thì trách nhiệm chủ yếu của nhân viên bán hàng là bán các
sản phẩm của Công ty mình, qua công việc này nhân viên bán hàng sẽ thể hiện được
khả năng của mình đồng thời góp phần cống hiến sự thành công của Công ty.
3.3.2. Quản lý điều hành:

lượng bán hàng”.
Người quản trị lực lượng bán hàng không chỉ giao tiếp với nhân viên trong lực
lượng bán, các bộ phận trong tổ chức mà còn phải thiết lập những mối quan hệ bên
ngoài tổ chức của mình mà còn quan trọng là với khách hàng.
1.2. Vai trò của quản trị bán hàng cá nhân:
Quản trị bán hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức tiếp thị
và bán hàng. Nếu việc quản trị có hiệu quả thì nó sẽ giúp cho doanh nghiệp thực hiện tốt
được công việc truyền thông tin về các sản phẩm của mình cũng như thu nhận được các
nguồn tin phản hồi một cách hiệu quả giúp cho doanh nghiệp giảm bớt rủi ro trong việc
mua bán, kinh doanh. Quản trị bán hàng cá nhân còn là một nhân tốt quan trọng trong
phối thức khuyếch trương, nó sẽ giúp làm tăng sự khác biệt sản phẩm của Công ty tại
các điểm bán. Điều đặc biệt quan trọng hơn đó là việc quản trị bán hàng cá nhân sẽ dễ
dàng thiết lập, duy trì được mối quan hệ giữa khách hàng với Công ty, và cuối cùng là
công việc quản trị bán hàng sẽ là thành tố quan trọng trong việc đẩy mạnh và làm tăng
khả năng tiêu thụ của sản phẩm, để thu lợi nhuận.
2. Nội dung của quản trị lực lượng bán hàng:
Hoạt động quản trị lực lượng bán hàng bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
2.1. Tổ chức lực lượng bán hàng:
Trong khâu này nhà quản trị lực lượng bán hàng phải: thiết lập mục tiêu cho lực
lượng bán hàng, lựa chọn cơ cấu tổ chức, quy mô của lực lượng bán hàng.
2.1.1. Xác lập mục tiêu của lực lượng bán hàng:
Việc xác lập mục tiêu căn cứ vào tính chất của thị trường mục tiêu và vị trí mong
muốn của Công ty trên thị trường đó. Nó xoay quanh các vấn đề: tìm kiếm gây dựng
khách hàng mới, lựa chọn quyết định phân bổ thời gian cho khách hàng triển vọng và
hiện có, cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ của Công ty và thu thập các thông tin
marketing, quyết định phân bổ sản phẩm
2.1.2. Thiết kế cơ cấu lực lượng bán hàng:
Việc thiết kế cơ cấu tổ chức cho lực lượng bán hàng phụ thuộc vào tính chất sản
phẩm, đặc điểm khách hàng bao gồm các loại cơ cấu sau:
a. Lực lượng bán hàng có cơ cấu theo lãnh thổ:

năm.
- Xác định độ dài thời gian và số lần viếng thăm hoặc giao dịch của từng nhóm
khách hàng.
- Thời gian cần thiết hàng năm (tổng khối lượng công việc) phục vụ khách hàng
hiện có và triển vọng.
- Xác định lượng nhân viên: tổng số giờ hàng năm cần thiết cho nổ lực bán hàng
chia cho số giờ hoạt động dành cho bán hàng của một nhân viên.
b. Phương pháp phân bổ:
Lấy lượng hàng bán tiềm năng của Công ty trong toàn thị trường chia cho lượng
hàng tối thiểu của một nhân viên bán hàng của Công ty.
c. Phương pháp ngân sách:
Lấy ngân sách bán hàng trực tiếp chia cho toàn bộ chi phí trả cho nhân viên bán
hàng.
2.2. Chính sách thù lao của Công ty cho lực lượng bán hàng:
Để thu hút các đại diện bán hàng, Công ty phải xây dựng chính sách thù lao hấp
dẫn. Mức thù lao phải gắn với “giá thị trường hiện hành” đối với loại hình công việc và
năng lực cần thiết, nó định hướng được nhân viên bán hàng đạt được mục tiêu mà Công
ty đề ra cho lực lượng bán.
2.2.1. Các khoản bù đắp tài chính: gồm có lương trực tiếp, lương gián tiếp, tiền
hoa hồng và tiền thưởng.
a. Trả lương theo doanh số bán hàng: tiền lương được trả theo số lượng hàng hóa
bán ra.
Người bán sẽ nhận rõ ý thức về hiệu quả bán hàng của mình và họ luôn nổ lực để
đạt hiệu quả cao nhất có thể có, tuy nhiên họ thường quan tâm đến lợi ích trước mắt hơn
là phát và giữ khách hàng lâu dài.
b. Trả lương theo doanh số kèm với tiền lương thời gian:
Người bán được trả lương định mức theo tuần hoặc tháng và được trả thêm một
tỷ lệ % dựa vào doanh thu bán hàng từng kỳ.
Cách trả lương này vừa đảm bảo sự an toàn về thu nhập cho người bán hàng vừa
tác động tích cực đến việc thực hiện công việc bán hàng.


