Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, muốn thành công trong kinh doanh, doanh nghiệp
phải có các hoạt động Marketing hiệu quả. Hệ thống kênh phân phối nổi lên như một
công cụ marketing quan trọng giúp doanh nghiệp tạo lập và duy trì được lợi thế cạnh
tranh dài hạn trên thị trường.
Những năm gần đây, kênh phân phối ở các tỉnh miền Trung nói chung và Thành
phố Huế nói riêng đã phát triển mạnh cả về số lượng, chất lượng và quy mô. Một trong
những doanh nghiệp có hệ thống kênh phân phối khá hiệu quả ở thị trường Thành Phố
Huế đó là công ty Bia Huế.
Công ty Bia Huế là một doanh nghiệp sản xuất lâu đời tại Huế, công ty đã tạo
dựng được những thương hiệu uy tín của mình trên thị trường này như HUDA,
Festivalhay CARLSBERG Đặc biệt, Bia Huda(lon,chai) luôn là sự lựa chọn hàng
đầu tại thị trường này.
Công ty bia Huế đã đứng vững trên thị trường hơn 10 năm, chính vì thế mà tên
tuổi cùng những thành công mà công ty đạt được được nhiều người tiêu dùng biết đến.
Ban đầu chỉ là một loại bia địa phương, giờ đây phạm vi tiêu thụ của bia Huda chai mở
rộng sang những thị trường mới thậm chí cả nước ngoài. Công ty bia Huế không
ngừng nỗ lực phát huy mặt mạnh của mình tại những thị trường truyền thống, gia tăng
sự trung thành với nhãn hiệu, chất lượng được đảm bảo theo tiêu chuẩn của Đan Mạch,
phát huy tối đa hiệu quả kênh phân phối của mình sẵn có, quan tâm hơn nữa tới các đại
lí và điểm bán của mình .
Trong hệ thống kênh phân phối bia Huda chai nói riêng và các loại bia của công
ty nói chung thì các đại lí cấp 1 được gọi là đại lí, còn các đại lí cấp 2, cấp 3 do đại lí
cấp 1 cung cấp và các cửa hàng bán lẻ gọi chung là các điểm bán.Trong đó, trực tiếp
nhất với công ty bia là các đại lí cấp 1, trực tiếp nhất với người tiêu dùng cuối cùng là
các kênh phân phối. Họ có vai trò quan trọng trong hệ thống kênh phân phối, ít nhiều
quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Bia Huế cũng như toàn bộ
hệ thống kênh phân phối.
1
- Phạm vi về mặt không gian: Thị trường thành phố Huế.
- Phạm vi về mặt thời gian:
2
2
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
Đề tài thu thập các dữ liệu thứ cấp trong phạm vi 3 năm từ 2010 – 2012
Các dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian 1 tháng từ 10/09/2013
đến 10/10/2013.
4. Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Phương pháp thu thập số liệu:
- Dữ liệu thứ cấp:
Tiến hành thu thập từ các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu có sẵn, hoặc thu thập qua
internet, thông tin từ các bài báo Các thông tin cần thu thập bao gồm:
o Thông tin về sự hình thành và phát triển công ty.
o Thị trường tiêu thụ và hệ thống kênh phân phối của công ty Bia Huế.
o Hiệu quả và hạn chế của kênh phân phối, đưa ra đánh giá về chính sách kênh phân
phối bia Huda chai.
Thu thập từ giáo trình Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh của Thầy Hồ Sỹ
Minh, giáo trình Quản Trị Nhân Lực của thầy Bùi Văn Chiêm và các đề tài, khóa luận
có liên quan.
- Dữ liệu sơ cấp:
Dự liệu sơ cấp sẽ được thu thập thông qua điều tra bằng bảng hỏi.Do đặc trưng
của đề tài nên nhóm sẽ tiến hành thu thập thông tin ở hai đối tượng là đại lí cấp 1 và
các điểm bán.Các đại lí cấp 1 sẽ được điều tra chính thức 1 lần, các điểm bán bao gồm
điều tra sơ bộ và điều tra chính thức.Các thông tin cần thu thập bao gồm:
+ Các đặc điểm cơ bản của các kênh phân phối(vị trí, quy mô ).
