LUẬN VĂN: Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11 - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách
quan về môn hoá học lớp 11 Mở Đầu
1. Lí do chọn đề tài
1.1 . Từ thực tiễn
Trong các lĩnh vực của đời sống khi so sánh một số lĩnh vực nào đó với nhau
người ta thường đưa ra những con số những loại thang đo để thuyết phục người khác.
Giống như khi so sánh sự phát triển của hai quốc gia, người ta đưa ra những con số
về GDP, GNP, bình quân đầu người trên một năm…. Hay khi ta muốn biết hai thành
phố cách nhau bao nhiêu thì ta biểu thị khoảng cách giữa hai thành phố đó bằng

không, người học có tiến bộ hay không. Đánh giá có thể thực hiện đầu quá trình
giảng dạy để giúp tìm hiểu và chẩn đoán về đối tượng giảng dạy, có thể triển khai
trong tiến trình dạy và học để tạo thông tin phản hồi giúp điều chỉnh quá trình dạy và
học, cũng có thể thực hiện lúc kết thúc để tổng kết. Như vậy, sự đánh giá phải được
xem là một bộ phận quan trọng và hợp thành một thể thống nhất của quá trình GD -
ĐT. Không có đánh giá thì không thể biết việc học và việc dạy xảy ra như thế nào,
thậm chí có thực sự xảy ra hay không, dù rằng bề ngoài có thể vẫn có các hình thức
tổ chức dường như là để dạy và học.
Phương thức TNKQ là một phương pháp đo lường và đánh giá có nhiều ưu
điểm đang được ứng dụng rộng rãi. Phương pháp này đã và đang đáp ứng được yêu
cầu của khoa học đánh giá và đo lường trong giáo dục. Đó là một phương pháp tương
đối khách quan, không phụ thuộc vào người chấm bài, nó bao phủ được hầu hết nội
dung môn học, hạn chế được may rủi quay cóp bài, thích hợp với kì thi đại trà, ứng
dụng được KHKT…phương pháp này cũng khắc phục được nhiều nhược điểm của
phương pháp tự luận.
Xuất phát từ các lí do trên nên em đã chọn đề tài này để tìm hiểu sâu về môn
khoa học này và ứng dụng vào sự nghiệp giảng dạy của mình sau này.
2. Mục đích
Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.
3. Đối tượng và khách thể
3.1. Đối tượng
Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.
3.2. Khách thể
Học sinh lớp 11 ( Gián tiếp: đối tượng khảo sát).
Chương trình môn hoá lớp 11. ( trực tiếp).
4. Giả thuyết khoa học
Từ sự nghiên cứu đề tài này sẽ cho ta bộ câu trắc nghiệm khách quan chất

Chương 3: 5 trang.
10. Kế hoạch nghiên cứu
02/0214/03: Nghiên cứu lí luận và Xây dựng bộ câu trắc nghiệm khách quan.
15/03 15/05: Khảo sát trên học sinh (Trắc nghiệm thử).
16/05  24/05: Phân tích kết quả Sửa. Chương 1: CƠ Sở Lí LUậN

1.1 lịch sử những phép đo lường và trắc nghiệm
1.1.1 Trên thế giới
Các phương pháp khoa học đầu tiên bắt nguồn từ khoa vật lí vào thế kỉ 17&18

