Thực nghiệm xây dựng CSDL GIS3D và sửdụng mô phỏng - Pdf 14

1 MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết 6
2. Mục tiêu nghiên cứu 7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Cấu trúc luận văn 7
Chương 1: Tổng quan về xây dựng CSDL 3D và 9
các thành phần của một căn cứ Hải Quân 9
1.1. Tổng quan về xây dựng CSDL 3D 9
1.1.1. Nước ngoài 9
1.1.2. Trong nước 11
1.2. Các thành phần của căn cứ Hải Quân 15
1.2.1. Lực lượng Hải Quân 15
1.2.2. Các thành phần chính của căn cứ Hải Quân 18
Chương 2: Hệ thông tin địa lý và cơ sở dữ liệu GIS3D 21
2.1. Hệ Thông tin địa lý 21
2.1.1. Khái niệm 21
2.1.2. Thành phần 21
2.1.3. Chức năng 27
2.1.4. Các phương pháp thu thập dữ liệu cho GIS 29
2.2. Cơ sở dữ liệu GIS 3D 32
2.2.1. Khái niệm CSDL 32
2.2.2. Ưu điểm của CSDL 32
2.2.3. Mô hình và cấu trúc dữ liệu 32
2.2.3.1. Mô hình dữ liệu 32
2.2.3.2. Cấu trúc hệ thống dữ liệu 33

PHỤ LỤC 78 3 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. CSDL: Cơ sở dữ liệu
2. GIS: Geographic Information System, Hệ thông tin địa lý
3. ISO: International Standard Organization, Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
3. GIS 3D: Geographic Information System 3D, Hệ thông tin địa lý 3 chiều
4. GPS: Global Positioning System, Hệ thống định vị toàn cầu
5. DEM: Digital Elevation Model, Mô hình số độ cao
Hình 3.1. Đảo phú lâm (Woody Island) trong quần đảo Hoàng Sa 51
Hình 3.2. Ảnh Phú Lâm chụp ngày 06.01.2012 53
Hình 3.3. Cấu trúc cơ sở dữ liệu 2D căn cứ Hải quân phú lâm 53
Hình 3.4. Quy trình công nghệ tổng thể xây dựng CSDL GIS3D căn cứ hải quân55
Hình 3.5. Quy trình công nghệ xây dựng CSDL GIS3D căn cứ hải quân 56
Hình 3.6. sơ đồ quy trình tạo cơ sở dữ liệu nền địa hình trong TerraBuilder 6 57
Hình 3.7. Giao diện GoogleMap 58
Hình 3.8. Giao diện lưu file html 59
Hình 3.9. Hộp thoại thêm công cụ Screen grab 60
5 Hình 3.10. ảnh GeoEye phú lâm đao về 62
Hình 3.11. Hộp thoại tạo Project 63
Hình 3.12. Hộp thoại chon tên project 63
Hình 3.13. Hộp thoại chèn ảnh 64
Hình 3.14. Menu tạo ảnh Pyramaid 65
Hình 3.15. Hộp thoại tạo ảnh Pyramaid 65
Hình 3.16. Menu MPT 66
Hình 3.17. Hộp thoại tạo MPT 66
Hình 3.18. Hộp thoại xuất dữ liệu sang định dạng FLY 67
Hình 3.19. Công vụ vẽ khối nhà 68
Hình 3.20. Công cụ tạo nhãn dạng text 69
Hình 3.21. Hộp thoại thay đổi vị trí và độ cao của nhãn 70
Hình 3.22. Hộp thoại mở mô hình 3D 71
Hình 3.23. Đặt vị trí mô hình vào vị trí trên bản đồ 71
Hình 3.24. Hộp thoại thiết lập các tham số của đối tượng chuyển động 72
Hình 3.25. Hộp thoại chọn mô hình 3D của đối tượng chuyển động 73
Hình 3.26. Hộp thoại chọn công cụ Presentation 73
Hình 3.27. Hộp thoại chọn tên file video 74