+ Đánh giá chính sách kênh phân phối bia Huda chai.
+ Các ý kiến đề xuất, góp ý của các kênh phân phối về những mặt còn hạn chế
trong chính sách phân phối.
Phương pháp thu thập thông tin gồm:
• Cách chọn mẫu cho điểm phân phối: Phương pháp được sử dụng để chọn mẫu là
phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn.
Cách tiến hành:
Phân chia tổng thể chung thành các đơn vị cấp I(các đại lý cấp I), rồi chọn các đơn vị
mẫu cấp I.
Phân chia mỗi đơn vị mẫu cấp I, thành các đơn vị cấp II, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp
II (cửa hàng bán lẻ có phân phối sản phẩm của công ty Bia Huế).
• Xác định cỡ mẫu của tổng thể:
4
4
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
Chọn 10/27 phường trên địa bàn.
Gọi X là tổng số điểm phân phối của công ty Bia Huế trên địa bàn 10 phường đã chọn, sau
đó suy rộng ra cho tổng thể về số điểm phân phối trên địa bàn TP Huế (N).
Tiến hành xác định kích thước mẫu để điều tra dựa trên tổng thể đã ước lượng: Theo
phương pháp xác định kích thước mẫu theo tỷ lệ.
Áp dụng công thức:
Trong đó:
n: kích thuớc mẫu
zα/2 = 1,64: giá trị tới hạn tương ứng với độ tin cậy (1 – α) với α = 10%
p = 0,5: tỷ lệ tổng thể (Ðể n đạt cực đại để đảm bảo rằng n được ước lượng có độ lớn
an toàn nhất thì p(1 –p) cũng phải đạt cực đại. Khi p = 0,5 thì p(1 –p) đạt cực đại).
ɛ = 0,07: sai số mẫu
Khi đó, cỡ mẫu ta tính được là 137điểm phân phối. Nhóm nghiên cứu sẽ tiến
hành chọn mẫu là 137địa điểm phân phối trong tổng số địa điểm phân phối của 10
phường để tiến hành điều tra theo như cách chọn mẫu mà nhóm đã đề xuất.
4.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu:
Sử dụng công cụ hỗ trợ là phần mền phân tích xử lý số liệu SPSS 16.0 để thực
hiện những phân tích cần thiết phục vụ cho nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả: Sử dụng bảng tần số và phần trăm,
để đưa hàng hoá từ nơi người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng.
Phân phối trong Marketing gồm các yếu tố cấu thành cơ bản sau đây:
- Người cung ứng (người sản xuất), người tiêu dùng cuối cùng (khách hàng tiêu
dùng cuối cùng): đây là đại biểu tập trung nhất của người bán và người mua. Trên thị
trường người mua luôn đóng vai trò quyết định.
- Người trung gian: (Người bán buôn, bán lẻ) Các trung gian tạo thế kéo đẩy
trên thị trường.
- Hệ thống kho tàng bến bãi, phương tiện vận tải, cửa hàng… Đây là hệ thống
vật chất cơ sở kỹ thuật có vai trò trong việc dự trữ hàng hoá, bảo đảm quá trình lưu
thông diễn ra đều đặn, tham gia trực tiếp vào quá trình mua hàng.
- Hệ thống thông tin thị trường, các dịch vụ của mua và bán (thanh toán hợp
đồng) và các hoạt động yểm trợ khuyếch trương… Đóng vai trò rất quan trọng trong
6
6
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
phân phối. Nó giúp người cung ứng có thể xử lý thông tin một cách chính xác để đưa
ra quyết định phân phối hợp lý.
Tổng hợp các yếu tố này nhằm vận động hàng hoá trên hai phương diện: vận
động tổ chức trao đổi danh nghĩa sở hữu và vận động vật lý của hàng hoá.
Một cách tổng quát hơn, hoạt động phân phối của công ty gồm 3 nhóm vấn đề:
• Tổ chức kênh phân phối.
