Văn hóa doanh nghiệp của ngân hàng công thương việt nam nghiên cứu điển hình chi nhánh ngân hàng công thương hai bà trưng - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG

Họ tên sinh viên : Hoàng Huy Thành
Lớp : Anh 6
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Lệ Hằng

Hà Nội, tháng 5 năm 2010 1

LỜI MỞ ĐẦU
Trong vài năm gần đây chủ đề văn hoá doanh nghiệp đã nhận được sự

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề mang tính lý luận về văn hoá
doanh nghiệp và thực trạng văn hoá doanh nghiệp tại Chi nhánh NHCT
Hai Bà Trưng.
- Phạm vi nghiên cứu: tại Chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng và số liệu
nghiên cứu từ năm 2007 – 2009.
Phƣơng pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp khảo sát, điều tra (40 phiếu khảo sát), thống kê
toán học, phân tích tổng hợp. Nguồn thông tin sử dụng:
+ Thứ cấp: Các báo cáo, quy chế, văn bản do Ngân hàng cung cấp.
+ Sơ cấp: Thông tin thu được qua phiếu điều tra, phỏng vấn và quan
sát.
- Quy trình làm phiếu khảo sát:
+ Xác định mục đích, đối tượng đề tài cần hướng tới để thiết kế mỗi
phiếu 18 câu hỏi trắc nghiệm liên quan đến VHDN.
+ Tiến hành phát phiếu điều tra tại các Phòng ban của Chi nhánh
NHCT Hai Bà Trưng.
+ Thu nhận, tập hợp các phiếu điều tra, kiểm tra các thông tin thu được.
+ Tổng kết điều tra, đánh giá kết quả.
+ Số lượng phiếu phát ra: 40 phiếu 3

+ Số lượng phiếu thu về: 40 phiếu
+ Nội dung phiếu khảo sát: tập trung vào sự nhận thức của cán bộ công
nhân viên về VHDN và thực tế VHDN tại Chi nhánh NHCT Hai Bà
Trưng, từ đó thấy được thực trạng VHDN tại ngân hàng và đưa ra
giải pháp xây dựng và phát triển VHDN tại Chi nhánh.
Bố cục đề tài

trồng (sáng tạo, xây dựng) và điều chỉnh (cải tạo) cuộc sống của mình theo
định hướng vươn tới các giá trị chân thiện mỹ. Nó được xem là nền tảng cho
sự phát triển ngày càng thăng bằng và bên vững hơn của con người và xã hội.
Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình, con người luôn 5

sáng tạo không ngừng để làm nên các giá trị văn hoá. văn hoá ko fải là giá trị
cố định, bất biến. văn hoá là phát triển, thúc đẩy phát triển, là động lực và
mục tiêu của phát triển. Một trong những định nghĩa đầu tiên được chấp nhận
rộng rãi do nhà nhân chủng học E.B Tylor đưa ra, ông xem văn hoá là “một
phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập
quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người đạt được với tư
cách là một thành viên của xã hội”.
Định nghĩa có thể nói là rộng nhất về văn hoá là của Edouard Herriot,
“Văn hoá là cái còn lại khi tất cả những cái khác đã bị lãng quên”. Một định
nghĩa được sử dụng khá phổ biến khác, tiệm cận gần hơn với bản chất văn
hoá, do ông Frederico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra: “Văn hoá
bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những
sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối
sống và lao động”.
1.2. Văn hoá doanh nghiệp
Mỗi xã hội đều có nền văn hoá của nó, và một doanh nghiệp cũng có
văn hoá của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tồn tại là để sản xuất của cải vật
chất và làm dịch vụ. Mọi hoạt động sản xuất đều gắn liền với một dây chuyền
công nghệ nhất định. Để vận hành được các khâu của dây chuyền này, trong
doanh nghiệp phải có hệ thống tổ chức, quản lý thật chặt chẽ từ khâu đầu đến
khâu cuối. Điều này có nghĩa là trong các hoạt động của doanh nghiệp, mọi
người đều phải tuân theo những giá trị – chuẩn mực cụ thể nào đó và thực