Một mô hình địa hình 3D tương tác sẽ có rất nhiều ưu điểm. Nó có thể cung
cấp cho người dùng khả năng chủ động chọn vị trí quan sát ảo trong bản đồ, cho
phép nhận biết và tìm hiểu các dữ liệu không gian cũng như các thông tin thuộc tính
liên quan đến các đối tượng địa hình chính xác hơn. Chắc chắn việc áp dụng các
công nghệ mới phục vụ cho ngành bản đồ sẽ hoàn thiện chất lượng của các sản
phẩm bản đồ và mở ra các lĩnh vực ứng dụng mới.
GIS quân sự là công nghệ thu thập và quản lý tin tức địa lý quân sự đã và
đang được quân đội nhiều nước đặc biệt quan tâm và nghiên cứu phát triển. Xây
dựng CSDL địa lý quân sự nhằm tăng cường khả năng hỗ trợ ra quyết định của các
cấp chỉ huy tác chiến dựa trên GIS3D là nhu cấp bách của quá trình hiện đại hóa
quân đội, là tăng cường sức mạnh quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.
7 Với mỗi mục tiêu quân sự khác nhau sẽ có các thành phần của mục tiêu khác
nhau. Trong một căn cứ Hải quân có rất nhiều thành phần như: hệ thống cầu cảng,
các loại tàu, các công trình cầu cảng,… Nếu trình bày trên dữ liệu địa lý hai chiều
sẽ có những hạn chế nhất định trong việc quan sát, phân tích, đánh giá, ra quyết
định. Việc hiển thị các thành phần của căn cứ Hải quân trên nền bản đồ số 3D sẽ
đem lại hiệu quả rất cáo, bởi các lợi thế của chúng là tại một điểm, một tuyến có thể
quan sát tại nhiều góc độ mở khác nhau mà ngay cả khi ra ngoài thực địa cũng
không thể có “cái nhìn” tổng quát như trên mô hình 3D.
Vì những lý do trên, việc chọn đề tài “Ứng dụng GIS trong xây dựng CSDL
GIS 3D căn cứ hải quân (Thử nghiệm cho căn cứ Phú Lâm - Hoàng Sa)” là cần
thiết và phù hợp với xu hướng nghiên cứu, phát triển KHCNKT quân sự và nhu cầu
của công tác hỗ trợ chỉ huy, tham mưu tác chiến của quân đội ta.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các thành phần của một căn cứ Hải Quân.
Nghiên cứu Xây dựng CSDL3D căn cứ Hải quân (Xây dựng thử nghiệm cho

luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, em mong tiếp tục nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô giáo và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn! 9 Chương 1: Tổng quan về xây dựng CSDL 3D và
các thành phần của một căn cứ Hải Quân
1.1. Tổng quan về xây dựng CSDL 3D
1.1.1. Nước ngoài
- Mô hình 3D city của Copenhagen - Đan Mạch với các ứng dụng quy hoạch
đô thị, xây dựng và cấp thoát nước.
Copenhagen, thủ đô của Đan Mạch với 500 000 dân và diện tích 88km2 là
một trong những thành phố du lịch nổi tiếng nhất Châu Âu và cùng là địa điểm lựa
chọn hàng đầu để tổ chức các hội nghị quốc tế.
Mô hình 3D thành phố với hàng loạt các ứng dụng đã được chứng minh
trong các lĩnh vực như quy hoach đô thị, hiển thị các dự án phát triển đang được đề
xuất, viễn thông, phân tích các yếu tố môi trường, giao thông, quản lý
rủi ro cùng như các ứng dụng đang dần được phát triển trong lĩnh vực du lịch.
Đến năm 2003 với 30 000 giờ làm việc mô hình đầu tiên của Copenhagen
được hoàn thiện với 130 000 ngôi nhà độ chi tiết cao được thành lập trong môi
trường lập thể của công nghệ ảnh số trên nền dữ liệu DGN của Microstation. Ngoài

