nguy cơ bùng nổ chiến tranh tiền tệ giai đoạn hiện nay - Pdf 13



2014
GVBM: PGS.TS. Trƣơng Quang Thông
TH: NHÓM 0 TCNH ĐÊM 2 – K22

NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN
TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
28/02/2014
1

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY THÀNH VIÊN NHÓM THỰC HIỆN
1. Nguyễn Đôn Nhã Uyên
2. Nguyễn Thị Tuyết Chi
3. Nguyễn Thị Phương Thảo
4. Lê Vũ Ngọc Anh
5. Đoàn Nhật Thanh
6. Võ Trần Đức Tuấn
7. Trần Thái Phương Nam

LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập tài chính quốc tế và toàn cầu hóa luôn là chủ đề được quan tâm hàng đầu
trong thời gian qua. Bất kỳ một quốc gia nào khi đã tham gia vào thị trường tài chính thế giới
luôn đón nhận nhiều cơ hội cùng những thách thức, khó khăn cho nền kinh tế. Trong đó, rủi
ro về tỷ giá hối đoái, rủi ro bị tấn công tiền tệ là điều không thể tránh khỏi và phụ thuộc
nhiều vào độ mở của thị trường tài chính trong nước với phần còn lại của thế giới. Bên cạnh
đó nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ là không thể tránh khỏi với bất kỳ nền kinh tế nào, và
thực tế đã chứng minh khi các cuộc chiến tranh tiền tệ xảy ra thì tổn thất do nó gây ra đối với
các quốc gia vô cùng to lớn, không thua gì một cuộc chiến thật sự với hàng trăm ngàn binh
lính, tàu chiến cùng các khí tài quân sự khác. Do đó, việc nghiên cứu về nguy cơ xảy ra các
cuộc chiến tranh tiền tệ trong giai đoạn hiện nay là vô cùng quan trọng đối với không chỉ các
nước lớn mà cả các nước đang phát triển và các quốc gia mới đổi trên toàn thế giới.
Được sự phân công nghiên cứu đề tài này của giảng viên bộ môn, nhóm đã cố gắng
tìm hiểu kỹ lưỡng các vấn đề liên quan đến đề tài thông qua việc nghiên cứu các cuộc chiến
tranh tiền tệ đã từng xảy ra trong quá khứ, để từ đó nhận biết các nhân tố có thể dẫn đến
chiến tranh tiền tệ trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề này. Đề
tài được trình bày với cấu phần gồm 03 chương lớn như sau:
- Chương I : Tổng quan lý thuyết về chiến tranh tiền tệ;
- Chương II : Lịch sử chiến tranh tiền tệ và các bài học;
- Chương III: Nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ giai đoạn hiện nay;
- Tham khảo.
Trong quá trình thực hiện đề tài, dù đã nỗ lực rất nhiều nhưng không thể tránh khỏi
những sai sót nhất định. Rất hy vọng phần trình bày tiếp sau đây sẽ nhận được sự quan tâm,
góp ý sâu sắc từ thầy bộ môn cũng như các nhóm đề tài khác để bài làm của nhóm được
hoàn thiện hơn.
Chân thành cảm ơn!
Nhóm thực hiện.
4