phát triển liên tục, những phê bình chỉ trích đối với khoa học này cũng xuất hiện
thường xuyên nhưng cũng không đánh đổ được nó mà chỉ làm cho nó tự điều chỉnh
và phát triển mạnh mẽ hơn. Ước tính ở Mĩ hiện nay số lượt TN tiêu chuẩn hoá ở 1/4 tỉ
và TN do giáo viên soạn lên đến 5 tỉ trên 1 năm. Khi ngành công nghệ TN phát triển
đồ sộ thì ngành CNTT cũng phát triển rầm rộ tạo điều kiện để phát triển nhanh hơn
nữa lí thuyết đo lường, nâng cao độ chính xác của câu trắc nghiệm, tự động hoá các
công việc soạn thảo đề thi và chấm bài , phân tích kết quả.
Sự phát triển của KH đo lường và đánh giá không chỉ dừng lại ở Hoa Kì, châu
Âu mà ở các nước châu á cũng rất phát triển. Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc…
cũng đã có một cơ sở vững chắc về lĩnh vực này. Tại Nhật Bản kì thi “Trắc nghiệm
trung tâm Quốc Gia tuyển sinh Đại Học” ( National Center Test for University
Admission) duy trì từ năm 1990 đến nay, với hình thức đề thi được soạn thảo hoàn
toàn theo phương thức TNKQ. Các tổ chức JHEE (Join High Education Entrance
Examination) và NEEA (National Education Examination Authority). Tại Thái Lan
và Trung Quốc đã tổ chức các kì thi tuyển Đại Học chủ yếu bằng TNKQ.
Như vậy ta thấy rõ, Khoa học về Đo lường và TNKQ mới ra đời nhưng nó đã
nhanh chóng khẳng định ưu thế và xác định vị trí của mình trong lĩnh vực giáo dục và
dần được ứng dụng rộng rãi cho mọi lĩnh vực của xã hội.
1.1.2. ở nước ta
Khác với các nước phát triển, khi khoa học về đo lường và TN ra đời đã nhanh
chóng ứng dụng trên mọi lĩnh vực của cuộc sống - đặc biệt là lĩnh vực giáo dục, thì ở
nước ta gần như “thờ ơ” với sự xuất hiện của lĩnh vực khoa học này. Cách đây
khoảng 10 năm khi các nước phát triển đã sử dụng TNKQ cho các kì thi tuyển thì ở
Việt Nam chỉ có GS.Dương Thiệu Tống là người có bằng Ed.D của Mĩ về lĩnh vực
này, còn lại các cơ sở GD & SP không có người nào chuyên sâu về đo lường trong
GD. Chính vì vậy các tài liệu về lĩnh vực này gần như không có.
Trước tình hình đó Bộ Giáo Dục đã dần đưa ngành GD tiếp xúc với khoa học
này: mời chuyên gia từ nước ngoài sang tổ chức hội thảo, dịch sách, cử một số giáo
tin phản hồi giúp điều chỉnh quá trình dạy và học. Cũng có thể thực hiện cuối quá
trình để tổng kết.
Đánh giá là việc nhận định sự xứng đáng của một đối tượng nào đó (trích theo
3, tr 16). Lượng gía năng lực hoặc thành quả học tập của người học thường là các
thành tố lượng giá trong giáo dục. Đánh giá có thể là định lượng dựa vào các con số
hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị.
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một phép lượng giá cụ thể mức độ khả năng thể
hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một người cụ thể. Trong giáo dục, trắc nghiệm
là một loại dụng cụ đo lường khả năng của người học. Dựa vào trắc nghiệm cho biết
được thành tích của cá nhân như thế nào? So sánh với những người khác hay so với
một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập được dự kiến.Thường có hai dạng thức trắc
nghiệm: một là trắc nghiệm thành quả (đo lường mức độ học được sau một thời kì
giảng dạy); hai là TN năng khiếu hay năng lực (đánh giá năng khiếu hay năng lực
hiện có của một đối tượng bất kể chúng được hình thành bằng cách nào).
1.2.1.2. Phân lọai các phương pháp TN
Có nhiều cách phân loại tuỳ theo từng hình thức TN. Sau đây ta sẽ đưa ra một
số phương pháp TN:
1.2.1.2.1. Về cách thức thực hiện TN (trích 4, tr 7)

Bao gồm ba loại lớn:
a). Loại quan sát: Giúp đánh giá các thao tác, hành vi, phản ứng vô thức, các kĩ
năng thực hành và cả một số kĩ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề
trong một tình huống nào đó đang được nghiên cứu.
b). Loại vấn đáp: Có tác dụng tốt để đánh giá khả năng đáp ứng các câu hỏi

