CHỦ ĐỀ 1: Tìm hiểu hoạt động của một loại hình trung gian tài chính ở Việt
Nam (bảo hiểm)
Tìm hiểu hệ thống tài chính và vai trò đối với sự phát triển kinh tế
_______________________________________________________________________________
Tìm hiểu hoạt động 1 của một loại hình trung gian tài chính ở Việt
Nam (bảo hiểm)
A. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM
I. Khái niệm chung về bảo hiểm
1. Nguồn gốc của bảo hiểm
Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh rất phát triển
mạnh, với tốc độ tăng trưởng trung bình. Đặc biệt, ở một số nước trên thế
giới, bảo hiểm đã trở thành một phần không thể thiếu trong kinh doanh, cũng
như trong cuộc sống nói chung.
Bảo hiểm có nguồn gốc rất xa xưa trong lịch sử trong lịch sử văn minh
nhân loại. Tuy nhiên, bảo hiểm xuất hiện khi nào thì người ta vẫn chưa có
câu trả lời chính xác. Ý tưởng bảo hiểm được coi là đã xuất hiện từ lâu, khi
mà người xưa nhận ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc lúa dữ trữ
chung phòng khi mất mùa , chiến tranh…Như vây, ngày xưa , xa xưa, con
người đã có ý thức bất trắc có thể xảy ra đối với mình, và tìm cách phòng
tránh chúng.
Bảo hiểm được hình thành do sự tồn tại của các loại rủi ro và sự đòi hỏi của
con người phải có những biện pháp đề phòng, ngăn chặn việc xảy ra rủi ro,
đồng thời, khắc phục , hạn chế những hậu quả của rủi ro. Bắt đầu từ bảo
hiểm hàng hải, rồi tới những loại bảo hiểm khác như bảo hiểm hỏa hoạn ,
bảo hiểm nhân thọ… bảo hiểm ngày nay phát triển nhanh chóng trên nhiều
mặt và dần dần đóng vai trò quan trọng đối với con người.
2. Khái niệm bảo hiểm
Bảo hiểm là một sự thỏa thuận hợp pháp thông qua đó là một cá nhân hay
tổ chức ( người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất
định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác(người bảo hiểm) để đổi lấy những
cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện qui định
dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi
thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán:
Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi
phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham
gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và
bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được
ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi
thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con
người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro
do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo
hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường,
người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm
của bên thứ ba gây ra.
Nguyên tắc đóng góp tổn thất:
Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng
bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm
trách nhiệm đã nhận bảo hiểm .
II. Các Loại Hình Bảo Hiểm
Bảo hiểm xã hội : BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì
mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập
quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có
5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng
quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng
thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp
các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh
lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại :
Thứ nhất: BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm
mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau:
chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không
may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp đồng, chi
trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT
thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số
lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi
vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty.
* Bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại
khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:
Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.
Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung, BHPNT còn có các
đặc trưng chủ yếu sau: Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn
ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPN chỉ bồi thường và chi trả
tiền bảo hiểm khi có rủi ro được xảy ra.
B. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng bảo hiểm xã hội việt nam:
- Nguồn thu:
Trong trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện theo 2 mô hình:
nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia
của giới chủ và giới. Quỹ BHXH được hình thành từ : sự đóng góp của
người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương.
Ngoài ra , BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư.
- Chi :
Từ nguồn thu quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí.
Đó là chi trả cho các đối tưởng được hưởng BHXH đó là những đối tượng
về hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối
thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước.
Hiện nay, BHXH còn đang nổ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải
cách tiền lương ở Việt Nam. Nâng cao mức sống của những người lao động
đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.
Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là
công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập
ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.
Các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:
Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào
hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi 3 công
ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire
insurance Co Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000
đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều cho cả 2
công ty nươc ngoài.
Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh- CMG: Đây là
công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (úc) và công ty bảo hiểm thành phố
Hồ Chí Minh.
Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ
Môi trường hoạt động của các công ty bảo hiểm Việt Nam
Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:
+ Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới. Đây
là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó,
mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại
có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không
ngừng thay đổi và phát triển.
+ Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn . Do đó
nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.
+ Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân
dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc
doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng
lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ
và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều
quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty
bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:
+ Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm:
Để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng
chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu.
+ Nghiệp vụ đầu tư:
Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền
kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước.
Những tồn tại của bảo hiểm thương mại
Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ
doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo
hiểm còn ít.
Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại
không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững.
Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn
thiếu công cụ đầu tư dài hạn.
Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm
còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định
chưa rõ ràng.
Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất
thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí
bảo hiểm của khách hàng.
Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi
động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của
mình.
Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín
và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao.
C. CÁC GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Ở VIỆT
NAM
• Hoạt động đầu tư cũng cần được đẩy mạnh một cách có hiệu quả,
bằng cách tận dụng tối đa các công cụ đầu tư tài chính, tham gia tích
cực vào thị trường chứng khoán. Khi tham gia đầu tư vào các công
trình, các dự án có vốn lớn, các công ty cần chú trọng công tác thẩm
định để đảm bảo mức độ an toàn, tính thanh khoản cũng như khả năng
sinh lời cho đồng vốn.
• Xúc tiến thương mại là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên thành
công của một doanh nghiệp. Trong lĩnh vực bảo hiểm, yếu tố này có
vai trò rất quan trọng, đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, khi mà nhận
thức của người dân về sự cần thiết của bảo hiểm đối với nền kinh tế,
cũng như đối với đời sống xã hội vẫn còn hạn chế. Đây là một cơ hội
tốt để các doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao hiểu biết của người dân về
bảo hiểm, đồng thời xây dựng được hình ảnh của công ty mình trong
những khách hàng tiềm năng.
• Đa dạng hoá các kênh phân phối thông qua nhiều hình thức khác nhau.
Một trong các phương pháp thường gặp hiện nay ở các công ty bảo
hiểm là tiến hành qua hệ thống ngân hàng, qua các tổ chức tài chính.
• Ngoài ra, việc tiếp cận khách hàng bằng thư trực tiếp hoặc Internet
cũng có thể mang lại hiệu quả cao. Trong xu thế thương mại điện tử
đang ngày càng phát triển như hiện nay, việc bán bảo hiểm qua mạng
đang ngày càng phổ biến. Hầu hết các công ty bảo hiểm trên thị
trường Việt Nam đều đã có website riêng, song mới chỉ có một vài
công ty cho phép khách hàng đăng ký mua bảo hiểm, cũng như thanh
toán trực tuyến. Việc triển khai hình thức này còn nhiều khó khăn, do
hạ tầng thông tin nước ta còn yếu kém, thanh toán bằng tiền mặt vẫn
rất phổ biến… Tuy nhiên, đó cũng là một phương thức hiệu quả mà
các công ty bảo hiểm cần quan tâm triển khai nhằm đón trước thời cơ
trong tương lai.
• Bên cạnh việc phát huy nội lực, các công ty bảo hiểm rất cần hợp tác
với nhau trong nhiều mặt. Thông qua Hiệp hội bảo hiểm, các thành
lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) phối hợp với Công ty TNHH
Ernst&Young Việt Nam (EYVN) đã tổ chức thành công Hội thảo "Phát triển
bền vững - Lựa chọn nào cho doanh nghiệp bảo hiểm?" với hơn 100 khách mời
là đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm Nhân thọ, Phi nhân thọ, các tập đoàn tài
chính, các trường Đại học, Hiệp hội BHVN,…
"Việc xây dựng, phát triển thị trường bảo hiểm an toàn, lành mạnh, tăng trưởng
bền vững, mở rộng phạm vi người thụ hưởng bảo hiểm, và cung cấp sản phẩm,
dịch vụ bảo hiểm tốt hơn cho người tham gia bảo hiểm là mục tiêu của tất cả
các cơ quan quản lý bảo hiểm của các quốc gia. ” - ông Phùng Ngọc Khánh -
Phó Cục trưởng Phụ trách Cục quản lý, giám sát bảo hiểm - Bộ Tài chính cho
biết.
Đây là một mục tiêu hướng tới của nhà nước nói chung và doanh nghiệp
bảo hiểm nói riêng, góp phần vào sự phát triển của ngành bảo hiểm nước
ta hiện nay.
________________________________________________________________
Tìm hiểu hệ thống tài chính và vai trò đối với sự p hát triển kinh tế
A. CÁC QUAN NIỆM VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
I. Quan niệm thứ nhất
- Chỉ tiêu căn cứ: Căn cứ vào mục tiêu kiểm soát lãi suất, hệ thống tài chính
được chia làm 2 mô hình: hệ thống tài chính được kiểm soát và hệ thống tài
chính tự do.