2.3.1. Tuyển dụng:
Mục tiêu của tuyển dụng là phát triển nhóm người dự tuyến có xu hướng chuyên
môn hóa càng rộng càng tốt.
a. Nguồn tuyển dụng: có nhiều nguồn tuyển dụng khác nhau, được tập hợp vào
bốn loại: Công ty, các định chế giáo dục, nền công nghiệp và hỗn hợp.
b. Quá trình tuyển dụng:
b.1. Tuyển dụng chính thức:
Tìm kiếm một lượng nhân viên để bù đắp nhân viên thiếu hụt trong lĩnh vực nào
đó. Tuyển dụng tại các trường đại học, tiến hành tư vấn, phỏng vấn để tìm được người
dự tuyển thích hợp, nâng cao chất lượng tuyển dụng.
b.2. Tuyển dụng không chính thức:
Được tiến hàng thường xuyên, không ngừng với sự giúp đỡ của nhân viên giỏi
hàng đầu trong vùng, quá trình này không có gắn chặt với những quy định thực như
tuyển dụng chính thức.
2.3.2. Lựa chọn:
Quá trình lựa chọn được xem như một quá trình có thời kỳ. Công việc này thông
qua quá trìn sàn lọc hồ sơ xin việc, qua các buổi kiểm tra, các cuộc phỏng vấn trực tiếp,
rồi sau đó quyết định lựa chọn.
2.3.3. Đào tạo huấn luyện:
Việc lựa chọn các chương trình và giai đoạn người bán hàng trong chu kỳ nghề
nghiệp làm thay đổi các yếu tố của chương trình huấn luyện. Chương trình huấn luyện
không chỉ dành cho nhân viên mới mà có cả chương trình đào tạo huấn luyện nhân viên
cũ.
2.3.3.1. Yêu cầu huấn luyện đào tạo:
a. Lực lượng bán hàng hiện có: chương trình huấn luyện chia làm 2 loại:
- Chương trình huấn luyện để chuẩn bị cho nhân viên bán hàng của tổ chức
chuyển từ vị trí này sang vị trí khác.
- Chương trình huấn luyện cho nhân viên có nội dung dựa trên sự biểu lộ năng
suất và hiệu quả bán hàng thực tế. (Ví dụ: sự xuống cấp của nhân viên do những vội vã

- Xác định số lần đi chào hàng những khách hàng triển vọng.
- Hướng dẫn nhân viên xây dựng kế hoạch sử dụng thời gian.
b. Giám sát gián tiếp:
+ Thường được áp dụng với hình thức trả lương theo doanh số bán.
+ Biện pháp giám sát:
- Căn cứ vào tình hình bán hàng thời gian trước, số liệu nghiên cứu thị trường, ý
kiến của nhân viên bán hàng.
- Tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ giữa lực lượng bán hàng với tổ chức
Công ty.
2.4.2. Đánh giá kết quả hoạt động của lực lượng bán hàng:
* Các tiêu chuẩn đánh giá:
+ Giá trị số lượng hàng hóa bán được so với chỉ tiêu.
+ Số lượng thời giam làm việc trong kỳ.
+ Phong cách cá nhân: y phuvc, đầu tóc, sự tươm tất lịch sự
+ Số lần đi chào hàng trong kỳ.
+ Số khách hàng mới phát triển được.
+ Trình độ nghề nghiệp chuyên môn và khả năng thăm dò.
+ Ý thức mối quan hệ trong nội bộ, khả năng giải quyết và mối quan hệ với
khách hàng.
Thông qua các chỉ tiêu đánh gia để đánh giá lực lượng bán hàng của ctt, từ các
kết quả đánh giá mà nhà quản trị có thể có hình thức thưởng, điều chỉnh hành vi của
nhân viên hoặc có quyết định thải hồi nhân viên bán hàng yếu kém.
Chương II:
TÌNH HÌNH KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BÁN HÀNG CỦA
CÔNG TY VỀ MẶT HÀNG ÔTÔ ISUZU

I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CƠ KHÍ ÔYÔ VÀ THIẾT BỊ ĐIỆN ĐÀ NẴNG
:
1. Giới thiệu tổng quan về Công ty:
a. Quá trình hình thành và phát triển:

- Huân chương lao động hạng ba - năm 1988.
- Huân chương lao động hạng nhì - năm 1990.
- Huân chương lao động hạng nhất - năm 1995.
- Huân chương lao động hạng ba - năm 2000.
Cho đến nay, Nhà máy cũng đang nổ lực đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình để đưa Nhà máy đi lên hòa theo nhịp đập của nền kinh tế đất nước mà
quan trọng hơn nữa là khả năng hội nhập kinh tế thế giới và cụ thể trước mắt là hội nhập
AFTA trong 3 năm tới.
Để chuẩn bị cho quá trình hội nhập đó , ngày 16 tháng 12 năm 2003 - UBND
Thành phố Đà Nẵng chính thức ra quyết định hợp nhất cả hai Nhà máy:
+ Nhà máy Cơ khí Ôtô Đà Nẵng.
+ Công ty Cơ khí Thiết bị Điện Đà Nẵng.
Thành: Công ty Cơ khí Ôtô và Thiết bị Điện Đà Nẵng có trụ sở chính đóng tại
128 Ông Ích Khiêm - Thành phố Đà Nẵng, và đây là tên gọi chính thức hiện nay của
Công ty.
b. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Công ty:
Công ty có chức năng, nhiệm vụ là: sản xuất, lắp ráp các loại xe chở khách, xe
tải, xe cứu thương, xe du lịch, xe và thiết bị nông dụng, đại tu sửa chữa ôtô các loại,
đóng mới vỏ xe khách và xe du lịch. Gia công cơ khí, chế tạo, sản xuất phụ tùng xe đạp,
khuôn mẫu, cấu kiện kim loại, các thiết bị phục vụ các ngành công nghiệp, nông nghiệp
và tiêu dùng, sản xuất ống Inox, trang thiết bị y tế và gia dụng. Sản xuất các loại máy
cái và thiết bị đồng bộ, sản xuất và lắp ráp động cơ máy động lực các loại. Cán thép
nóng, sản xuất kinh doanh đồ điên, quạt điện, động cơ điện, đồ điện gia đình, sản xuất
gốm mỹ nghệ. Kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa, hàng nông - lâm - hải sản,
lương thực - thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép, hàng tiêu dùng, phương tiện
vận tải, vật tư giao thông, ôtô xe máy. Xuất nhập khẩu các loại phương tiện, tư vấn thiết
kế và kiểm định các loại xe ôtô Riêng về ôtô, phương tiện vận chuyển ngoài những
sản phẩm xe buýt, xe ca do Công ty sản xuất, lắp ráp, chế tạo thì còn có mặt hàng ôtô
ISUZU là sản phẩm của Công ty ôtô ISUZU VIỆT NAM do Công ty Cơ khí Ôtô và
Thiết bị Điện Đà Nẵng nhận làm đại lý chịu trách nhiệm phân phối và tiêu thụ trên toàn

đến sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời theo mô hình này nó sẽ phát huy được
khả năng của các phòng ban chức năng, các đơn vị cơ sở, các xí nghiệp, trung tâm, Nhà
máy trực thuộc Công ty có sự chủ động trong hoạt động.
Sơ đồ minh họa:
Chú thích:
Quan hệ trực tuyến (chỉ huy)
Quan hệ chức năng (tham mưu)
Quan hệ phối hợp (nghiệp vụ)
(TRang ngang)
b. Phân công trách nhiệm quyền hạn trong bộ máy quản lý và sản xuất kinh
doanh của Công ty:
b.1. Phân công trong ban lãnh đạo:
b.1.1. Giám đốc Công ty:
Là người đứng đầu trong hệ thống chỉ đạo trực tuyến, chịu trách nhiệm hoàn toàn
về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Giám đốc chỉ giải quyết những vấn
đề mang tính chất chiến lược, định hướng phát triển lâu dài trong sản xuất kinh doanh,
còn những vấn đề khác mà khả năng cấp dưới có thể đảm nhận được thì Giám đốc sẽ ủy
quyền cho các Phó Giám đốc, Trưởng phòng hoặc Giám đốc các đơn vị trực thuộc Công
ty. Quyết định điều chỉnh, định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty,
quyết định xác vấn đề đối nội, đối ngoại, thực hiện hoặc hủy bỏ các hợp đồng kinh tế.
Trực tiếp chỉ đạo công tác Tài chính - Kế toán, công tác tổ chức cán bộ , kế hoạch đầu
tư phát triển sản xuất, đồng thời trực tiếp chỉ đạo các Nhà máy Cơ khí Ôtô Đà Nẵng,
Nhà máy Cơ khí Đà Nẵng, Nhà máy Điện cơ trực thuộc Công ty.
b.1.2. Phó Giám đốc thường trực kế hoạch - vật tư:
Là người giúp việc cho Giám đốc, được ủy quyền thay thế Giám đốc quản lý
điều hành sản xuất kinh doanh khi Giám đốc đi vắng, trực tiếp phụ trách chỉ đạo công
tác kế hoạch, vật tư và trung tâm tư vấn thiết kế chế tạo cơ khí ôtô chuyển giao công
nghệ và dự án đầu tư. Được quyền ký và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty
những phần công việc được ủy quyền.
b.1.3. Phó Giám đốc phụ trách kế hoạch kinh doanh tiếp thị:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status