các căn hộ trong các khu nhà cao tầng trở thành dạng bất động sản rất được quan
tâm. Hội Trắc địa Quốc tế (FIG) đã tổ chức hội thảo về Địa chính 3D (3D cadastres)
tại Delf (Hà Lan). Các vấn đề được quan tâm nhiều là quan hệ topology giữa các
đối tượng của bản đồ địa chính trong môi trường 3D thực, quá trình chuyển tiếp từ
hệ thống địa chính 2D sang hệ thống địa chính 3D. Giới thiệu hệ thống đăng ký đất
đai trong đó các bất động sản trong các khu nhà cao tầng đều được coi là khối, mỗi
đỉnh của khối đều có tọa độ X, Y, z. Trong mỗi tầng được thể hiện bằng một bản vẽ
2D, mỗi bất động sản được gán thêm thuộc tính của tầng.
Mô phỏng chiến trường: Những năm gần đây, thuật ngữ "Tự động hoá chỉ
huy” được nhắc tới nhiều trong các cuộc chiến tranh khu vực do quân đội Mỹ và
đồng minh tiến hành, như chiến tranh Vùng Vịnh, chiến tranh Nam Tư, chiến tranh
Iraq. Ưu điểm nổi trội của hệ thống này chính là khả năng làm chủ tình hướng trên
chiến trường, cho phép thực hiện các hoạt động tác chiến từ xa, mô phỏng 3D hình
thái chiến trường, triển khai phối hợp kịp thời các hoạt động, đồng thời đánh giá và
11 dự báo các tình hướng, đưa ra giải pháp xử lý nhanh chóng, chính xác, nâng cao
hiệu quả hoạt động tác chiến hiện đại. Trong Quân đội Mỹ, mọi hoạt động quân sự,
huấn luyện, diễn tập, chiến đấu, thực hành đổ bộ trên biển, trên không Trước khi
triển khai thực binh đều được thử nghiệm trên sa bàn ảo 3D, mô phỏng theo kịch
bản, sau đó mới tiến hành trên thực địa. Điều đó góp phần làm cho thời gian tác
chiến thực tế rút ngắn, đẩy nhanh nhịp độ tác chiến và tiết kiệm chi phí, xương máu
để tổ chức thực hành tác chiến trên chiến trường.
Nước Nga cũng đã trình chiếu mô phỏng cuộc chiến tranh 5 ngày tại Grudia.
Được cho là bất ngờ, nhưng trên thực tế, giới chức quân sự Nga đã chuẩn bị khá kỹ
lưỡng và nghiên cứu các kịch bản, tình hướng có thể trên sa bàn ảo 3D.
Quân đội Trung Quốc cũng đã khảo nghiệm những đặc điểm và mô hình của
khái niệm chiến tranh mạng điện tử tích hợp (integrated network electronic warfare-
inew). Những năm gần đây, Quân đội Trung Quốc đều tổ chức tập trận trên các

Nhà xuất bản Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, chuyên sản xuất
các sản phẩm chính thường là bản đồ trê n giấy. Dạng thứ nhất là Bản đồ trên nền
vờn bóng địa hình, các bản đồ này giúp người đọc nhận biết các đối tượng dễ dàng
hơn. Từ các số liệu như đường bình độ, điểm độ cao người ta tiến hành thành lập
mô hình DEM sau đó đưa vào phần mềm để qui định các thông sổ chiếu sáng và tạo
file vờn bóng. Dạng sản phẩm thứ hai là bản đồ cảnh quan, lớp phủ thực vật được
phủ lên mô hình DEM, các yếu tố giao thông cũng được phủ lên DEM. Trên nền địa
hình số các đối tượng quan trọng cần làm nổi bật được thể hiện nổi trên nền Bản đồ
tạo ra một nội dung rõ nét về địa hình cũng như bố cục của chuyên đề cần thế hiện.
Công ty Ảnh Địa hình thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, cũng đang tiến
hành tạo dữ liệu đầu vào cho hệ thống thông tin địa lý Thành phố Hà Nội
(HanoiGIS). Ảnh máy bay (tỷ lệ 1:8000) dùng để thành lập Mô hình địa hình tỷ lệ
1:2000. Ngoài các nội dung của Mô hình địa hình tỷ lệ 1:2000 theo quy định, chiều
cao của nhà và khối nhà được quan tâm đặc biệt. Thông số về chiều cao này được
xác định khi đo vẽ lập thể ảnh máy bay hoặc bằng điều tra ngoại nghiệp và sẽ được
lưu trữ ở dạng đồ họa.
Trung tâm công nghệ thông tin và hệ thống thông tin địa lý (DITAGIS)
13 cùng tiến hành xây dựng DIGIS 1.0 trên nền ArcViewGis với các module mở rộng
được phát triển phục vụ cho các ứng dụng quản lý đô thị. số liệu của quận 5 Thành
phố Hồ Chí Minh được dùng để thử nghiệm và hiển thị trực quan lập thể ở mức độ
đơn giản với đối tượng chính là các khối nhà.
Từ năm 2005 Cục Bản đồ/BTTM đã tiến hành nghiên cứu xây dựng phần
mềm “Viết vẽ văn kiện tác chiến trên nền địa hình 3 chiều”, bước đầu đã có thể bố
trí các đối tượng lên bề mặt địa hình 3D; tạo ra bước đột phá về công nghệ, cho
phép điều khiển các đối tượng hoạt động trong không gian 3 chiều như chuyển
động, bắn đạn, hiệu ứng nhấp nháy, khói nổ Đề tài “Xây dựng sa bàn ảo trên cơ
sở nền địa hình số độ cao của Google Earth” cho phép nghiên cứu địa hình một