và ra quyết định thích hợp. Các thành viên của tổ chức doanh nghiệp không
đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc và thủ pháp ấy, mà coi chúng là
đúng đắn ngay từ đầu. VHDN là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin
chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ
chức đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động 7

của các thành viên. Điều đó có nghĩa là trong doanh nghiệp tất cả các thành
viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động kinh
doanh.
Như vậy, nội dung của văn hoá doanh nghiệp không phải là một cái gì
đó tự nghĩ ra một cách ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá trình hoạt
động kinh doanh thực tiễn, trong quá trình liên hệ, tác động qua lại và có quan
hệ, như một giải pháp cho những vấn đề mà môi trường bên trong và bên
ngoài đặt ra cho doanh nghiệp. VHDN thể hiện được những nhu cầu, mục
đích và phương hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho
doanh nghiệp có được màu sắc riêng, tức là nhân cách hóa doanh nghiệp đó.
Văn hoá doanh nghiệp là cơ sở của toàn bộ các chủ trương, biện pháp cụ thể
trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phối kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. chính vì vậy, có thể nói thành công hoặc thất bại của các doanh
nghiệp đều gắn với việc có hay không xây dựng được văn hoá doanh nghiệp
theo đúng nghĩa của khái niệm này.
2. Thành phần của văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp là hệ thống giá trị, là cái hồn của doanh nghiệp
song nó không chỉ bao hàm những yếu tố vô hình, khó nhận biết mà rất hữu
hình, thể hiện rõ một cách vật chất, chẳng những trong hành vi kinh doanh
giao tiếp của cán bộ công nhân viên, mà cả trong hành hoá và dịch vụ của
doanh nghiệp, từ mẫu mã, kiểu dáng đến nội dung và chất lượng. Những tính

doanh nghiệp. Lớp này bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một
người có thể nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy khi tiếp xúc với một tổ chức có
nền văn hoá xa lạ. Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp 9

bao gồm 5 nhóm yếu tố.
2.1.1. Kiến trúc của doanh nghiệp
Bao gồm kiến trúc ngoại thất và thiết kế nội thất công sở. Từ sự tiêu
chuẩn hóa về màu sắc, kiểu dáng đặc trưng, thiết kế nội thất như mặt bằng,
quầy, bàn ghế, phòng, giá để hàng, lối đi, loại dịch vụ, trang phục đến những
chi tiết nhỏ nhặt như đồ ăn, vị trí công tắc điện, thiết bị. Tất cả đều được sử
dụng để tạo ấn tượng thiện trí với khách hàng cũng như cảm giác thân quen,
được quan tâm cho nhân viên. Sở dĩ như vậy là vì kiến trúc ngoại thất có thể
có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con người về phương diện cách thức
giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc. Hơn nữa, công trình kiến trúc có
thể được coi là một “linh vật” biểu thị một ý nghĩa, giá trị nào đó của một tổ
chức, chẳng hạn: giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời và trưởng thành của tổ
chức, các thế hệ nhân viên, xã hội, còn các kiểu dáng kết cấu có thể được coi
là biểu tượng cho phương châm chiến lược của tổ chức. Trong xã hội ngày
nay, các doanh nghiệp càng chú ý hơn tới kiến trúc, diện mạo của mình để
khẳng định năng lực tài chính của doanh nghiệp cũng như uy thế trước các
đối thủ, đối tác và khách hàng.
2.1.2. Các nghi lễ
Đó là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng
dưới hệ thống các sự kiện văn hoá - xã hội chính thức, được thực hiện định kỳ
hay bất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ và thường được tổ chức vì lợi ích
của những người tham dự. Những người quản lý có thể sử dụng nghi lễ như
một cơ hội quan trọng để giới thiệu về những giá trị được tổ chức coi trọng,