a). TN tiêu chuẩn hoá: Thường do các chuyên gia TN soạn thảo, thử nghiệm tu
chỉnh. Vì thế các câu TN ở đây đã có sẵn một độ khó và độ phân biệt riêng phản ánh
nội dung và mức độ kĩ năng nào, mỗi đề thi TN có một độ tin cậy xác định.
b). TN dùng ở lớp học: do giáo viên tự soạn để sử dụng trong quá trình giảng
dạy có thể chưa được thử nghiệm và tu chỉnh công phu, thường chỉ sử dụng trong các
kì kiểm tra với số lượng học sinh không lớn và không thực sự quan trọng 1.2.1.2.3. Về
thời gian làm bài
a). TN theo tốc độ: Hạn chế thời gian, chỉ một ít thí sinh làm nhanh mới có thể
làm hết số câu của bài TN, nhằm đánh giá khả năng làm nhanh của thí sinh.
b). TN không theo tốc độ: thường cung cấp đủ thời gian cho phần lớn TS
1.2.1.2.4. Về phương hướng sử dụng kết quả trắc nghiệm
Gồm hai loại.
a).TN theo chuẩn: là TN được soạn nhằm cung cấp một số đo lường thành tích
mà người ta có thể giải thích được căn cứ trên vị thế tương đối của một cá nhân so với
một nhóm người nào đó đã được biết.
b) TN theo tiêu chí: là TN được xác định nhằm cho phép giải thích thành tích
của người được khảo sát liên quan đến một tập hợp các khái niệm đã được xây dựng
rõ ràng (3, tr 20).
1.2.2. Trắc nghiệm khách quan là gì?
1.2.2.1. Khái niệm
Trắc nghiệm khách quan là một phương pháp trắc nghiệm mà đề thi gồm có
nhiều câu hỏi, ở mỗi câu đều nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết giúp thí sinh
trả lời một cách ngắn gọn nhất.
1.2.2.2. Phép so sánh giữa TNKQ và TL
Ngày nay khi hầu hết GV đang sử dụng phương pháp TL là công cụ đắc lực cho
việc đánh giá năng lực của thí sinh, thì phương pháp TNKQ được coi là phương pháp
có nhiều nhược điểm và hạn chế. Nhưng đứng trên quan điểm của những nhà khoa

chuẩn thì hoàn toàn sai lầm. Với một đề thi TL TS rất dễ gặp may rủi do trúng tủ trật
tủ vì đó có phải là lĩnh vực của mình hay không? Còn với đề thi TNKQ thì sự may rủi
hoàn toàn không xảy ra bởi đề thi đã phủ kín chương trình học. Nếu học sinh nắm
vững nội dung môn học thì sẽ làm đúng phần lớn các câu trắc nghiệm và TS mà
không nắm vững một vài chi tiết của môn học thì số ít câu không làm được cũng
không ảnh hưởng lớn đến kết quả bài thi. Ngược lại đề thi TL ngoài những TS học
chắc thật sự và những thí sinh trúng tủ là điểm khá còn lại những TS trật tủ là bị đánh
hạng hết bất kể phần lớn nội dung môn học đó TS có học tốt đi chăng nữa.Vậy số đỏ
sẽ đến với anh chàng không biết gì và đánh dấu bừa?! TNKQ là một phương pháp
được dựa trên lí thuyết thống kê nên đó là một phương pháp hết sức khoa học – nó
tuân theo luật số lớn: “Khi tăng phép thử lên thì tần suất tiến dần đến xác suất”. VD:
một thí sinh làm bài thi gồm 100 câu hỏi nhiều lựa chọn, với 5 phương án trả lời, nếu
thí sinh đánh dấu hú hoạ vào các phương án trả lời, xác suất để anh ta làm đúng là
20% do đó tần suất làm đúng của anh ấy sẽ gần với xác suất, có nghĩa là: bằng cách
đánh dấu hú hoạ số câu anh ta “làm đúng” chỉ chiếm trên dưới 20/100 câu hỏi. Với
cách chấm điểm của TNKQ thì thành tích mà anh ta đạt được bằng cách đánh dấu hú
hoạ như trên là lân cận điểm không.
Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì TNKQ đã kịp thời ứng
dụng thành quả KH để tăng thêm vai trò của mình. “Lí thuyết ứng đáp câu hỏi”, và tin
học, công nghệ là các phương tiện để đánh giá từng câu hỏi và đề thi TNKQ, giúp
chọn các mẫu thử nghiệm hợp lí để nâng cao chất lượng và độ tin cậy của đề thi, cũng
tạo điều kiện cho phép nhiều người có thể đóng góp trong một thời gian dài để chuẩn
bị cho một đề thi TNKQ có chất lượng cao, vừa giữ an toàn và bí mật cho đề thi. ứng
dụng của KHKT giúp TNKQ hạn chế được nạn quay cóp, gian lận trong quá trình thi.
Khi nội dung bao phủ rộng TS sẽ không đủ thời gian để mở tài liệu. Với các phần
mềm vi tính sẽ cho ta một sự sắp xếp đảo đề kĩ thuật. Điều này khiến cho những học
sinh ở gần nhau không thể nhìn bài nhau.
3. ít may rủi do trúng tủ, trật tủ
4. Đề thi phủ kín nội dung môn học
5. Đánh giá được khả năng diễn đạt, sáng tạo
khi trả lời