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

5

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

CHƢƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ
1.1 Khái niệm chiến tranh tiền tệ:
Cách hiểu thứ nhất là: chiến tranh tiền tệ là một dạng của chiến tranh kinh tế và luôn
có yếu tố lũng loạn thị trường tiền tệ của một quốc gia, gây nên bất ổn tiền tệ làm nền kinh tế
của quốc gia đó khủng hoảng.
Cách hiểu thứ hai là: chiến tranh tiền tệ là việc một quốc gia thực thi chính sách tỷ giá
hối đoái riêng bất chấp tác động của nó tới các quốc gia còn lại (đối tác bên ngoài) nhằm thu
lợi cho nền kinh tế của quốc gia và không quan tâm tới sự thiệt hại của các đối tác.
Tựu chung lại chiến tranh tiền tệ nên được hiểu theo nghĩa đầy đủ là một tổ chức kinh
tế hay chính phủ của một quốc gia sử dụng công cụ tiền tệ để thu lợi cho quốc gia hay một
thế lực kinh tế của quốc gia đó, và làm suy yếu nền kinh tế - tài chính của các đối tác bên
ngoài (các quốc gia khác) ; dùng đồng tiền để chi phối nền tài chính của các đối tác bên
ngoài, và có thể nghiêm trọng hơn khi chính trị của các quốc gia là nạn nhân cũng bị chi phối
bởi cuộc chiến tiền tệ này. Từ định khái niệm này ta có thể thấy rằng việc tấn công tiền tệ
hay bị tấn công tiền tệ cũng gây nên cuộc chiến tranh tiền tệ với những hậu quả to lớn.
1.2. Tấn công tiền tệ:
1.2.1 Khái niệm:
Tấn công tiền tệ là một hình thức bán ra một số lượng lớn đồng tiền của một quốc gia
bởi cả những nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hình thức bán ở đây có thể là bán khống hoặc
sử dụng các công cụ phái sinh (đối với các quỹ đầu cơ tiền tệ, các nhà đầu cơ) hay bán giao
ngay (của các nhà đầu tư khác trên thị trường, các doanh nghiệp…), làm cho đồng tiền nước
đó đứng trước khả năng mất giá đột ngột nếu không có sự can thiệp của Ngân hàng Trung
ương hay sự can thiệp đó chưa đủ lực.
Các quỹ đầu cơ khi muốn thực hiện tấn công tiền tệ thường nhắm vào những quốc gia
có những đặc điểm kinh tế như sau:
Thứ nhất, quốc gia đó đang duy trì một cơ chế tỷ giá cố định hay có biến động nhưng

sự diễn ra.
Thâm hụt tài khoản vãng lai quá mức trong nhiều năm mà không thể bù đắp, gây sức
ép lên tỷ giá khi các công ty trong nước cần có ngoại tệ thanh toán các hợp đồng đến hạn
(nhu cầu đồng Đô la Mỹ để trả nợ được đáp ứng bằng cách bán nội tệ dẫn đến nội tệ giảm
7

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

giá). Bên cạnh đó là các khoản nợ nước ngoài, nếu có tỷ trọng lớn các khoản nợ ngắn hạn
hay sắp đến hạn cũng gây ra áp lực tương tự.
1.2.2 Cách thức để thực hiện một cuộc tấn công tiền tệ:
Khi đã xem xét thấy sớm muộn gì thì đồng nội tệ của quốc gia cũng sẽ bị mất giá, các
nhà đầu cơ tiền tệ bắt đầu cho cuộc tấn công tiền tệ có chiến lược trên quy mô lớn. Theo lý
thuyết, có nhiều chiến thuật khác nhau cho các nhà đầu cơ sử dụng.
Đầu tiên là việc họ có thể vay nội tệ, sau đó bán nội tệ để đổi lấy đồng tiền khác,
chẳng hạn như đôla và đầu tư đồng ngoại tệ đó (ví dụ như gửi tiền lấy lãi). Khi họ liên tục
bán ra nội tệ với quy mô lớn, sẽ làm cho đồng tiền này giảm giá và khi tái thanh toán các
khoản vay cũ ngày đến hạn, họ chỉ cần bỏ ra một lượng ngoại tệ ít hơn. Phần thu lợi là phần
chênh lệch giữa lượng ngoại tệ mà họ nắm giữ và phần ngoại tệ quy đổi ra nội tệ để chi trả
khoản vay.
Trên thực tế, những cuộc tấn công tiền tệ có thể sử dụng chiến lược trên kết hợp với
các công cụ phái sinh như: các hợp đồng futures, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn với
cùng ý tưởng là có thể mua được đồng USD rẻ hơn với giá đã được cố định trước khi đồng
nội tệ mất giá. Đây là ví dụ với chiến lược sử dụng công cụ kỳ hạn (forward). Các quỹ đầu
cơ tiến hành vay mượn nội tệ, sau đó họ mua đồng USD bằng hợp đồng kỳ hạn ở các ngân
hàng thương mại. Để tăng thêm hiệu quả cho cuộc tấn công họ sử dụng các hợp đồng kỳ hạn
không giao nhận, bởi nó giúp làm tăng đòn bẩy về nhu cầu đồng USD chỉ với lượng vốn
bằng một phần nhỏ ban đầu dùng để ký quỹ. Việc ký hợp đồng kỳ hạn như thế tương đương
với việc bán khống nội tệ làm tăng thêm áp lực phá giá đồng nội tệ.
Vào cuối kỳ, do đây là hợp đồng kỳ hạn không giao nhận nên ngân hàng chỉ thanh