- Hệ thống tài chính được kiểm soát :
+ Đặc điểm: Lãi suất ngân hàng được ấn định, kiểm soát khá chặt chẽ và gần
như cố định, không tồn tại yếu tố cạnh tranh trong 1 hệ thống ngân hàng độc
quyền bởi nhà nước. Kiểu mô hình hệ thống tài chính này chỉ có thể tồn tại với
điều kiện có sự can thiệp và kiểm soát của nhà nước thông qua hệ thống ngân
hàng thuộc sở hữu bởi nhà nước nhằm mục đích ổn định kinh tế và hướng các
dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên phát triển, phù hợp với một số nước đang phát
triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi.
+ Hạn chế: các tài sản tài chính có tính lỏng thấp, gây sự khác biệt về lãi suất
+ Hạn chế: có thể gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, rủi ro cao, khủng hoảng ngân
hàng dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
+ Thực trạng: Các tổ chức tài chính ở Việt Nam hoạt động theo mô hình này:
các công tay bảo hiểm không thuộc nhà nước, các công ty chứng khoán không
thuộc nhà nước.
Nhận xét: Theo quan niệm này, hệ thống tài chính đã nhấn mạnh tới vai trò
kiểm soát của nhà nước, đặc biệt là kiểm soát đối với lãi suất. Cho đến nay thực
tế đã chứng minh việc đề cao hay xem nhẹ quá mức vai trò kiểm soát của nhà
nước đối với lãi suất đều gây ra những tác động khôn lường đối với nền kinh tế.
II, Quan niệm thứ hai
-Khái niệm: Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các
lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau
trong quá trình tạo tập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu
khác nhau của các chủ thể kinh tế-xã hội.
-Căn cứ: Việc xây dựng hệ thống tài chính theo quan điểm này xuất phát từ các
chủ thể trong nền kinh tế. Mỗi chủ thể được xác định là chủ thể phân phối tài
chính, được coi là “mắt xích tài chính” hay còn gọi là một “khâu” trong hệ
thống tài chính, bao gồm: ngân sách nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tín dụng,
bảo hiểm, tài chính hộ gia đình. Ở đây, thị trường tài chính không được coi là
một khâu tài chính mà chỉ là “môi trường” cho các khâu tài chính hoạt động.
- Ngân sách nhà nước: là khâu quan trọng nhất, giữ vai trò chủ đạo trong hệ
thống tài chính thực hiện việc điều tiết, chi phối, hướng dẫn các khâu tài chính
khác, gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, đồng thời là phương tiện
vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền nhà nước thực hiện được nhiệm vụ
của mình. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, Ngân sách nhà nước có
vai trò to lớn trong điều tiết vĩ mô của nền kinh tế xã hội. Đó là vai trò định
hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời
sống xã hội…Để thực hiện được các vai trò đó, ngân sách nhà nước phải có các
nguồn vốn được tập trung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thu thích
hợp. Ngân sách nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên
nguồn vốn nhỏ từ các hộ gia đình và các tổ chức kinh tế thành một lượng vốn
lớn, đáp ứng nhu cầu của người cần vốn từ những khối lượng vay nhỏ đến
những khối lượng vay lớn. Chính vì vậy, các trung gian tài chính đã đáp ứng
được những nhu cầu mà thị trường tài chính không giải quyết được hoặc giải
quyết không hiệu quả.
- Hạn chế: Trong điều kiện nền kinh tế mở, các công cụ bảo hộ của nhà nước
giảm dần, sự can thiệp của nhà nước chỉ dừng lại ở một số lĩnh vực nhất định,
và trong những trường hợp nhất định, các dòng vốn luân chuyển một cách nhạy
bén linh hoạt trong phạm vi toàn cầu…Hơn nữa, trong nền kinh tế hiện đại, tài
chính không chỉ dừng lại là hệ thống các mối quan hệ tài chính giữa các chỉ thể
trong nền kinh tế mà còn được coi là phương tiện hữu hiệu để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế về tổng thể. Chính vì vậy, việc tổ chức và quản lý hệ thống tài
chính theo quan điểm này sẽ không còn phù hợp với nền kinh tế hội nhập sâu và
rộng vào nền kinh tế thế giới.
Nhận xét: Hệ thống tài chính theo quan niệm này đã đề cập đến tổng thể các
hoạt động của một tập hợp các định chế tài chính có mối quan hệ ràng buộc chặt
chẽ nhằm thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn với nhau. Xây dựng và quản lý tài
chính theo quan niệm này phù hợp với các quốc gia có nền kinh tế đang trong
quá trình chuyển đổi, ở đó cần có sự can thiệp khá sâu của nhà nước góp phần
thúc đẩy và bảo vệ nền kinh tế chưa đủ sức cạnh tranh với nền kinh tế toàn cầu.
