Tiểu luận: Ảnh hưởng của chính sách thuế nhập khẩu lên thị trường ôtô của Việt Nam - Pdf 13


MễN HC
QUN TR NGN HNG THNG MI

TI
Phaõn tớch Chổ tieõu traùng thaựi Ngaõn quyừ
GVHD: Th.S Nguyn Xuõn Trng
SVTH: Nhúm 1
Lp: VB2-TCNH

Tp HCM, thỏng 08 nm 2010

B GIO DC V O TO


Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH LỜI CẢM ƠN
1.5. Đánh giá và đo lƣờng trạng thái thanh khoản 11
1.6. Chiến lƣợc thanh khoản 12
2. Tại sao phải đánh giá trạng thái ngân quỹ? 15
CHƢƠNG II: NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH VÀ CẤU TRÚC CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU
THÀNH CHỈ TIÊU 17
1. Nguyên lý hình thành 17
2. Cấu trúc của các yếu tố chỉ tiêu 18
2.1 Tổng tài sản (Tài sản có) 18
2.1.1 Khái niệm 18
2.1.2 Thành phần cấu thành tổng tài sản 18
2.1.2.1 Tài sản ngân quỹ 18
2.1.2.2 Đầu tƣ chứng khoán 19
2.1.2.3 Tín dụng 20
2.1.2.4 Các tài sản khác 24
2.2 Ngân quỹ 25
2.2.1 Khái niệm 25
2.2.2 Thành phần cấu thành ngân quỹ 25
2.3 Tiền gửi tại các ngân hàng khác 26
CHƢƠNG III: PHÂN TÍCH VÀ CHỈ RA QUY LUẬT VẬN ĐỘNG CỦA CHỈ TIÊU 28
1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chỉ tiêu 28
1.1. Các yếu tố mà ngân hàng có thể kiểm soát đƣợc 28
1.1.1. Nhóm yếu tố làm tăng quỹ tiền tệ 28
1.1.2. Nhóm yếu tố làm giảm quỹ tiền tệ 28
1.2. Các yếu tố mà ngân hàng không kiểm soát đƣợc 28
1.2.1. Nhóm yếu tố làm tăng quỹ tiền tệ 28
1.2.2. Nhóm yếu tố làm giảm quỹ tiền tệ 29
2. Quy luật vận động của chỉ tiêu 29

Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ


(khng hong n), cỏc ngõn hng ny mt kh nng thanh toỏn tin gi ca khỏch, thua l
v b phỏ sn. Vo nhng nm 1990, cỏc hóng chng khoỏn gp nguy khn bi s sp
ca th trng bt ng sn v th trng chng khoỏn Nht. Cỏc NHTM Nht ngi
ti tr cho cỏc hóng chng khoỏn, ó khụng thu c n, mt kh nng chi tr cho ngi
gi tin. u nhng nm 1990, mt s qu tớn dng Vit nam lm n thua l gõy hoang
mang cho khỏch, dn n vic dõn rỳt tin hng lot ti cỏc qu tớn dng khỏc, to nờn s
sp hng lot cỏc qu tớn dng
Nh vy vic ỏp ng nhu cu thanh toỏn ca khỏch hng mt cỏch thng xuyờn
v trong nhng trng hp c bit khn cp l yờu cu cp thit, l ni dung quan trng
trong cụng tỏc qun lý ca ngõn hng nhm hn ch ri ro thanh khon. Nú liờn quan ti s
tn ti v phỏt trin ca mi ngõn hng v ca c h thng.
Vỡ nhng lý do trờn, nhúm ó chn d ti Phõn tớch ch tiờu trng thỏi ngõn qu
lm ti ca nhúm.
Kt cu ca ti gm:
Chng 1: C s lý lun hỡnh thnh ch tiờu
Chng 2: Nguyờn lý hỡnh thnh v cu trỳc ca cỏc yu t cu thnh ch tiờu
Chng 3: Phõn tớch v ch ra quy lut vn ng ca ch tiờu
Chng 4: xut phng ỏn ỏnh giỏ giỏ tr an ton ch tiờu

Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
2

CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH CHỈ TIÊU

1. Quản trị rủi ro thanh khoản
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại là đảm
bảo khả năng thanh khoản đầy đủ. Một ngân hàng thương mại được xem là có khả năng
thanh khoản nếu nó tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng ở chi phí hợp lý và đúng lúc

nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.

b. Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro đặc trưng và phổ biến trong hoạt động NHTM.
Rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu sử dụng
vốn khả dụng (nhu cầu thanh khoản). Tình trạng này nhẹ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh
doanh bị đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng phá sản.
Trong số các NHTM, rủi ro thanh khoản là rủi ro rất đặc trưng đối với ngân hàng.
Lý do là nguồn vốn ngân hàng có một phần rất lớn là vốn huy động với đặc tính có
thể rút trước hạn. Rủi ro thanh khoản của ngân hàng là những rủi ro xảy ra do sự thay đổi
trên thị trường thứ cấp gây khó khăn cho ngân hàng trong việc chuyển đổi các tài sảnthành
tiền để đáp ứng các nhu cầu chi trả. Khả năng này xảy ra khi chi phí giao dịchtăng, hoặc
thời gian giao dịch bị kéo dài. Tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu là chi phí phát sinh do
phải tìm kiếm các nguồn chi trả khác.

Phần lớn nguồn tiền trong ngân hàng là các khoản tiền gửi phải trả khi có yêu cầu.
Do vậy, ngân hàng thường xuyên phải đối đầu với nhu cầu chi trả, nếu yêu cầu này không
được đáp ứng ngay, nguồn tiền gửi có thể bị giảm sút nhanh chóng, thậm chí làm cho ngân
hàng bị phá sản. Trong khi đó, hoạt động đầu tư tài sản chủ yếu của ngân hàng là cho vay,
vì vậy ngân hàng phải đáp ứng kịp thời nhu cầu vay hợp pháp của khách hàng. Vì vậy, khi
thực hiện chức năng trung gian tài chính và trung gian thanh toán, ngân hàng thường xuyên
phải duy trì khả năng thanh toán, tức duy trì thanh khoản của ngân hàng.

Những ví dụ cụ thể về rủi ro thanh khoản như sau: Vào những năm 70, các ngân
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
4


GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
5

thấp và ngược lại, một nguồn vốn có tính thanh khoản càng cao thì thường có chi phí huy
động càng lớn và do đó, làm giảm khả năng sinh lời khi sử dụng để cho vay.
Ngân hàng cần dự trữ thanh khoản để chi trả những chi phí thường xuyên, như lãi tiền
gửi , và cả những cú sốc thanh khoản không mong đợi, như một cuộc rút tiền gửi hàng
loạt hay yêu cầu vay vốn lớn. Một ví dụ điển hình cho cú sốc thanh khoản là nhiều người
đổ xô đến ngân hàng rút tiền ở cùng một thời điểm. Trong hoàn cảnh đó, hầu như không
một ngân hàng nào có thể đáp ứng hết những yêu cầu này và dễ dẫn đến nguy cơ sụp đổ,
ngay cả khi ngân hàng đó chưa mất khả năng thanh toán. Tất nhiên, khả năng dự trữ thanh
khoản kém chưa hẳn sẽ đưa đến sự sụp đổ của một ngân hàng, nhưng chắn chắc, ngân hàng
sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí lớn để ứng phó với một cú sốc thanh khoản không lường
trước. Và điều đó sẽ làm giảm đáng kể lợi nhuận của ngân hàng và suy đến cùng khả năng
sụp đổ là hoàn toàn có thể.
Thanh khoản mang ý nghĩa thời điểm rất lớn, theo nghĩa, một số yêu cầu thanh
khoản là tức thời hoặc gần như tức thời. Chẳng hạn, một khoản tiền gửi lớn đến hạn và
khách hàng không có ý định tiếp tục duy trì số vốn này tại ngân hàng; khi đó, ngân hàng
buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn có thể sử dụng ngay như vay từ TCTD khác. Ngoài ra,
yếu tố thời vụ, chu kỳ cũng rất đáng quan trọng trong việc dự kiến cầu thanh khoản dài
hạn. Ví dụ, cầu về thanh khoản thường rất lớn vào mùa hè, cuối hè gắn với ngày tựu
trường, ngày nghỉ và các kế hoạch du lịch của khách hàng. Việc kế hoạch được những yêu
cầu thanh khoản này, sẽ giúp ngân hàng hoạch định được nhiều nguồn đáp ứng cầu thanh
khoản dài hạn hơn là trong trường hợp đối với cầu thanh khoản ngắn hạn.