dòng chảy vốn quốc tế đi xuyên qua các quốc gia còn có sự hiện diện của các công ty đa
quốc gia, các công ty xuất nhập khẩu, các định chế tài chính có số vốn khổng lồ, các nhà đầu
tư cá nhân tham gia đầu tư bằng cách vay ngân hàng hay sử dụng vốn tự có. Khi họ nhận
thấy đồng tiền mà họ đang nắm giữ đứng trước nguy cơ mất giá, tài sản (bất động sản, chứng
khoán) định danh bằng đồng tiền đó cũng có số phận tương tự thì cho dù không ai muốn
tham gia tấn công nhưng vô hình chung đã tạo ra làn sóng dữ dội bán tháo đồng tiền và tài
sản đó để giảm lỗ. Trong số các nhà đầu tư đang tháo chạy khỏi thị trường với tâm lý tổn
thất càng ít càng tốt, không chỉ có nhà đầu tư nước ngoài mà còn có cả nhà đầu tư trong nước
9

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

nếu lòng tin của họ với đồng tiền nội địa hay với Ngân hàng Trung ương/quốc gia không còn
nữa.
Để tránh cho đồng tiền của quốc gia mình mất giá nặng nề (có thể dẫn đến khủng
hoảng tài chính nghiêm trọng), Ngân hàng Trung ương sẽ dùng những biện pháp can thiệp
trực tiếp, gián tiếp để ngăn chặn cuộc tấn công này. Biện pháp đầu tiên mà các Ngân hàng
Trung ương sử dụng là bán ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối và thu nội tệ vào. Điều này
khiến cho lượng cung ngoại tệ tăng và cung nội tệ cũng giảm làm giảm áp lực lên tỷ giá.
Việc giảm quỹ dự trữ ngoại hối có thể được bù đắp thêm bằng cách đi vay trên thị trường tài
chính quốc tế. Bên cạnh đó có thể can thiệp bằng hợp đồng kỳ hạn đối ứng. Ngân hàng
Trung ương có thể là một khách hàng trên thị trường kỳ hạn. Nếu tác động mua kỳ hạn nội tệ
của Ngân hàng Trung ương ngang bằng với tác động bán kỳ hạn thì can thiệp bằng hợp đồng
kỳ hạn đã có thể hấp thụ việc bán nội tệ giao ngay. Do đó, không cần thiết can thiệp trên thị
trường giao ngay cũng như can thiệp vào cơ sở tiền tệ.
Nếu các quốc gia không muốn ảnh hưởng lớn đến quỹ dự trữ ngoại hối, cũng có thể
sử dụng một cách khác là tăng lãi suất. Mục tiêu của hành động này là ép chặt khả năng
tham gia của các nhà đầu cơ bán khống, bằng cách làm tăng chi phí các khoản vay của các
nhà đầu cơ. Nếu các nhà đầu cơ tham gia thì lợi nhuận của họ sẽ thu hẹp lại. Ngoài ra, sự gia
tăng lãi suất còn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào trong nước, đẩy nhu cầu đồng