• Tổ chức việc lưu thông hàng hoá.
• Tổ chức việc phân phối hàng hoá ở khâu bán buôn và bán lẻ.
Chính sách phân phối là sự kết nối các yếu tố phân phối, xây dựng mạng lưới
phân phối và sử dụng các phương pháp phân phối. Chính sách phân phối là một bộ
phận cấu thành của tổ hợp đồng bộ các chiến lược Marketing hỗn hợp bao gồm tất cả
những gì mà công ty có thể vận dụng để tác động lên nhu cầu về hàng hoá của mình.
Có thể hợp nhất rất nhiều khả năng thnàh 4 nhóm cơ bản: hàng hoá, giá cả, phân phối
và xúc tiến hỗn hợp. Chính sách phân phối cùng với các biến số khác của Marketing-
mix sẽ tạo nên “bí quyết dành thắng lợi trong kinh doanh của Marketing”.
marketing.
1.2 Khái quát về hệ thống kênh phân phối
1.2.1 Khái niệm kênh phân phối:
Ngày nay, hầu hết những người sản xuất đều cung cấp sản phẩm của mình cho
thị trường thông qua các trung gian phân phối. Những trung gian phân phối hợp thành
một hệ thống kênh phân phối (còn được gọi là kênh marketing hay kênh thương mại).
Do đó, kênh phân phối được hiểu là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở kinh
doanh phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra và chuyển sản phẩm hay dịch
vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Các biến số của cấu trúc kênh:
- Chiều dài kênh: được phản ánh bởi cấp độ trung gian tham gia vào kênh phân
phối đó.
8
8
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
- Chiều rộng của kênh: là số lượng các trung gian ở mỗi cấp của kênh.
- Các dạng trung gian tham gia vào kênh phân phối.
Các biến số trên tạo nên sự khác nhau của từng hệ thống kênh phân phối.
9
9
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
1.2.2 Cấu trúc kênh phân phối:
Các kênh phân phối có thể được mô tả bằng số lượng các cấp trung gian của nó.
Mỗi người trung gian sẽ thực hiện một số công việc nhất định nhằm đem sản phẩm tới
gần người tiêu dùng hơn và tạo thành một cấp trong kênh phân phối. Vì nhà sản xuất
và người tiêu dùng là điểm đầu và điểm cuối của mỗi kênh phân phối, nên họ cũng là
những bộ phận của kênh. Chúng ta sẽ dùng số cấp trung gian để chỉ độ dài của một
kênh phân phối. Do đặc điểm khác nhau của sản phẩm và dịch vụ mà các kênh phân
phối cũng được thiết kế khác nhau, bao gồm kênh phân phối hàng tiêu dùng, kênh
phân phối tư liệu sản xuất và kênh phân phối dịch vụ.
các nhà cung ứng.
- Lưu chuyển thông tin(information flow) là quá trình các bộ phận trong kênh
phân phối trao đổi thông tin với nhau ở các giai đoạn của tiến trình đưa sản phẩm và
dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
- Lưu chuyển cổ động(promotion flow) là những dòng ảnh hưởng có định
hướng (quảng cáo, bán hàng cá nhân, khuyến mãi, tuyên truyền) từ bộ phận này đến
bộ phận khác trong kênh phân phối.
2. Bản chất của kênh phân phối
2.1 Vai trò của hệ thống kênh phân phối đối với doanh nghiệp
Có nhiều lý do để những người sản xuất sản chuyển giao một phần công việc
tiêu thụ cho những người trung gian phân phối. Việc chuyển giao này cũng có nghĩa là
từ bỏ một số quyền kiểm soát đối với sản phẩm dược bán như thế nào và bán cho ai.
Tuy nhiên , việc bán sản phẩm của mình qua trung gian đem lại cho nhà sản xuất nhiều
lợi thế.
- Nhiều nhà sản xuất không có đủ nguồn lực tài chính để phân phối trực tiếp sản
phẩm của mình đến tận người tiêu dùng cuối cùng, vì việc phân phối trực tiếp đòi hỏi
đầu tư rất nhiều tiền bạc và nhân lực.