Tháng 8/2012 UBND TP Hạ Long triển khai dự án ứng dụng Công nghệ GIS
3D trong quản lý quy hoạch đô thị TP Hạ Long. Việc ứng dụng công nghệ GIS 3D
sẽ giúp quản lý TP Hạ Long một cách đồng bộ. Sự cần thiết của việc ứng dụng công
nghệ trên trong việc quản lý đồng bộ cả cơ sở dữ liệu về đất đai và quy hoạch hạ
tầng kỹ thuật nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong công tác quản lý, vận hành của
thành phố sau này.
15 1.2. Các thành phần của căn cứ Hải Quân
1.2.1. Lực lượng Hải Quân
Hải quân Trung Quốc thành lập ngày 23 tháng 04 năm 1949 tại xã Bạch Mã
Miếu, thành phố Tần Châu, tỉnh Giang Tô. Khi mới thành lập thuộc quân khu Hoa
Đông. Sau khi nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời, lực lượng Hải quân
phát triển dần và thành lập ra cơ quan lãnh đạo quân chủng và Hạm đội. Đến năm
1955 đã xây dựng được lực lượng hải quân hỗn hợp đa binh chủng.
Lực lượng Hải quân hiện nay biên chế 300.000 quân, trong đó không quân
hải quân là 25.000 quân, lực lượng phòng thủ bờ biển là 25.000 quân, hải quân đánh
bộ là 40.000 quân. Cơ cấu chỉ huy của Hải quân Trung Quốc gồm Bộ Tư lệnh, Bộ
Chính trị và Bộ Hậu Cần. Đơn vị tác chiến gồm có Hạm đội Bắc hải, Hạm đội Đông
hải, Hạm đội Nam hải, lực lượng không quân hải quân, lực lượng phòng thủ bờ biển
và lực lượng bảo đảm các loại.
Hải quân Trung Quốc ngày càng được xây dựng và trang bị hiện đại có khả
năng tập kích chiến lược và tác chiến tấn công phòng thủ trên mặt nước, dưới ngầm
và trên không, có thể tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các binh chủng khác.
Hiện nay, Hải quân Trung Quốc có khoảng hơn 300 tàu chiến chủ lực (trong
đó tàu ngầm hơn 63 chiếc, tàu khu trục 20 chiếc, tàu hộ vệ hơn 50 chiếc), 550 tàu
chiến đấu (180 - 200 tàu tên lửa, 100 - 150 tàu ngư lôi), 150 - 200 tàu bổ trợ.
Không quân hải quân biên chế thành 10 sư đoàn không quân (6 sư chiến đấu,
3 sư ném bom, 1 sư huấn luyện), tổng cộng có 541 máy bay chiến đấu (máy bay