Mua nợ của nước khác: việc mua nợ nước khác làm tăng nhu cầu đồng tiền nước đó,
dẫn đến sự tăng giá đồng tiền nước đó so với đồng nội tệ;
Cố định đồng tiền (mua đồng tiền của nước khác): các quốc gia cố định tỷ giá tại một
mức xác định hay trong một biên độ bằng việc bán đồng nội tệ và mua đồng ngoại tệ;
Quản lý dòng vốn: giới hạn dòng vốn đầu tư của nước ngoài ra vào nền kinh tế bằng
các biện pháp như thuế, thủ tục, giới hạn số lượng. 11

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Nhìn chung, hầu hết thời điểm phá giá tiền tệ của các quốc gia đều không giống nhau
và sau mỗi lần phá giá thì đa số các quốc gia đều thành công vì đồng tiền nước mình đã yếu
đi phần nào so với thời điểm trước khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, chỉ trừ một số
đồng tiền mạnh như đồng EUR, đồng Bảng Anh GPB.
Cụ thể, ta thấy trong năm 2013, Nhật Bản đã phá giá đồng Yên và chấp nhận lạm phát
2% so với mục tiêu bằng hình thức mua tài sản, mà cụ thể ở đây là Nhật Bản đã mua trái
phiếu Chính Phủ từ ngân hàng và một số tổ chức khác để tung thêm đồng Yên Nhật ra thị
trường. Từ đó làm đồng Yên mất giá và lạm phát tăng cao. Trước đó, tức là trước thời điểm
12

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

năm 2011, Nhật Bản đang hứng chịu tai họa kép là sóng thần – hạt nhân vào tháng 3/2011
làm cho đồng Yên tăng lên mức cao nhất kể từ năm 1945 với tỷ giá USD/JPY đạt 76,29.


Nhìn vào hình vẽ ta thấy, điểm mốc là năm 2008 - thời điểm diễn ra khủng hoảng
kinh tế thế giới, cho đến tháng 7/2008 thì hầu hết là đồng tiền của tất cả các nước đều mạnh
hơn trước đó. Tuy nhiên sau tháng 7/2008 thì đã có sự phân rẽ thành hai nhánh dưới tác động
của khủng hoảng. Các đồng tiền mạnh trước đây như EUR, bảng Anh thì đã trở nên yếu hơn
so với trước khủng hoảng. Còn đồng Yên Nhật thì trở nên mạnh hơn cùng với đồng Nhân
dân tệ của Trung Quốc.
Việc phá giá đồng nội tệ có một số ưu điểm như kích thích xuất khẩu, đồng tiền yếu
đi làm hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ hơn so với các nước khác, xuất khẩu tăng dẫn đến tăng
trưởng kinh tế; Tạo việc làm: xuất khẩu mạnh kích thích thuê công nhân nhiều hơn và theo
đó gia tăng tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên hành động phá giá nội tệ cũng có một số tác động ngược như gây ra lạm
phát nếu tác động đến cung tiền, đồng tiền yếu đi làm tăng chi phí nhập khẩu hàng hóa và
dịch vụ, có nguy cơ dẫn đến lạm phát trong tương lai, đặc biệt đối với các quốc gia xuất
khẩu có tỷ trọng đầu vào nhập khẩu ở mức cao; Chi phí trực tiếp: một vài phương pháp
hướng tới sự phá giá đồng tiền có thể gây chi phí trực tiếp lớn ví dụ như một nước A sử dụng
dự trữ ngoại hối để mua trái phiếu nước B với lãi suất thấp và bán trái phiếu nội tệ với lãi
suất cao, điều này hàm ý nước A phải trả nhiều hơn so với thu nhập mà họ nhận được từ trái
phiếu B. Và hành động đó sẽ không có gì đảm bảo rằng đồng nội tệ nước A sẽ bị giảm giá.
14