Quản trị rủi ro thanh khoản thông qua áp dụng các lý thuyết thanh khoản
Các lý thuyết về quản lý thanh khoản đã có từ những ngày đầu trong hoạt động ngân
hàng. Nhìn chung, có bốn lý thuyết chính như sau: Lý thuyết cho vay thương mại (cho vay
ngắn hạn); Lý thuyết về khả năng chuyển đổi của tài sản; Lý thuyết lợi tức dự tính và Lý
thuyết về quản lý nợ

Không xem xét tới tính ổn định tương đối của tiền gửi ngân hàng (rất ít trường hợp
tất cả các KH đều rút tiền gửi cùng một lúc. Tính ổn định này cho phép NH có thể
mở rộng vốn trong một thời gian tương đối dài mà không làm mất tính thanh khoản
của nó.
Với cho vay ngắn hạn, NH vẫn có thể gặp rủi ro thanh khoản nến KH gặp khó khăn
không trả nợ đúng hạn cho NH.
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
7 b. Lý thuyết về khả năng chuyển đổi của tài sản

Lý thuyết này phát triển khi thị trường trái phiếu chính phủ phát triển, thị trường tài
chính đang bắt đầu phát triển, tạo điều kiện cho khả năng chuyển đổi các TS của NH thành
tiền dễ dàng hơn. Dựa trên việc phân tích số lượng các ngân hàng Anh và Mỹ bị phá sản
trong cuộc khủng hoảng 1929-1933, các tác giả của lý thuyết này cho rằng, số lượng các
ngân hàng Anh (chủ yếu cho vay thương mại) bị phá sản chẳng kém gì các ngân hàng Mỹ
(mở rộng cho vay bất động sản và người tiêu dùng). Như vậy, cho vay thương mại cũng
không đảm bảo an toàn thanh khoản cho ngân hàng thương mại khi khủng hoảng xảy ra.

Nội dung: Lý thuyết về khả năng chuyển đổi của tài sản chứng minh vấn đề chính để
đảm bảo khả năng an toàn thanh khoản là khả năng tạo ra thu nhập cho ngân hàng (tăng
khả năng tích luỹ) và khả năng chuyển đổi của tài sản. Lý thuyết này cho rằng: thanh khoản
của 1 NH sẽ được đảm bảo nếu các TS của NN đó tồn tại chủ yếu dưới dạng những tài sản
có khả năng dễ chuyển đổi. Các TS có khả năng chuyển đổi cao là: CK của những công ty
có tình hình TC tốt, KD tốt, trái phiếu CP, các khoản cho vay có chất lượng cao (VD: với
các DA có khả năng mang lại lợi nhuận cao, các khoản cho vay có đảm bảo bằng TS.
Điều kiện chuyển đổi:

Lý thuyết lợi tức định trước không phủ nhận tính khả thi của các lý thuyết về cho
vay thương mại và Lý thuyết về khả năng chuyển đổi, nhưng nhấn mạnh hơn đến
triển vọng về việc hoàn trả tín dụng cùng với lợi tức hơn là lệ thuộc nặng nề vào vật
ký quỹ, thế chấp.
Không ảnh hưởng tới các hướng đầu tư của ngân hàng
Ngân hàng không phải đối mặt với việc xử lý các sản phẩm, thế chấp họ nắm giữ
Các khoản thu được rải đều và được kế hoạch hoá khá chuẩn xác.
Khả năng thanh khoản của ngân hàng cao.

d. Lý thuyết về quản lý nợ

Lý thuyết này hình thành từ giữa những năm 60 của thế kỷ 20, gắn liền với việc hình
thành công cụ huy động mới là chứng chỉ tiền gửi (CD) và thị trường CD. Ngoài việc vay
mượn truyền thống là vay ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại khác, CD
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
9

cho phép các ngân hàng lớn ở trung tâm tiền tệ có thể huy động trong thời gian ngắn một
lượng vốn lớn, với chi phí rẻ hơn phát hành trái phiếu trung và dài hạn.Bên cạnh đó, việc
phát triển thị trường liên ngân hàng mang tính khu vực và quốc tế cho phép các ngân hàng
trên toàn thế giới vay lẫn nhau với quy mô lớn, chi phí giao dịch thấp và ít bị ảnh hưởng
bởi chính sách của ngân hàng trung ương mỗi nước. Môi trường hoạt động này làm tăng
khả năng vay nợ của các ngân hàng thương mại. Theo các tác giả, nếu một ngân hàng có
khả năng vay nợ cao (thời gian nhanh, quy mô lớn, chi phí thấp) thì khả năng thanh khoản
của ngân hàng đó cũng lớn. Các nhà quản lý ngân hàng có thể duy trì danh mục tài sản
nghiêng về tính sinh lời hơn là tính thanh khoản và sử dụng việc huy động mới như là
phương pháp chính để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.