III, Quan niệm thứ ba
- Khái niệm: Hệ thống tài chính là một tổng thể bao gồm các thị trường tài
chính, các định chế tài chính trung gian, cơ sở hạ tầng pháp lý- kĩ thuật và các tổ
chức quản lý giám sát và điều hành hệ thống tài chính để tổ chức và phân bổ
nguồn lực tài chính nhằm đạt được mục tiêu của các chủ thể trong nền kinh tế.
- Căn cứ: Hệ thống tài chính được xem xét theo cách thức luân chuyển và cung
ứng vốn cho nền kinh tế.
- Hệ thống tài chính bao gồm: thị trường tài chính, các định chế trung gian tài
chính, cơ sở hạ tầng pháp lý- kĩ thuật, tổ chức, các tổ chức giám sát và điều
hành hệ thống tài chính.
- Dòng luân chuyển vốn:
Trung gian tài chính Thị trường tài chính Người cần vốn
+ Đặc điểm: Dòng vốn này thể hiện hoạt động đầu tư của các trung gian tài
chính trên thị trường tài chính. Các trung gian tài chính có thể đầu tư mua cổ
phiếu, trái phiếu khi họ thấy có lợi.
+ Ưu điểm: làm tăng lợi nhuận cho các trung gian tài chính.
+ Nhược điểm: Tiềm ẩn rủi ro cao.
Nhận xét: Đây là quan điểm hoàn thiện nhất về hệ thống tài chính. Dòng
vốn trong xã hội được luân chuyển theo nhiều cách thức khác nhau. Mỗi cách
thức luân chuyển vốn đều mang lại những điểm lợi và bất lợi cho người có vốn
và người cần vốn. Xét trên góc độ tổng thể, sự vận động đa dạng của các dòng
vốn đã làm cho vốn trong xã hội được sử dụng một cách triệt để và kích thích
đồng vốn “chảy” được đến nơi hiệu quả sử dụng cao nhất, từ đó tạo điều kiện
cho nền kinh tế tăng trưởng.
B. VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ
Vai trò của hệ thống tài chính thể hiện thông qua các mối liên hệ giữa các dòng
vốn với tăng trưởng kinh tế và sự điều hành của các định chế tài chính (chủ yếu
là các trung gian tài chính) trong việc phân bổ nguồn lực vào các khu vực kinh
tế, các hoạt động kinh tế một cách hiệu quả. Qua đó ta thấy, hệ thống tài chính
có 2 vai trò cơ bản sau đây:
1. HTTC tạo ra các dòng vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế
Từ sơ đồ dòng tiền trên ta thấy hệ thống tài chính thông qua các kênh huy động
vốn trực tiếp và gián tiếp, đã huy động tối đa nguồn tài chính trong và ngoài
nước
Đáp ứng mọi nhu cầu vốn phục vụ cho đầu tư và hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Tạo ra các dòng vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế.
Vai trò của các dòng vốn đến tăng trưởng kinh tế:
• Dòng vốn nội sinh: thường được cung cấp bởi chính phủ hoặc tư nhân
lập được các mối quan hệ vay mượn.
Các trung gian tài chính hoạt động mang tính chuyên nghiệp cao nên giúp
giảm thiểu được rủi ro và các chi phí giao dịch.
Ý nghĩa mà các trung gian tài chính mang lại đó là sự tích lũy vốn cho
nền kinh tế và hỗ trợ đổi mới công nghệ cho vấn đề tăng trưởng nhìn ở
nhiều khía cạnh khác nhau. Các trung gian tài chính đã tạo ra cơ chế để
các dòng vốn đi qua một cách thuận lợi.
Như vậy, với khả năng huy động vốn và các sản phẩm đa dạng, phong
phú, hệ thống tài chính đã tạo điều kiện cho các nguồn vốn trong xã hội
được phân bổ một cách hiệu quả, linh hoạt từ người có vốn sang người
cần vốn, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trong toàn khu vực và
thế giới. Chính điều này đã giúp các nguồn tài chính được chuyển đến
cho ngành hay nền kinh tế có hiệu quả cao nhất.
Có thể tóm tắt vai trò của hệ thống tài chính với phát triển kinh tế trong
hai sơ đồ sau:
class="bi x3 y55 w8 hd"
class="bi x0 y133 w4 he"