Trong thực tế, để làm việc được cùng với nhau chúng ta cần phải có sự
hiểu biết lẫn nhau thông qua việc dùng chung một ngôn ngữ. Phong cách giao 11

tiếp ngôn ngữ của nhân viên với nhau, với khách hàng hay cấp trên đều thể
hiện nét văn hoá doanh nghiệp. Tuy vậy, mỗi cá nhân có phong cách giao tiếp
khác nhau, chính vì thế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh và cách nhìn nhận
của khách hàng, nhà cung cấp đối với công ty. Xây dựng một phong cách giao
tiếp chuẩn cho toàn thể công nhân viên là một tiêu chí vô cùng quan trọng
trong việc xây dựng văn hoá và thương hiệu cho doanh nghiệp.
Nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã sử dụng những câu chữ đặc biệt, khẩu
hiệu, ví von, ẩn dụ hay một sắc thái ngôn ngữ để truyền tải một ý nghĩa cụ thể
đến nhân viên của mình và những người hữu quan. Khẩu hiệu là hình thức dễ
nhập tâm và được không chỉ nhân viên mà cả khách hàng và nhiều người khác
luôn nhắc đến. Với nhiệm vụ phải đi vào tiềm thức của khách hàng, khẩu hiệu
cần nêu bật được những gì mà doanh nghiệp muốn nhắn nhủ hay nói cách
khác là phải mang trong mình thông điệp ấn tượng. Khẩu hiệu thường rất
ngắn gọn, hay sử dụng các ngôn từ đơn giản, dễ nhớ và nhấn mạnh vào lợi ích
sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô đọng nhất
của triết lý hoạt động, kinh doanh của một tổ chức, một công ty. Vì vậy,
chúng cần được liên hệ với bản tuyên bố sứ mệnh của tổ chức, công ty để
hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của chúng.
2.1.5. Giai thoại
Giai thoại là những câu chuyện về quá trình hình thành và phát triển
của doanh nghiệp, về những năm tháng gian khổ và vinh quang của doanh
nghiệp hay về một nhân vật anh hùng của doanh nghiệp (nhất là hình tượng
người sáng lập, thủ lĩnh). Các câu chuyện này thường được thêu dệt từ những
sự kiện có thực được mọi thành viên trong tổ chức cùng chia sẻ và nhắc lại

định hướng cho hoạt động, hành vi của các thành viên trong doanh nghiệp,
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong sản xuất - kinh doanh. 13

Triết lý kinh doanh vạch ra mục tiêu, phương thức thực hiện và các giá trị đạo
đức cho mọi thành viên, từ đó tạo nên một phong thái văn hoá đặc thù của
doanh nghiệp. Triết lý kinh doanh thể hiện quan điểm riêng biệt của từng
doanh nghiệp, được xây dựng nên bởi những người sáng lập doanh nghiệp,
đồng thời được bổ sung, đúc kết trong quá trình phát triển và trưởng thành
của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp khi xây dựng triết lý kinh doanh đều có
một mục đích: nó sẽ là thông điệp giúp đỡ các nhân viên trong toàn doanh
nghiệp, nhắc nhở họ về những thái độ cần có và những hành động cần làm.
2.2.1. Vai trò của triết lý kinh doanh
Triết lý kinh doanh là cốt lõi của văn hoá doanh nghiệp, tạo ra phương
thức phát triển bền vững. VHDN được cấu thành bởi nhiều yếu tố trong đó
hạt nhân là các triết lý và các giá trị. Triết lý kinh doanh là cơ sở để bảo tồn
phong thái và bản sắc văn hoá của doanh nghiệp. Một khi đã phát huy được
tác dụng thì triết lý rất ít thay đổi, nó trở thành ý thức lý luận và hệ tư tưởng
chung của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, triết lý kinh doanh còn là công cụ định
hướng và quản lý chiến lược của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh của
các doanh nghiệp vốn phức tạp và biến đổi không ngừng, để tồn tại được,
doanh nghiệp cần có tính mềm dẻo, linh hoạt và hơn thế nữa, muốn phát triển
được lâu dài nó cần thêm năng lực chủ động kinh doanh với sự khôn ngoan,
sáng suốt. Đối với cán bộ quản trị, triết lý doanh nghiệp là một văn bản pháp
lý và là cơ sở văn hoá để họ có thể đưa ra các quyết định quản lý quan trọng,
có tính chiến lược và phù hợp với văn hoá doanh nghiệp.
Triết lý kinh doanh còn là một phương tiện để giáo dục và phát triển
nguồn nhân lực của doanh nghiệp, đó là bài học đầu tiên cho mọi thành viên