12
12
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
- Khi sử dụng các trung gian phân phối, khối lượng bán sẽ tăng hơn do đảm bảo
được việc phân phối rộng khắp và đưa được sản phẩm đến các thị trường mục tiêu một
cách nhanh chóng.
- Việc marketing trực tiếp có thể đòi hỏi nhiều nhà sản xuất trở thành người
trung gian bán các sản phẩm bổ sung của những nhà sản xuất khác để đạt được việc
tiết kiệm nhờ phân phối đại trà. Ngay cả khi người sản xuất có đủ điều kiện để thiết lập
riêng kênh phân phối của mình, nhưng có khả năng đạt nhiều lợi nhuận hơn bằng cách
tăng thêm vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh chính của mình, thì họ vẫn lựa chọn
cách phân phối sản phẩm thông qua các trung gian.
Nhờ quan hệ tiếp xúc, kinh nghiệm việc chuyên môn hóa và qui mô hoạt động,
của kênh phân phối.
Năm chức năng đầu nhằm thực hiện được những giao dịch, ba chức năng sau
nhằm hoàn thiện những giao dịch đã thực hiện.
3.Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kênh phân phối
Mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành hàng có kênh phân phối khác nhau dựa trên các
tiêu chí cơ bản như: Đặc điểm sản phẩm, Mục tiêu của công ty, Chiến lược phân phối,
Mức độ đầu tư vào kênh phân phối.
Tiêu chí quản lý hiệu quả kênh phân phối bao gồm 4 yếu tố chính: Đội ngũ
kinh doanh, Sản phẩm, Đối tác và quản lý đối tác, Nhà phân phối và quản lý nhà
phân phối.
Dựa trên các tiêu chí quản lí kênh phân phối có hiệu quả, chúng ta đánh giá
được một kênh phân phối có hiệu quả hay không.
3. Mô hình nghiên cứu liên quan:
3.1 Mô hình nghiên cứu của các nhà khoa học về sự hài lòng:
Mong muốn, ham muốn và sở thích của khách hàng tiềm năng và hiện tại là
trung tâm của quản lý tiếp thị, điều quan trọng để đảm bảo sự thành công lâu dài của công ty
là làm cho khách hàng hài lòng. Vì vậy một vấn đề đặt ra là đo lường được sự hài lòng của
khách hàng để đánh giá và đưa ra cách nâng cao sự hài lòng của khách hàng.
Geyskens, Steenkamp (2000) cho rằng sự hài lòng của kênh phân phối được
phân biệt bởi 2 loại hài lòng, đó là hài lòng kinh tế và hài lòng xã hội (hài lòng phi
kinh tế).
Hình 1: Hai loại hài lòng của kênh phân phốiGeyskens, Steenkamp (2000)
15
Hài lòng kinh tế
Hài lòng
xã hội
Sự hài lòng kênh phân
phối
15
- Yếu tố thứ năm là sự hỗ trợ về nghiệp vụ bán hàng. Yếu tố này hết sức cần thiết để cập
nhật dịch vụ, giá cước, quy trình mới,… đảm bảo lợi ích của các đại lý bán lẻ giúp cho
16
16
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
công việc bán hàng của họ thuận trở nên dễ dàng, và hiệu quả hơn, tăng khả năng cạnh
tranh, giúp cho khách hàng thuận tiện hơn trong việc mua sắm và sử dụng hàng hóa,
dịch vụ. Riêng với doanh nghiệp, yêu tố này làm tăng doanh thu bán hàng và thị phần
thuê bao.
- Yếu tố thứ sáu là mối quan hệ cá nhân.Yếu tố này thì hầu hết các mô hình nghiên cứu
trước đều có nói đến nhưng với những tên gọi khác nhau. Yếu tố này được đưa vào mô
hình này không chỉ vì nó được đề cập đến nhiều lần từ những nghiên cứu trước mà còn
xuất phát từ một nguyên nhân rất quan trọng đó là phong tục tập quán của người Á Đông
nói chung và người Việt Nam nói riêng. Họ rất coi trọng những quan hệ ngoài kinh doanh,
giữ chữ “Tín” những mối giao tiếp này thường ảnh hưởng rất lớn đến những quan hệ
trong kinh doanh.