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Nguy hiểm nhất của việc phá giá tiền tệ chính là sự trả đũa, vì các quốc gia khác có
thể phản ứng lại hành động phá giá đồng tiền bằng việc phá giá chính đồng tiền nước họ, và
nếu những công cụ quản lý dòng vốn và thuế được dùng thì điều này sẽ dẫn đến chiến tranh
tiền tệ.
Thứ hai là thông qua hoạt động đầu tư quốc tế các quốc gia có tiềm lực kinh tế tài
chính mạnh sẵn sàng rót một lượng lớn vốn ngoại tệ vào một quốc gia khác tạo nên bong
bóng kinh tế và rồi chính các nhà đầu tư này sau một thời gian lại rút sạch tiền của mình về

hoảng thừa (tương tự như năm 1939 dẫn tới chiến tranh thế giới lần thứ 2).
Các nước lớn lao vào cuộc chiến này sẽ làm các hàng hóa của nước vốn dĩ có đồng
tiền yếu và trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao (như các quốc gia đang phát triển ở châu Á,
châu Phi ) càng ít cạnh tranh hơn khi xuất sang các nước khác, làm cho xuất khẩu giảm.
Thêm vào đó là sự rẻ đi tương đối của hàng hóa ngoại càng làm cho tình hình các quốc gia
này xấu hơn. Cuối cùng, điều này có thể khiến các nước kém phát triển và đang phát triển bị
suy yếu về kinh tế, và một khi các nước này cũng áp dụng chính sách bảo hộ thương mại thì
kinh tế thế giới càng tồi tệ hơn.
Hơn thế nữa, khi một đồng tiền giảm giá sẽ sảy ra hiệu ứng domino, làm cho những
đồng tiền khác tăng giá một cách không mong muốn và theo sau nó là một loạt các hệ lụy
khác. Hiện nay nguy cơ bùng nổ chiến tranh tiền tệ đang được chú ý là cuộc chiến chưa có
hồi kết giữa Trung Quốc và Mỹ quanh vấn đề tỷ giá USD/CNY.
Đối với vấn đề đầu tư quốc tế, khi các luồng vốn đầu tư vào một quốc gia bị rút đi đột
ngột sẽ tạo nên một cú sốc nặng với nền kinh tế và ảnh hưởng của nó lan tỏa tới các quốc gia
lân cận có điều kiện tương đương; đồng thời làm cho chính việc kiểm soát tiền tệ của Ngân
hàng Trung ương không còn tác dụng kịp thời. Đồng nội tệ sẽ mất giá trầm trọng và khoản
nợ nước ngoài của các quốc gia này sẽ tăng cao chóng mặt gây ra nguy cơ vỡ nợ của các
quốc gia. Những nền kinh tế mới nổi sẽ phải tiếp nhận một lượng tiền khổng lồ từ các dòng
vốn đầu tư nước ngoài vào từ chính sách nới lỏng định lượng (in thêm tiền vào lưu thông)
của các quốc gia đó. Điều này có thể tạo nên tình trạng bong bóng tài sản, và gây áp lực tăng
giá đông nội tệ của các nước có luồng tiền đầu tư vào. 16

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

CHƢƠNG II : LỊCH SỬ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ VÀ CÁC BÀI HỌC
2.1 Cuộc tấn công tiền tệ vào nền kinh tế Nhật Bản những năm 1985:
Nguyên nhân: Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, vị trí chủ nợ quốc tế của Anh