6. ít tốn công ra đề thi


7. áp dụng được công nghệ mới trong việc
nâng cao chất lượng đề thi, giữ bí mật đề thi,
hạn chế quay cóp khi thi, hạn chế tiêu cực
trong chấm thi và giúp phân kết quả thi.


8. Đỡ tốn kém


H.2. Bảng so sánh giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận
Qua những tìm hiểu ở trên cho ta thấy cả hai phương pháp TNKQ và TL đều là
những phương pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập. Cần nắm vững bản chất
từng phương pháp và công nghệ triển khai cụ thể để có thể sử dụng mỗi phương pháp

lần.
Trắc nghiệm ghép đôi rất thông dụng nó được dùng để đo lường kiến thức về
các mối tương quan, học sinh có thể ghép các từ với ý nghĩa tương ứng, các phát
minh KH với tên các nhà bác học đã khám phá, ngày tháng với các biến cố, các chữ,
tên với các phần khác nhau của một giản đồ hay bản đồ. Hoặc sắp các chữ hay câu
thành từng loại dựa trên căn bản nào đó cho trước (phân loại động vật theo chủng
loại, sắp xếp các biến cố theo thứ tự thời gian, sắp xếp các câu phát biểu theo một
chuỗi lí luận, đánh giá một tác phẩm dựa trên các tiêu chuẩn cho trước).
Ưu điểm của TN ghép đôi:
1. Dễ viết và dễ dùng, đặc biệt rất thích hợp khi cần thẩm định các mục tiêu ở
mức tâm linh thấp. Tuy nhiên chúng ta nên cố gắng viết những câu hỏi ở mức trí năng
cao hơn.
2. Học sinh ở lứa tuổi học trường phổ thông cơ sở rất thích loại TN ghép đôi.
3. So với những loại câu hỏi nhiều lựa chọn loại ghép đôi ít tốn giấy nhất.
4. Yếu tố may rủi giảm đi nhiều khi số phần tử trong mỗi cột tăng và khác nhau.
5. Là loại câu hỏi hữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ
thức, hay lập những mối tương quan.
Nhược điểm của loại TN ghép đôi:
1. Khó đo dược các mức trí năng cao ở TS.
2. Nếu số phần tử trong một cột quá dài thì sẽ không thuận lợi cho TS.
Các quy tắc khi soạn câu TN ghép đôi:
1. Số phần tử của mỗi cột phải ít nhất là 6 và nhiều nhất là 12. Nếu danh sách
trong mỗi cột dài quá, chúng ta nên bỏ bớt các câu trả lời không hợp lí, nên phân chia
danh sách dài thành những danh sách ngắn gồm 7, 8 phần tử ở mỗi cột. Ngược lại,
nếu mỗi cột chỉ có ít hơn 5 phần tử chúng ta nên ghép hai hay ba bài tập lại với nhau.
2. Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một phần tử của cột trả lời vào phần tử
của cột câu hỏi. Phải nói rõ mỗi phần tử trong cột trả lời chỉ được dùng một lần hay