- 1 bộ chỉ huy đóng tại Thanh Đảo
- Các căn cứ hỗ trợ bảo đảm đóng tại Lư Sơn
- Tàu ngầm: 4 lữ (số 1, 2, 12, 62- thử nghiệm)
- Tàu nổi: 1 lữ tàu khu trục tên lửa; 3 lữ tàu phóng lôi; 3 lữ tàu tuần tiễu;
- Hàng không: 1 f ném bom-rải mìn; 2 f tiêm kích; 1 d độc lập; 2 trường cao
đẳng bay không quân hải quân (số1, 2)
- 1 lữ HQĐB
- Hạm đội Bắc Hải có tổng số hơn 330 tàu các loại, trong đó có 8 tàu khu trục
tên lửa, 6 tàu hộ vệ tên lửa, 6 tàu ngầm hạt nhân, 27 tàu ngầm thông thường, gần
300 tàu chiến và tàu bảo đảm các loại.
17 Hạm đội Đông hải
Bộ tư lệnh đóng ở Thượng Hải.
Các cảng nắm giữ: Thượng hải, Ngô Tùng, Châu Sơn, Định Hải và Hàng
Châu. Tương ứng đại quân khu Nam Kinh ra phía biển, gồm 7 khu vực phòng thủ
ven biển
Hiện nay Hạm đội Đông hải có 3 căn cứ hải quân cấp quân chủng là:
- Căn cứ Thượng Hải (quản lý vùng biển cảng Liên Vân, Ngô Tùng).
- Căn cứ Châu Sơn (quản lý vùng biển Định Hải, Ôn Châu).
- Căn cứ Phúc Kiến (quản lý vùng biển Ninh Đức, Hạ Môn).
Phạm vi bảo vệ: Đông Hải và eo biển Đài Loan tính từ Nam cảng Liên Vân
đến Bắc đảo Nam Áo.
Tàu chỉ huy của Hạm đội là tàu vận tải Đông Cứu 302 (hiệu Sùng Minh
Đảo). Bộ tư lệnh của Hạm đội Đông Hải trước đóng tại Thượng Hải đến thập niên
70 chuyển về thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang.
- Các căn cứ tại Phúc Kiến, Chu Sơn, Hồ Dongqian
- Tàu ngầm: 2 lữ (số 22, 42)
- Tàu nổi: 1 lữ tàu khu trục tên lửa; 1 lữ tàu hộ vệ tên lửa;1 lữ tàu phóng lôi, 2

vực trên bờ. Mỗi khu vực lại bao gồm các thành phần khác nhau.
Khu vực mặt nước là tập hợp các lối vào dẫn tới căn cứ hải quân, là các vũng
tàu ngoài và trong, các cảng và lưu vực bên trong. Phần bên ngoài mặt nước là vũng
tàu ngoài. Vũng tàu ngoài được sử dụng là khu vực đỗ tàu thuyền. Khu mặt nước
bên trong được nối với cảng của căn cứ hải quân. Các cảng tự nhiên hiếm, các cảng
nhân tạo được tạo nên bởi các công sự che chắn – các đập và đê chắn sóng là những
bức tường dài hẹp được làm từ bê tông cốt thép hoặc tường đá và đê đắp có hướng
từ bờ ra đến biển. Đập chắn sóng được nối với bờ ở điểm cuối, còn đê chắn sóng thì
không. Khu vực mặt nước phía bên trong được chia thành những lưu vực bởi các
phần nhô ra của đất liền và các công trình kỹ thuật thuỷ lợi.

Tại khu vực bờ của căn cứ hải quân: các thành phần chính được bố trí như
sau: các bến, kho có chức năng khác nhau, các xí nghiệp đóng và sửa chữa tàu; các
công trình hành chính, sân bay hải quân phục vụ và thực hiện các nhiệm vụ khác.
19 Các bến tàu là những công sự chính, căn cứ hải quân có nhiệm vụ là bến đỗ
cho tàu thuyền, thực hiện công việc bốc dỡ, cập bến và vận chuyển vũ khí trang bị.
Các công trình bến đỗ có thể được chia thành các dạng sau:
- Vách bến (được tạo bởi các bờ kè);
- Thành bến (là các công trình chuyên dụng không dài, được bố trí vuông góc
hoặc tạo thành một góc với đường (ranh giới) bờ);
- Đê (nếu các đê được sử dụng cho các bến đỗ thì được làm to và có thể được
trang bị các bến nhỏ);
- Các bến nổi (được bố trí trên cầu phao và không được nối với bờ) và phao
tiêu;
Các công việc bốc dỡ trên bến được thực hiện với sự trợ giúp của các trục
khác nhau, các băng chuyền và máy nâng, các máy này truyền đi theo đường ray.
Các kho có các trạm gác phía trước (nằm ở các bến) và phía sau. Các trạm