khoán do tận dụng việc vay tiền với lãi suất thấp từ các ngân hàng. Tỉ lệ tăng trưởng của thị
trường chứng khoán Nhật do đó lên đến 40%/năm, bất động sản vượt ngưỡng 90%. Một
bong bóng bất động sản khổng lồ đã bắt đầu hình thành.
Từ năm 1987: các ngân hàng Mỹ âm mưu sử dụng vũ khí tài chính nguy hiểm: Stock
Index Futures. Lợi dụng vào niềm tin dân tộc vô cùng mạnh mẽ của Nhật Bản vào việc mình
đã thực hiện được cú đại nhảy vọt của nền kinh tế trong những năm 80, khi niềm tin ấy cũng
được áp dụng vào thị trường cho rằng thị trường chứng khoán Nhật không thể nào trượt giá,
các thế lực muốn tấn công hệ thống tài chính Nhật Bản đã tung một lượng lớn hiện kim để
mua “khả năng trượt giá” của thị trường chứng khoán từ các công ty bảo hiểm Nhật.
Tháng 01/1990: Sau khi chỉ số Nikkei của Nhật đạt kịch trần, Sở giao dịch Mỹ tung ra
chứng quyền đặt bán chứng khoán ở thời điểm phát hành (Nikkei Put Warrants). Qua trung
gian là vương quốc Đan Mạch, các thế lực tấn công điển hình là công ty Goldman Sachs
gián tiếp bán lại các quyền chọn chỉ số đã mua từ ngành bào hiểm Nhật cho những người
mua chứng quyền. Tiếng tăm của vương quốc Đan Mạch đã tạo sức hút tiêu thụ đối với
quyền chọn chỉ số, từ đó tăng sức mua chứng quyền. Một lượng lớn các ngân hàng đầu tư
Mỹ nắm bắt thời cơ tranh nhau bán chứng quyền ra thị trường khiến chứng khoán Nhật trượt
giá thảm hại.
Kết quả:thị trường chứng khoán Nhật sụp đổ, tác động mạnh mẽ đến ngành ngân
hàng, bảo hiểm và sản xuất của nước này. Từ năm 1990, nền kinh tế Nhật Bản rơi vào thời
kỳ suy thoái kéo dài mười mấy năm. Thị trường chứng khoán sụt giá 70%, giá bất động sản
liên tục rớt trong 14 năm sau đó. Tổn thất về tài sản tài chính trong năm 1990 của Nhật Bản
gần tương đương với thất bại của Nhật trong chiến tranh thế giới thứ hai (theo tác giả
Yoshikawa Mototada trong cuốn sách “Thất bại tài chính”).
Như vậy, trong vòng chưa đầy năm năm trước sức ép và âm mưu phá hoại lâu dài của
các tài phiệt ngân hàng quốc tế, hệ thống tài chính của Nhật Bản đã phải chịu sự tàn phá
nặng nề. Nền kinh tế Nhật Bản vốn đang có triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ vào những năm
80 đã sớm lụi tàn và quay về mốc khởi điểm. 18

Baht để có thể ký tiếp các hợp đồng kỳ hạn. Tuy nhiên BoT đã mất cảnh giác trong ba tháng
19

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

đầu năm 1997 để các quỹ đầu cơ tích trữ được một lượng lớn hợp đồng kỳ hạn (xấp xỉ 15 tỷ
USD) có thời hạn rất dài (12 tháng). Một điều đáng tiếc nữa là chính BoT đã tham gia trực
tiếp vào thị trường kỳ hạn để cố gắng ngăn chặn sức ép lên đồng Baht. Ngày 14 tháng 5 và
ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng Baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn. Khi lãi suất đã
được đẩy lên quá cao, nền kinh tế Thái Lan đã không chịu nổi chi phí vốn cao trong thời
gian dài như vậy nên đã bắt đầu có dấu hiệu suy sụp. Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan
Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá Baht, song rốt cục lại phải thả nổi Baht
vào ngày 2 tháng 7 để giải cứu nền kinh tế.
Đồng Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến
mức 56 baht mới đổi được 1 Đô la Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ
mức 1.280 điểm cuối năm 1995 xuống còn 372 điểm cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn
hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Điển hình có Finance
One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan đã tuyên bố phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF
tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ Đô la Mỹ cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8,
IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ USD. Tất nhiên cuộc khủng hoảng này có
tác hại không chỉ giới hạn trong nền kinh tế Thái Lan mà còn nhanh chóng lan sang các nước
khác như Indonesia, Malaysia, Philipines.
2.2.2 Tại Indonesia:
Vào khoảng tháng 7 và tháng 8 năm 1997, đoán trước được áp lực trên đồng USD của
Indonesia do nhu cầu mua Đô la Mỹ trả nợ nước ngoài quá lớn, sau khi đã tấn công Thái
Lan, các tay đầu cơ chuyển hướng tấn công nền kinh tế Indonesia. Phương thức hoạt động
của các nhà đầu cơ chuyên nghiệp này thông thường là cùng lúc đán vào hai mặt trận tiền tệ
và thị trường chứng khoán. Ban đầu họ ra sức bán khống nội tệ và cổ phiếu theo đúng bài
bản và chỉ trong vòng 6 tháng, cả đồng USD lẫn chỉ số của Thị trường chứng khoán Jakarta
rớt xuống một cách thảm hại, kéo theo sự sụp đổ toàn bộ của cả nền kinh tế Indonesia.