Bộ thang đo gồm 06 thang đo cho các biến độc lập và 01 thang đo cho biến phụ
thuộc “ sự hài lòng nhà bán lẻ”. Nhóm sẽ tiến hành nghiên cứu cảm nhận của kênh
phân phối thông qua mô hình nghiên cứu sự hài lòng của nhà bán lẻ dưới đây, nhưng
đối tượng được suy rộng ra cho kênh phân phối.
Sơ đồ 1: Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của nhà bán lẻ
3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất về sự hài lòng:
Để đánh giá chính sách phân phối Bia Huda chai của Công ty Bia Huế nhóm
tiến hành đề xuất mô hình về sự hài lòng của khách hàng thông qua 6 yếu tố:
Cung cấp hàng hóa
Chính sách hỗ trợ thông tin bán hàng
Chính sách bán hàng
17
17
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
đến năm 2003 công suất đưa lên 50 triệu lít/năm, năm 2007 công suất đã lên đến gần
110 triệu lít/năm. Vì vậy, ngay từ năm 2005, dự báo được nhu cầu ngày càng tăng của
khách hàng, nhất là trong những thời điểm “nóng” như :lễ hội festival, mùa hè, tết,
mùa bóng đá…, công ty đã tiến hành xây dựng thêm một nhà máy bia tại khu công
nghiệp Phú Bài với công suất 80 triệu lít/năm vào năm 2008.
Giai đoạn 3 ( Năm 2011 trở đi): Công ty Bia Huế 100% vốn nước ngoài
Cuối tháng 11/2011, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định bán 50% phần
vốn sở hữu còn lại cho Tập đoàn Carlberg (Đan Mạch). Sự chuyển giao này xuất phát
từ bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, nền kinh tế thế giới cũng như
19
19
Thực tập giáo trình – Nhóm 5 - K44B TM GVHD: Lê Ngọc Anh Vũ
trong nước gặp khó khăn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam,
trong đó có công ty Bia Huế. Với quyết định bán đi 50% phần vốn sở hữu của UBND
tỉnh Thừa Thiên Huế, Bia Huế chính thức trở thành Công ty 100% vốn nước ngoài
trực thuộc tập đoàn Carlberg ( Đan Mạch ).
Đến nay, thị trường xuất khẩu của công ty đã được mở rộng ra nhiều nước trên
thế giới như: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Úc, Canada, Indonesia, Malaysia, Lào,
Campuchia… đặc biệt là tại thị trường Mỹ,Bia Huda đã có mặt từ năm 1994.
2. Chức năng và nhiệm vụ:
Chức năng:
• Sản xuất các loại bia phục vụ cho nhu cầu người tiêu dung.
• Hạch toán độc lập và có kết quả kinh doanh cao.
• Làm nòng cốt cho ngành công nghiệp thực phẩm ở Thừa Thiên Huế, thúc đẩy ngành
công nghiệp khác phát triển.
Nhiệm vụ:
• Thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuaatskinh doanh mà hoạt động quản trị giao cho với kế
hạch kinh doanh hàng năm và mục tiêu đặt ra của mình.
• Xây dựng và thực hiện kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của xã hội, tự bù đắp chi phí, trang trải vốn.
Cung
ứng
Giám
đốc
hành
chính
Giám
đốc
nhân
sự
Giám đốc
Marketing
Giám
đốc tài
chính
Giám
đốc
bán
hàng
Nhà máy
Phú
Thượng
Nhà
máy
Phú
Bài
Bếp
ăn
Bảo
vệ
Lợi nhuận sau thuế 309,904,248 299,854,272 293,147,049 -10049676 -3.24 -6707523 -2.24
(Nguồn: Phòng kế toán Công ty TNHH Bia Huế)
22
22
Qua bảng số liệu ta thấy:
Doanh thu và doanh thu thuần tăng dần qua các năm. Trong khi từ năm 2010
đến năm 2011 mức tăng khá thấp, nhưng từ năm 2011 đến 2012, mức tăng về doanh
thu và doanh thu thuần đều khá cao, tăng gần 25% so với năm 2011. Đây là một thành
quả lớn đối với công ty. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam cũng như thế giới đang gặp rất
nhiều khó khăn nhưng công ty vẫn tăng trưởng qua các năm.