xuất nào đó mà họ có được qua kinh nghiệm và thời gian.
- Nguyên nhân thứ hai của rủi ro thanh khoản đến từ phía tài sản của bảng cân đối
kế toán, chẳng hạn, nhu cầu giải ngân cho các khoản tín dụng đã cam kết. Theo
cam kết, ngân hang phải có tiền giải ngân cho khách hang vay nợ, khi họ muốn rút
vốn theo nhu cầu và lịch trình đã thỏa thuận và do đó, nó làm phát sinh cầu thanh
khoản. Cũng giống như việc đáp ứng nhu cầu rút vốn của các trái chủ, trong
trường hợp này, ngân hàng có thể sử dụng tiền mặt dự trữ, vay nợ bổ sung hay bán
các tài sản.
- Nguyên nhân thứ ba là ngân hàng thiếu ngân quỹ để đáp ứng các nhu cầu của các
bên đối tác của ngân hàng: các chủ nợ, các cổ đông,…
- Các nguyên nhân khác có thể kể như ngân hàng không có những chiến lược và
phương pháp quản trị thanh khoản phù hợp. Rủi ro thanh khoản cũng có thể xảy ra
do những thay đổi của lãi suất thị trường. Cuối cùng, là các nguyên nhân hòan
toàn khách quan nhưng vô cùng nguy hiểm, đó là hiệu ứng rút tiền dây chuyền
trong những giai đoạn khủng hoảng tài chính và các biến cố kinh tế-chính trị bất
thường khác.

1.4. Cung và cầu thanh khoản
Trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định, với các chi tiết
về nguồn và sử dụng thanh khoản có thể được các nhà quản trị thiết lập để phục vụ nhu cầu
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
11

thanh khoản. Nguồn và sử dụng thanh khoản, hay nói cách khác, cung và cầu thanh khoản
bao gồm:
Cung về thanh khoản:
Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn
cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm:

ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị phải xem xét,
quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu.
Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản
(NPL=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy nhiên, đây là tình trạng rất
khó xảy ra trên thực tế.
Các chỉ tiêu quản trị thanh khoản
Các nhà quản trị ngân hàng thường sử dụng các chỉ tiêu quản trị thanh khoản sau đây:
- Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ = Ngân quỹ và tiền gửi tại các ngân hàng/ Tổng tài
sản
- Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản = Chứng khoán chính phủ/ Tổng tài sản
- Hệ số tiền nóng = Tài sản thị trường tiền tệ / Nợ trên thị trường tiền tệ
- Hệ số thành phần tiền gửi = Tiền gửi giao dịch / Tiền gửi định kỳ
1.6. Chiến lƣợc thanh khoản
Để xử lý vấn đề thanh khoản, các ngân hàng có thể tiếp cận theo 3 cách sau đây:
+ Tạo ra nguồn cung cấp thanh khoản từ bên trong (tài sản)
+ Vay mượn bên ngoài (nguồn vốn) để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
+ Phối hợp cân bằng cả hai hướng trên.
Chiến lược quản trị thanh khoản dựa trên tài sản (sử dụng vốn)
Đây là cách tiếp cận truyền thống để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của NHTM. Chiến
lược này đòi hỏi dự trữ thanh khoản dưới hình thức tài sản có tính thanh khoản cao, chủ
yếu là tiền mặt và các chứng khoán. Khi xuất hiện nhu cầu thanh khoản, ngân hàng bán các
tài sản dự trữ để lấy tiền cho đến khi tất cả nhu cầu thanh khoản được đáp ứng đầy đủ.
Chiến lược quản trị thanh khoản theo hướng này thường được gọi là sự chuyển hoá tài sản
bởi vì ngân hàng tăng nguồn cung cấp thanh khoản bằng cách chuyển đổi các tài sản phi
tiền mặt thành tiền mặt.
Tài sản có tính thanh khoản có 3 đặc điểm sau:
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
13