giá cổ phiếu cũng tụt dốc trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc.
2.3 Bài học rút ra từ các cuộc chiến tranh tiền tệ từ những năm 1930:
Kịch bản chiến tranh tiền tệ nổ ra luôn được các nhà kinh tế học lưu tâm bởi đây
chính là nguyên nhân chủ đạo dẫn đến cuộc đại suy thoái hồi những năm 1930, đặc biệt là
trong thời kỳ 1931 – 1933. Kinh tế thế giới đã phải mất tới một vài thập kỷ để chữa lành
những vết thương mà chiến tranh tiền tệ gây ra cho nền thương mại toàn cầu.
21

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Tuy nhiên, liệu kịch bản này có xảy ra ở giai đoạn hiện nay hay không. Thực chất, các
chính sách ngày nay khác xa so với các chính sách ở thời kỳ trước và do đó hậu quả chắc
chắn cũng sẽ khác. Trước hết, cần phải hiểu rõ chiến tranh tiền tệ nổ ra khi các chính sách
được thiết kế với mục đích bóp méo giá trị của 1 đồng tiền (thông qua lạm phát trong nước
hoặc giảm tỷ giá hối đoái).
Nếu một nền kinh tế là biệt lập, điều này không gây ra hậu quả trong dài hạn bởi nếu
lạm phát tăng lên thì cuối cùng tỷ giá phải giảm xuống. Tuy nhiên, trong chính sách “biến
hàng xóm thành ăn mày”, một nước sẽ giảm tỷ giá danh nghĩa trong khi giữ nguyên tỷ lệ lạm
phát. Thời kỳ tồi tệ nhất của chiến tranh tiền tệ trong những năm 1930 được châm ngòi bởi
sự kiện đồng bảng Anh rời khỏi chế độ bản vị vàng vào năm 1931, kéo theo việc đồng tiền
này giảm giá so với tất cả các đồng tiền còn lại. Các nước còn lại không phản ứng bằng cách
rút khỏi chế độ bản vị vàng mà áp dụng các biện pháp quản lý đối với thương mại tự do.
Hàng loạt chính sách thuế quan, hạn ngạch và kiểm soát tỷ giá hối đoái được đưa ra.
Kết quả là, thương mại tự do sụt giảm rõ rệt. Hoạt động sản xuất toàn cầu chao
đảo. Trở lại với thị trường tiền tệ ngày nay, Barry Eichengreen và Douglas Irwin đã nghiên
cứu về các đợt phá giá tiền tệ cũng như các biện pháp bảo hộ thương mại của từng nước để
có thể rút ra kết luận về các cuộc chiến tranh tiền tệ thời hiện đại. Họ lập luận rằng các nước
từ bỏ chế độ bản vị vàng khá sớm (ví dụ như khối sử dụng đồng bảng Anh) phụ thuộc ít hơn
vào các biện pháp bảo hộ thương mại trực tiếp. Trong khi đó, các nước theo đuổi chế độ bản
vị vàng lâu nhất (ví dụ như Pháp - ở lại cho đến năm 1936) phụ thuộc nhiều hơn.