trong doanh nghiệp thống nhất với nhau trong cách lý giải các sự vật, hiện
tượng xung quanh họ, giúp họ xác định được cái gì là đúng, cái gì là sai, định 15

hình trong đầu họ rằng cái gì được cho là quan trọng, cái gì được khuyến
khích cần phát huy, tạo ra một đích đến chung cho toàn doanh nghiệp. Tóm
lại, lý tưởng thể hiện định hướng căn bản, thống nhất hoá các phản ứng của
mọi thành viên trong doanh nghiệp trước các sự vật, hiện tượng. Cụ thể hơn,
lý tưởng của một doanh nghiệp được ẩn chứa trong triết lý kinh doanh, mục
đích kinh doanh và phương châm hành động của doanh nghiệp đó
Niềm tin là khái niệm đề cập đến việc mọi người cho rằng thế nào là
đúng, thế nào là sai. Nó khác lý tưởng ở chỗ được hình thành một cách có ý
thức, được xét đoán và rõ ràng. Xây dựng niềm tin trong doanh nghiệp đòi hỏi
các cấp quản lý phải có trình độ kiến thức và kinh nghiệm, từ đó, niềm tin của
người lãnh đạo sẽ dần dần được chuyển hoá thành niềm tin của tập thể thông
qua những giá trị. Một khi hoạt động nào đó trở thành thói quen và tỏ ra hữu
hiệu, chúng sẽ chuyển hoá dần thành niềm tin, dần dần chúng có thể trở thành
một phần lý tưởng của những người trong tổ chức này.
Giá trị, về bản chất, là khái niệm liên quan đến chuẩn mực đạo đức và
cho biết con người cho rằng họ cần phải làm gì. Đó là quan niệm về nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín, về sự bình đẳng, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Đây là các
yếu tố thuộc về văn hoá dân tộc, trong hành vi ứng xử, chúng được coi như
điều đương nhiên trong các mối quan hệ của doanh nghiệp. Xã hội cũng như
doanh nghiệp luôn tồn tại các hành động tốt - xấu, vấn đề là các doanh nghiệp
làm thế nào để thể chế hoá, hình thành và xây dựng được một hệ thống các
chuẩn mực đạo đức chính thức cho mình.
Thái độ là chất kết dính niềm tin và giá trị thông qua tình cảm. Thái độ
chính là thói quen tư duy theo kinh nghiệm, là lối phản ứng theo một cách

doanh nghiệp. Văn hoá cũng rất có giá trị đối với các thành viên trong doanh
nghiệp, bởi vì nó giảm sự mơ hồ của họ, nó nói với họ mọi việc nên được làm
như thế nào và điều gì là quan trọng. 17