Chi phí có sự biến động thất thường qua các năm. Giá vốn hàng bán, chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm tỷ lệ thấp của năm 2011 đến 2012,
đặc biệt là chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm tỉ lệ thấp của năm
2010-2011 đã tăng nhanh và chiếm tỉ trọng cao. Trong khi đó, chi phí tài chính chiếm
tỉ trọng rất cao của năm 2011-2012. Sở dĩ như vậy là do công ty có chiến lược mở rộng
thị trường, nhu cầu sản xuất cũng tăng lên theo các năm, các chiến lược bán hàng, PR,
Marketing cũng đượccông ty đẩy mạnh, đặc biệt trong các dịp lễ hội Festival…
Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Lợi nhuận sau thuế liên tục giảm, tuy mức giảm không lớn tuy nhiên cũng
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty.
Tóm lại, trong giai đoạn 2010-2012 mặc dù doanh thu có mức tăng trưởng cao
tuy nhiên, lợi nhuận có xu hướng sụt giảm, mặc dù vậy, mức giảm này là không cao.
Công ty cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa nhằm cải thiện khả năng kinh doanh của mình.
5. Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty
Tài sản và nguồn vốn là những chỉ tiêu quan trọng để xem xét, đánh giá một
cách đầy đủ quy mô và hiệu quả sản xuất của Doanh nghiệp. Cụ thể tình hình tài sản
và nguồn vốn của Công ty qua các năm 2010-2012 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Tình hình tài sản tại Công tyTNHH Bia Huế qua 3 năm 2010-2012
ĐVT: triệu đồng(trđ)
CHỈ TIÊU Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
2010
Năm
2011
Năm
2012
So sánh
2011/2010 2012/2011
+/- % +/- %
1.Nợ phải trả 423.718 612.009 494.926 188.291 44,44 (117.083) (19,13)
2. vốn chủ sở hữu 585.863 563.328 763.990 (22.535
)
(3,85) 200.662 35,62
Tổng nguồn vốn 1.009.581 1.175.337 1.258.916 165.756 16,42 83.579 7,11
( Nguồn: phòng kế toán Công ty TNHH Bia Huế)
Nhìn chung, qua bảng số liệu trên ta có thể thấy,tổng nguồn vốn của Công ty co
xu hướng tăng lên qua các năm nhưng mức tăng không cao. Cự thể, nợ phải trả của
Công ty giai đoạn 2010 – 2011 tăng mạnh và sau đó giảm nhẹ xuống vào năm 2012.
Trong khi đó vốn chủ sở hữu của Công ty giảm nhẹ vào giai đoạn 2010 – 2011 và rồi
tăng lên vào năm 2012.
Điều này là hợp lí và có thể giải thích là vào giai đoạn 2010- 2011, Công ty
đang trong tiến trình mở rộng quy mô nên cần một khoản chi phí khá lớn,điều này
khiến Công ty phải đi vay vốn khiến nợ phải trả tăng lên và bên cạnh đó vốn chủ sở
hữu cũng được Công ty sử dụng vào việc này nên có xu hướng giảm xuống.
Sau đó vào năm 2012,khi công tác mở rộng đã cơ bản hoàn thành thì hoạt động
kinh doanh của Công ty phát triển tốt, Công ty đã trả một phần nợ vay và tăng thêm
nguồn vốn chủ sở hữu.
II. Đánh giá chính sách phân phối của công ty Bia Huế về sản phẩm Bia Huda
chai trên địa bàn Thành Phố Huế
1. Vị thế của công ty Bia Huế trên thị trường Bia Việt Nam
1.1 Vị thế của công ty Bia Huế trên thị trường Bia Việt Nam