3. Thí sinh mất cơ hội đoán mò câu trả lời như trong trường hợp các loại trắc
nghiệm khách quan khác. Thí sinh phải nhớ hoặc nghĩ ra câu trả lời, thay vì chỉ chọn
lựa câu trả lời đúng trong các câu cho sẵn.
4. Loại này dễ soạn câu hỏi hơn loại ghép đôi hoặc câu nhiều lựa chọn. Tuy
nhiên cũng không nên lạm dụng quá sự dễ dãi này mà lấy y nguyên câu trong sách
giáo khoa.
5. Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm. Dù cho phải chấm điểm loại trắc
nghiệm điền khuyết có tính chất khách quan hơn loại luân đề, giáo viên vẫn gặp nhiều
phiền phức hơn khi chấm các câu trắc nghiệm điều kiện vì giới hạn câu trả lời đúng
rộng rãi hơn. Giáo viên có thể phải cho điểm toàn phần hay một phần cho một câu trả
lời khác với đáp án để chấm bài. Do đó các nhân viên phục vụ không thể chấm giúp,
cũng như không thể dùng phương pháp chấm bằng máy.
6. Loại trắc nghiệm này thường làm học sinh rối trí do vậy điểm số có độ tương
quan cao với mức thông minh hơn là với thành quả học tập của học sinh điều này làm
cho độ giá trị của bài thi giảm.
Các quy tắc soạn thảo trắc nghiệm loại điền khuyết:
1. Lời chỉ dẫn phải rõ ràng. Thí sinh phải biết mình cần làm gì và làm như thế
nào?
2. Tránh soạn câu hỏi một cách quá lạm dụng do lấy nguyên văn các câu từ
sách hoặc đã dạy cho học sinh để khỏi bắt buộc học sinh học thuộc lòng.
3. Các câu viết ý nghĩa phải rõ ràng tránh mơ hồ, không rõ nghĩa.
4. Vị trí cần học sinh điền vào phải là những từ ngữ chắt lọc, quan trọng và phải
rõ ràng đơn vị.
5. Không nên để trống quá nhiều vị trí làm học sinh rối và không biết ý của
người ra đề như thế nào? Nên để chỗ trống ở cuối câu để thí sinh không bị hẫng.
6. Khi tính điểm, mỗi chỗ điền vào nên tính một điểm (trừ câu trả lời đòi hỏi
phải điền nhiều chữ) không nên trừ điểm chính tả.

2. Khó dùng để chẩn định điểm yếu của học sinh, do yếu tố đoán mò.
3. Rất khó khăn cho các môn thuộc lĩnh vực KHXH trong việc soạn thảo câu
hỏi vì lĩnh vực này có nhiều quan điểm khác nhau. Do đó người soạn phải nói rõ tác
giả, xuất sứ của ý kiến, tư tưởng, lời nói nêu trong mỗi câu.
4. Loại TN đúng sai có độ tin thấp do xác suất đoán đúng của học sinh là 50%.
Để có độ tin cậy tương đương với các loại TNKQ khác thì câu hỏi loại này phải dài
hơn nhiều.
5. Xu hướng trích nguyên văn các câu trong sách dễ làm cho học sinh tập thói
quen học thuộc hơn là tìm hiểu suy nghĩ.
6. Trong khuôn khổ của câu đúng sai làm cho học sinh khá cảm thấy khó chịu
khi phải ràng buộc ý kiến trả lời. Đồng thời với các em còn bé, những câu phát biểu
sai có thể khiến các em học những điều sai lầm một cách vô ý thức.
Quy tắc soạn câu hỏi loại “Đúng, Sai”:
1. Nên dùng những chữ chính xác và thích hợp để câu hỏi đơn giản và rõ ràng.
2. Các câu hỏi loại đúng sai chỉ nên mang một ý tưởng chính yếu để câu được rõ
ý và mang nghiã trong sáng hơn.
3. Tránh dùng những từ gây cho TS đoán ra được phương án trả lời như: “luôn
luôn”, “tất cả”,”không bao giờ”, “không thể được”, “chắc chắn”, vì các từ này thường
có triển vọng sai,còn những từ như: “thường thường”, “đôi khi”,”ít khi” lại thường đi
với những câu để trả lời đúng
4. Nên cố gắng soạn các câu có nội dung hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai.
Quan điểm đúng sai nên lấy theo sự đồng ý thuần nhất của những nhà chuyên môn có
thẩm quyền.
5. Nên soạn các câu đúng văn phạm và áp dụng đựơc kiến thức đã học nhưng
tránh những chi tiết vụn vặt không cần thiết
6. Tránh dùng câu phủ định kép, không để học sinh đoán được câu trả lời nhờ
chiều dài của câu, nên dùng các từ định tính hơn định lượng