1. Đối với hoạt động quản lý doanh nghiệp
Quản trị là tổng hợp các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo hoàn
thành công việc thông qua sự nỗ lực thực hiện của người khác. Hay nói cách
khác, quản trị chính là việc làm thế nào để những người dưới quyền mình
thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất nhằm đạt được mục tiêu chung.
Mà muốn điều hành được nhân viên thì nhà quản trị nhất thiết phải nắm vững
hệ thống ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy
được họ đồng thuận, ảnh hưởng đến cách thức hành động của họ, đó chính là
văn hoá doanh nghiệp. Vậy, VHDN chính là công cụ, phương tiện mà qua đó
nhà quản trị thực hiện công việc quản lý của mình. Song, VHDN cũng có
những ảnh hưởng nhất định đến quyết định của người quản lý cũng như định
hình phong cách lãnh đạo của họ. Với những công ty có đặc trưng văn hoá
không chú trọng đến việc xây dựng niềm tin vào người lao động, người quản
lý thường sử dụng các biện pháp tập quyền, độc đoán, thay cho các biện pháp
phân quyền và dân chủ. Khi đã có được VHDN thì sức ép về quản lý của ban
lãnh đạo sẽ được giảm đi nhờ sự chia sẻ của cấp dưới. Các nhân viên sẽ được
quyền tự biết điều hành và cần phải làm gì trong những tình huống khó khăn.
Trong một môi trường tổ chức mà mọi người đều tham gia chia sẻ thực sự thì
vai trò của các giám đốc trong quản lý sẽ giảm nhẹ đi rất nhiều. Đó là phương
diện quan trọng của quản lý theo văn hoá và quản lý bằng văn hoá .
Văn hoá doanh nghiệp ảnh hưởng tới hoạt động quản trị doanh nghiệp
nói chung và do đó ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động thuộc chức năng quản
trị: quản trị chiến lược, quản trị nhân lực, quản trị sản xuất, quản trị tài chính

xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao
động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất
lượng. Chính vì vậy, quản trị nhân lực cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của
VHDN, bầu không khí trong doanh nghiệp, những lối sống, nhu cầu cách nhìn 19

nhận về giá trị con người trong doanh nghiệp có ảnh hưởng đến lối tư duy và
các chính sách quản trị nhân lực của tổ chức. Hơn nữa, thực hiện công tác
quản trị nhân lực cũng là nhằm khai thác các tiềm năng về thể lực và quan
trọng hơn về trí lực của con người sao cho phù hợp với yêu cầu công việc của
tổ chức đó, cũng chính là công cụ xây dựng văn hoá doanh nghiệp. Những
hoạt động cụ thể của quản trị nhân lực: tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát
triển, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực trong tổ chức cũng chính
là hình thức biểu hiện của VHDN. Khi trong doanh nghiệp đã hình thành một
văn hoá mạnh, các nhân viên sẽ cống hiến hết mình vì mục tiêu của doanh
nghiệp.
1.3. Quản trị sản xuất - dịch vụ
Quản trị sản xuất là quản lý quá trình hoặc hệ thống tạo ra hàng hoá và
dịch vụ. văn hoá doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến lĩnh vực này,
nó đóng vai trò như một chất xúc tác gắn kết các nhân viên, tạo động lực tinh
thần mạnh mẽ trong lao động, giúp nhà quản trị sản xuất đạt được mục tiêu
của mình, giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể để đạt lợi nhuận cao nhất,
rút ngắn thời gian sản xuất, tổ chức xây dựng hệ thống sản xuất và cung ứng
dịch vụ có độ linh hoạt cao thích ứng với sự thay đổi nâng cao khả năng cạnh
tranh: chất lượng, mẫu mã, giá cả.
1.4. Quản trị tài chính
Ngay cả trong lĩnh vực Quản trị tài chính, uy tín của doanh nghiệp đối
với nhà nước, các tổ chức tín dụng, đối với cổ đông, tính minh bạch, trung