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
14

Nguồn vay mượn thanh khoản chủ yếu đối với một ngân hàng bao gồm: chứng chỉ tiền
gửi khả nhượng có giá trị lớn, tiền vay NHTW, các hợp đồng mua lại, chiết khấu tại
NHTW Chiến lược quản trị thanh khoản dựa trên nguồn vốn được hầu hết các ngân hàng
lớn sử dụng rộng rãi và có thể lên đến 100% nhu cầu thanh khoản của họ.
Vay mượn thanh khoản là cách tiếp cận nhiều rủi ro để một ngân hàng giải quyết vấn đề
thanh khoản (nhưng cũng đồng thời đem lại lợi nhuận cao nhất do bởi dao động lãi suất
trên thị trường tiền tệ và khả năng thay đổi về sự sẵn có của các khoản tín dụng).
Sẽ là vấn đề khó khăn cho các ngân hàng trên cả hai phương diện: chi phí và sự sẵn có
nguồn vốn. Chi phí vay mượn thường xuyên biến động và tất nhiên là tăng thêm mức độ
không ổn định của lợi nhuận. Hơn nữa, một ngân hàng có khó khăn về tài chính thì hầu
như thường là về nguồn thanh khoản đã vay mượn, nhất là khi sự hiểu biết về những khó
khăn của ngân hàng lan rộng và những người gửi tiền bắt đầu rút vốn ồ ạt. Đồng thời các tổ
chức tài chính khác, để dính líu rủi ro, sẽ thận trọng, dè dặt hơn trong việc tài trợ vốn cho
ngân hàng đang có khủng hoảng thanh khoản.
Chiến lƣợc quản trị thanh khoản cân bằng
Do những rủi ro vốn có khi phụ thuộc vào nguồn thanh khoản vay mượn và những chi
phí dự trữ thanh khoản bằng tài sản, phần lớn ngân hàng đã dung hòa trong việc chọn chiến
lược quản trị thanh khoản của họ, nghĩa là kết hợp đồng thời cả hai loại chiến lược trên để
tạo ra chiến lược quản trị thanh khoản cân bằng.
Chiến lược này đòi hỏi, các nhu cầu thanh khoản có thể dự kiến, được dự trữ bằng
chứng khoán khả nhượng và tiền gửi tại các ngân hàng khác; trong khi đó các nhu cầu
thanh khoản đã dự phòng trước (theo thời vụ, chu kỳ, và xu hướng) được hỗ trợ bằng các
thoả thuận trước về hạn mức tín dụng từ các ngân hàng đại lý hoặc những nhà cấp vốn
khác.
Nhu cầu thanh khoản không thể dự kiến được đáp ứng từ vay mượn ngắn hạn trên thị
trường tiền tệ. Các nhu cầu thanh khoản dài hạn cần được hoạch định và nguồn vốn để đáp
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

chỉ chiếm một phần nhỏ (khoảng dưới 10%). Các vụ sụp đổ ngân hàng, các cơn hoảng loạn
tài chính chỉ ra tính nhạy cảm của hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói
riêng trước các biến đổi bất thường của nền kinh tế trong nước, khu vực và toàn cầu.
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
16

Những tổn thất to lớn trong các ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng tới sự ổn
định chính trị - kinh tế - xã hội và đời sống của các tầng lớp dân cư. Vì vậy, sự an toàn của
các hệ thống cũng như mỗi ngân hàng là mối quan tâm thường xuyên của các tầng lớp dân
cư, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các nhà quản lý ngân hàng. Các Bộ luật, các Nghị
định, quy định thường đưa ra các điều khoản cấm, hạn chế, phải thực hiện… liên quan tới
hoạt động của ngân hàng. Ví dụ, cấm một ngân hàng không được cho vay đối với Hội đồng
quản trị của ngân hàng đó, cấm ngân hàng thương mại không trực tiếp kinh doanh bất động
sản, quy định tỷ lệ cho vay cao nhất đối với một khách hàng trên vốn của chủ, … Các quy
định nhìn chung đều hướng hoạt động của các ngân hàng vào khung an toàn. Bên cạnh
đó, các cơ quan quản lý còn đặt ra các hình thức kiểm tra, giám sát hoạt động của các ngân
hàng cũng như các điều khoản phạt vi phạm từ đơn giản như phạt tiền, đến các hình thức
cao hơn như hạn chế hoạt động, kiểm soát đặc biệt, rút phép… để buộc các ngân hàng phải
tuân thủ các quy định an toàn. Bên cạnh việc thực hiện các quy định của các cơ quan quản
lý cấp trên, mỗi ngân hàng đều có chính sách đảm bảo an toàn riêng, phù hợp với từng giai
đoạn cụ thể. Nguồn tiền của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi của doanh nghiệp và cá nhân,
ngân hàng phải có nghĩa vụ chi trả nhanh chóng. Bất cứ một sự chậm trễ nào đều có thể
gây ra những bật lợi cho ngân hàng. Khách hàng gửi tiền tuy không có khả năng kiểm soát
hoạt động của ngân hàng như những cơ quan quản lý, song họ lại rất nhạy cảm với những
thông tin về hoạt động cũng như tư cách đạo đức của người quản lý ngân hàng (cả chính
thức và không chính thức) và họ có quyền lựa chọn gửi tiền hoặc rút tiền cũng luôn yêu cầu
sự nhanh chóng và kịp thời. Điều đáng cân nhắc là nhiều nhu cầu của các loại khách lại
mâu thuẫn với yêu cầu an toàn của ngân hàng, ví dụ khách hàng vay tiền thường không