thành chiến tranh thương mại trực tiếp. Kể cả khi điều đó không xảy ra, chiến tranh tiền tệ
vẫn đem lại những hệ lụy khôn lường như lạm phát hay bong bóng tài sản ở các nền kinh tế
mới nổi. 23

TCNHĐ2_N0 NGUY CƠ BÙNG NỔ CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

CHƢƠNG III: NGUY CƠ XẢY RA CHIẾN TRANH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
3.1 Nguy cơ xảy ra chiến tranh tiền tệ:
Thời gian gần đây nhiều cảnh báo đã liên tục được đưa ra liên quan đến vấn đề "chiến
tranh tiền tệ" toàn cầu khi mà hàng loạt các nước sử dụng các biện pháp tiền tệ để hạ giá
đồng tiền nước mình nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Với những đặc điểm
khác biệt so với các cuộc chiến tiền tệ trong lịch sử, vấn đề "chiến tranh tiền tệ" giai đoạn
2010 - 2013 vẫn còn nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, nếu thực sự đang xảy ra một cuộc chiến tiền
tệ thì hậu quả của nó đối với kinh tế thế giới là rất nghiêm trọng.
Đặt biệt sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thông báo triển khai gói nới lỏng định
lượng lần thứ 3 (QE3) song song với việc cam kết giữ lãi suất thấp sát 0% đến giữa năm
2015. QE3 được coi là biện pháp nới lỏng tiền tệ mạnh tay nhất trong lịch sử Fed kể từ sau
khủng hoảng Đại suy thoái 1929 - 1933 bởi Fed cam kết quy mô "in tiền" 85 tỷ USD/tháng
sẽ được duy trì liên tục cho đến khi tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ xuống dưới 6,5% (hiện nay tỷ lệ
thất nghiệp của Mỹ- vẫn xấp xỉ 8%). QE3 cùng với cam kết giữ lãi suất thấp gần 0% đến
giữa năm 2015 đã dẫn đến nhiều chỉ trích cho rằng Fed đang cố tình hạ giá đồng USD với
mục đích tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Mỹ.
Thực tế, tính đến ngày 14/9/2012 - một ngày sau khi kết thúc cuộc họp ủy ban điều

Brazil đột ngột quyết định cắt giảm lãi suất và tuyên bố rằng Brazil sẽ không ngần ngại can
thiệp để giảm giá đồng Real. Đến năm 2012, Ngân hàng Trung ương liên tục can thiệp trực
tiếp vào thị trường ngoại hối bằng cách bán ra các hợp đồng hoán đổi tiền tệ đảo nghịch và
Chính phủ Brazil nhấn mạnh rằng sẽ không để đồng Real tăng giá.
Cùng lúc đó, trong bối cảnh đồng Franc Thụy Sỹ tăng giá mạnh so với nhiều đồng
tiền với vai trò dự trữ an toàn, thì tháng 9/2011, lần dầu tiên kể từ năm 1978, Ngân hàng
Trung ương Thụy Sỹ đưa ra quyết định mua không giới hạn các ngoại tệ nhằm giữ tỷ giá
luôn trên ngưỡng 1,20 Euro ăn 1 Franc, khiến đồng Franc ngay lập tức giảm giá 8,1% so với
Euro chỉ trong vòng 1 ngày sau khi Ngân hàng Trung ương bắt đầu can thiệp.
Cho đến chiến dịch giảm giá tiền tệ gần đây giữa Mỹ và Nhật Bản đang gây lo lắng
sâu sắc rằng nó có thể lan rộng thành một cuộc chiến tiền tệ toàn cầu với sự tham gia của

Trích đoạn Các nhân tố chính gây ra chiến tranh tiền tệ và giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status