nhiều phương án TL để chọn cho mỗi CH có thể kiểm tra, đánh giá những mục tiêu
giảng dạy, học tập khác nhau một cách khá toàn diện.
2. Độ tin cậy cao hơn. Yếu tố đoán mò may rủi của học sinh giảm đi nhiều so
với các loại TNKQ khác khi số phương án chọn lựa tăng lên.
3. Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi TLCH. Tính chất tuyệt đối
trong loại đúng sai nhường chỗ cho tính chất tương đối khi HS phải chọn lựa câu TL
đúng nhất hay hợp lí nhất trong số các phương án TL đã cho.
4. Tính chất giá trị tốt hơn do dạng TN này có thể đo được đầy đủ các mức tâm
linh khác nhau như: nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá.
5. Có thể phân tích được tính chất mỗi CH. Dùng phương pháp phân tích câu
hỏi, chúng ta có thể xác định câu nào dễ quá, câu nào khó quá, câu nào mơ hồ hay
không giá trị đối với các mục tiêu cần TN. Ngoài ra, chúng ta có thể xét xem câu TL
cho sẵn nào không ích lợi, hoặc làm giảm giá trị CH. Phương pháp này không thực
hiện với loại CHTL, hay khó thực hiện với loại TN khác.
6. Tính khách quan khi chấm bài thi. Dựa vào máy, bài thi được quét và vào
điểm một cách hoàn toàn khách quan. Ngay cả những khi bài thi được chấm bằng tay
thì điểm số trên bài thi của TS cũng không phụ thuộc vào người chấm vì TNMCQ
không phụ thuộc vào các yếu tố như phẩm chất của chữ viết, hoặc khả năng diễn đạt
tư tưởng.
Ngoài ra, TNMCQ còn có tất cả các ưu điểm khác của TNKQ.
Nhược điểm của loại CHTNMCQ:
Ngoài những nhược điểm của CHTNKQ so với TL mà ta đã so sánh ở trên thì
TNMCQ còn có những tồn tại sau:
1. Khó soạn CH. Việc soạn CHMCQ sẽ mất nhiều thời gian và sự công phu
mới viết được những CH đạt tiêu chuẩn, đúng kĩ thuật. Yêu cầu đặt ra ở đây là phải
chọn ra phương án đúng nhất trong khi các phương án nhiễu đề ra cũng phải có vẻ
hợp lí. Qua đó ta mới có thể đo được các mục tiêu đã định sẵn và các mức kĩ năng cao

b) Độ dài các câu phải gần bằng nhau.
c) Phải đồng nhất với nhau. Tính chất đồng nhất có thể dựa trên căn bản ý
nghĩa, âm thanh, độ dài, hoặc cùng là động từ, tính từ, danh từ.
d) Lưu ý đến những điểm liên hệ về văn phạm giúp TS nhận biết câu TL.
e) Không nên dùng hai phương án trái nghĩa nhau làm cho TS chỉ chú ý đến
hai phương án này. Điều này làm cho câu hỏi TNMCQ giông dạng TN " đúng sai".
f) Phương án đúng nên đặt một cách ngẫu nhiên ở các vị trí và không nên
dùng các từ mang ý nghĩa chung chung như: “không câu nào trên đây đúng” hoặc “tất
cả các câu trên đây đều đúng”.
Phương án cho điểm loại câu hỏi MCQ:
Giả sử một TS có số câu TL đúng là R và số câu TL sai là W với số
phương án TL cho sẵn để lựa chọn là k thì công thức thường được dùng để chấm
điểm là:
Điểm =
1

k
W
RĐây là công thức có hiệu chỉnh do yếu tố đoán mò may rủi. Nguyên nhân là do
nếu bài thi gồm có 60 câu, mỗi câu có năm phương án lựa chọn. Xác suất để một
người đoán mò đoán đúng là 20% tức là 12 câu, và sẽ trả lời sai là 48 câu. Chia 48
cho (5-1) thì ta được 12. Khi trừ con số này cho 12 câu trả lời đúng chỉ nhờ may mắn,
người đó sẽ được điểm không. Tuy nhiên nhiêu công trình và nhiều tác giả cho thấy là
việc áp dụng công thức là không cần thiết vì sẽ dùng điểm âm.
1.2.3. Các tiêu chuẩn để đánh giá các câu TN và bài thi TNKQ
1.2.3.1. Các mức độ mục tiêu trong lĩnh vực nhận thức
1.2.3.1.1. Các mức kĩ năng trong lĩnh vực nhận thức

 tổng hợp: là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng
thể mới. Bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu),
một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu
tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin). Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status