hiện chức năng, chiến lược, mục tiêu đặt ra của doanh nghiệp. 21

2.2. Phối hợp và kiểm soát
Nhìn một cách rộng hơn, văn hoá thúc đẩy sự thống nhất trong nhận
thức, cũng chính là tạo thuận lợi trong phối hợp và kểm soát. Văn hoá biểu
hiện trong truyền thống của doanh nghiệp, tạo ra khuôn mẫu ứng xử của
doanh nghiệp đó, được các thành viên chấp nhận và tuân thủ, thể hiện sự hoà
đồng bên trong doanh nghiệp nói chung, cũng như việc ra quyết định trong
những trường hợp cụ thể. Đặc biệt là trong việc ra quyết định gặp phải những
thực tế phức tạp, do sự khác nhau về nhận thức, về văn hoá địa phương của
các thành viên, thì VHDN sẽ có tác dụng để phạm vi hoá sự lựa chọn. Văn
hoá không chỉ xem như một yếu tố thuận lợi cho phối hợp, mà trong hình thái
giá trị, niềm tin, cách ứng xử, đặc biệt là các nhận thức chung. Văn hoá còn
tạo ra sức mạnh để kiểm soát doanh nghiệp. Những chính kiến văn hoá đã hạn
chế một cách có hiệu quả hành vi của các thành viên trong doanh nghiệp, họ
chỉ được tự do thể hiện chính kiến cá nhân của mình trong khuôn khổ chung
của doanh nghiệp, điều này trong nhiều trường hợp còn mạnh hơn cả những
hệ thống nguyên tắc chính thống của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã cố
gắng tập hợp văn hoá của họ cho lợi thế cạnh tranh, đây chính là một minh
chứng về sức cạnh tranh văn hoá để tạo ra những ứng xử mong muốn, và đảm
bảo thực hiện được nguyên tắc.
2.3. Giảm rủi ro
Trong công việc hàng ngày, ở cấp độ cá nhân, một trong những chức
năng của văn hoá là truyền tải những nhận thức chung qua quá trình đào tạo
và tuyển chọn nhân viên mới. Điều này được thực hiện thông qua ý tưởng của
văn hoá, mà các thành viên mới phải học để hiểu và thực hiện trong công
việc, để đảm bảo những nhận thức chung về điều gì là quan trọng đối với

sẽ tạo được sự thống nhất, giảm thiểu sự rủi ro, tăng cường phối hợp và giám 23

sát, thúc đẩy động cơ làm việc của mọi thành viên, tăng hiệu suất và hiệu quả
của doanh nghiệp, từ đó tăng được sức cạnh tranh và khả năng thành công của
doanh nghiệp trên thị trường. Văn hoá quyết định mẫu mã sản phẩm, ảnh
hưởng tới phân phối sản phẩm, chi phối các biện pháp xúc tiến và hỗ trợ kinh
doanh, quảng cáo, ảnh hưởng đến giá cả.
Nhìn chung, văn hoá doanh nghiệp có tác dụng tăng cường uy tín cho
doanh nghiệp, hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu của các doanh
nghiệp. Nó tạo nên giá trị doanh nghiệp, tinh thần, đạo đức doanh nghiệp,
quản lý doanh nghiệp và thương hiệu doanh nghiệp. VHDN là nguồn gốc của
sức sáng tạo, đoàn kết doanh nghiệp, là động lực tinh thần cho sự tồn tại, cạnh
tranh và phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ đổi mới.
3. Vai trò của văn hoá doanh nghiệp đối với xã hội
Paul Haw Ken đã viết như sau: “Mục đích tối thượng của kinh doanh
không phải, hay không nên chỉ đơn giản là kiếm tiền. Nó cũng không đơn
thuần là hệ thống sản xuất và buôn bán các loại hàng hoá. Kinh doanh hứa
hẹn làm tăng thêm phúc lợi chung cho loài người thông qua hoạt động dịch
vụ, hoạt động sáng tạo và triết lý đạo đức. Kiếm tiền bản thân nó nói chung là
vô nghĩa và chuốc lấy phức tạp và làm suy tàn thế giới mà chúng ta đang
sống”. Rõ ràng, những cách kiếm lời chỉ đơn thuần chạy theo lợi nhuận, ích
kỷ, nhỏ nhen, xem thường đạo đức, nhân cách, biểu hiện sự kinh doanh thiếu
văn hoá bị xã hội lên án và không thể tồn tại lâu dài. Trái lại, mục tiêu cao
nhất của hoạt động kinh doanh là làm thoả mãn tối đa nhu cầu hàng hoá và
các dịch vụ xã hội. Do vậy, quan tâm đến văn hoá, kết hợp văn hoá với kinh
doanh làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái chân, thiện, mỹ, là xu hướng
chung của doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài. Đó cũng là biểu

hiện văn hoá kinh doanh ở cấp độ công ty, là bộ phận quan trọng mang tính
quyết định, là đầu mối trung tâm của quá trình xây dựng nền văn hoá kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status