thanh khoản của tổng tài sản càng lớn
Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ được hình thành dựa trên tài sản có của ngân hàng
như ngân quỹ và tiền gửi tại các ngân hàng khác. Đây là những tài sản có tính thanh
khoản cao nhưng không sinh lợi cho ngận hàng.
Trạng thái ngân
quỹ
=
Ngân quỹ + Tiền gửi tại các ngân hàng khác
Tổng tài sản

Thành phần chỉ tiêu gồm:
Ngân quỹ
Tiền gửi tại các ngân hang khác
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
18

Tổng tài sản
2. Cấu trúc của các yếu tố chỉ tiêu
2.1 Tổng tài sản (Tài sản có)
2.1.1 Khái niệm
Tổng tài sản là những tài sản vật chất cụ thể tồn tại dưới những hình thức khác
nhau như tiền mặt tại két ngân hàng, tiền đang thu, chứng khoán các loại, cho vay
các loại và các trang thiết bị cơ sở vật chất của ngân hàng. Những tài sản này được
ngân hàng phân bổ theo những tiêu thức quản lý cụ thể và phù hợp sẽ được trình bày
cụ thể ở những phần sau.
Tài sản có (tài sản nội bảng) là những tài sản hình thành trong sử dụng các nguồn
vốn của ngân hàng. Ở góc độ tiếp cận khác, tài sản có là kết quả của việc sử dụng
vốn ngân hàng, là những tài sản được hình thành từ các nguồn vốn của ngân hàng

Các ngân hàng thương mại mua các chứng khoán vì các mục đích:
Ổn định hóa thu nhập
Bù trừ rủi ro tín dụng trong danh mục cho vay
Cung cấp nguồn thanh khoản dự phòng cho ngân hàng
Giúp cho ngân hàng giảm số thuế phải nộp nhưng vẫn tăng thu nhập, đặc biệt
là trái phiếu đô thị (là loại trái phiếu được miễn thuế thu nhập)
Tạo ra sự phòng vệ cho ngân hàng nhằm ngăn ngừa sự thiệt hại khi rủi ro
xuất hiện…
Nhìn chung, các ngân hàng có hai mục đích chính khi đầu tư các chứng khoán:
đầu tư vì thanh khoản và đầu tư vì lợi tức.Tất cả các chứng khoán đều đem lại thu
nhập cho ngân hàng. Tùy theo mục đích hoạt động mà các ngân hàng đầu tư vào loại
chứng khoán cụ thể. Với các ngân hàng có các khoản thu nhập từ tín dụng tốt,
không chịu áp lực phải tìm kiếm các khoản thu nhập khác thì họ thường lựa chọn
việc đầu tư vào các chứng khoán Chính phủ. Việc đầu tư ngắn hạn vào các chứng
khoán Chính phủ thường có mức lãi suất thấp nhưng không phải chịu rủi ro tín dụng
và ít rủi ro về lãi suất so với các chứng khoán dài hạn khác. Hơn nữa, các chứng
khoán Chính phủ có tính linh hoạt cao. Chúng có thể dễ dàng được bán lại trên thị
trường giúp cho ngân hàng giải quyết các vấn đề thanh khoản. Với các ngân hàng
chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận, họ thường đầu tư vào các chứng khoán công ty,
Phân tích Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ

GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Trường Nhóm 1 lớp VB2- TCNH
20

có kỳ hạn dài vì đây là các chứng khoán có lãi suất cao. Như vậy, ngân hàng phải
chấp nhận rủi ro lớn hơn và khó có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Ngoài ra, đầu tư vào chứng khoán cũng tạo điều kiện phân tán rủi ro. Đối với các
ngân hàng hoạt động trong một phạm vi một địa phương nhất định thường các
khoản mục tín dụng bị bó hẹp trong một số lĩnh vực cho nên rủi ro sẽ rất cao khi
lĩnh vực đó suy thoái. Vì vậy đầu tư vào chứng khoán sẽ chuyển một phần vốn phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status