21 Chương 2: Hệ thông tin địa lý và cơ sở dữ liệu GIS3D
2.1. Hệ Thông tin địa lý
2.1.1. Khái niệm
Hệ thông tin địa lý: Geographical information system (GIS) là một tổ chức
tổng thể của bốn hợp phần: phần cứng máy tính, phần mềm, tư liệu địa lý và người
điều hành được thiết kế hoạt động một cách có hiệu quả nhằm tiếp nhận, lưu trữ,
điều khiển, phân tích và hiển thị toàn bộ các dạng dữ liệu địa lý. GIS có mục tiêu
đầu tiên là xử lý hệ thống dữ liệu trong môi trường không gian địa lý. (Viện nghiên
cứu môi trường Mỹ - 1994).
Một định nghĩa khác có tính chất giải thích, hỗ trợ là: “GIS là một hệ thống
máy tính có chức năng lưu trữ và liên kết các dữ liệu địa lý với các đặc tính của bản
đồ dạng đồ họa, từ đó cho một khả năng rộng lớn về việc xử lý thông tin, hiển thị

Như vậy, GIS là sự phát triển đặc biệt để sử dụng công nghệ và nghệ thuật
máy tính trong việc xử lý tư liệu không gian dạng số.
23 Người điều hành
Vì GIS là một hệ thống tổng hợp của nhiều công việc kỹ thuật, do đó đòi hỏi
người điều hành phải được đào tạo và có kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực. Người
điều hành là một phần không thể thiếu được của GIS. Hơn nữa sự phát triển không
ngừng của các kỹ thuật phần cứng và phần mềm đòi hỏi người điều hành phải luôn
được đào tạo. Những yêu cầu cơ bản về người điều hành bao gồm các vấn đề sau:
Có kiến thức cơ bản về địa lý, bản đồ, máy tính và công nghệ thông tin:
- Việc đào tạo cơ bản về địa lý cung cấp khả năng khai thác các đặc điểm
không gian (spatical process) và các quá trình không gian, đồng thời phát hiện được
mối quan hệ không gian giữa các hợp phần.
- Bản đồ học cung cấp các hiểu biết về thiết kế bản đồ, lập bản đồ (ví dụ:
Lưới chiếu bản đồ, hệ thống tọa độ, các mẫu ký tự trên bản đồ và các kỹ thuật in
ấn).
- Khoa học về máy tính và thông tin cung cấp các kiến thức cơ bản về phần
cứng máy tính và vận hành thông thạo các chương trình liên kết phần cứng.
- Có kinh nghiệm trong việc sử dụng các phần mềm GIS: việc đào tạo các
phần mềm chủ yếu thường tập trung vào việc xử lý GIS, lập trình cơ bản, quản lý cơ
sở dữ liệu và một số công việc khác có liên quan đến tích hợp thông tin.
- Có hiểu biết nhuần nhuyễn về dữ liệu: hiểu về nguồn dữ liệu, nội dung và
độ chính xác của dữ liệu, tỷ lệ bản đồ nguyên thủy và các số liệu đo đạc của tập dữ
liệu, cấu trúc của dữ liệu.
- Có khả năng phân tích không gian. Yêu cầu được đào tạo về các phương
pháp xử lý thống kê và xử lý định tính trong địa lý, việc đào tạo cho người xử lý có
thể lựa chọn phương pháp tốt nhất để phân tích và áp dụng nhằm đưa ra kết quả tốt
nhất.


Hình 2.3. Các thành phần của gis
Phần mềm
Một hệ thống phần mềm xử lý GIS yêu cầu phải có hai chức năng sau: tự
động hoá bản đồ và quản lý cơ sở dữ liệu. Sự phát triển kỹ thuật GIS hiện đại liên
quan đến sự phát triển của hai hợp phần này.
Tự động hoá bản đồ: bản đồ học là môn khoa học, nghệ thuật và kỹ thuật
thành lập bản đồ. Do đó, tự động hoá bản đồ là thành lập bản đồ với sự trợ giúp của
máy tính. Một bản đồ là sự thể hiện bằng đồ họa của mối quan hệ không gian và các
hình dạng (Pobinson và NNK, 1984) và mỗi một bản đồ là sự mô hình hoá thực tế
theo những tỷ lệ nhất định. Mô hình đó yêu cầu biến đổi các số liệu ghi bản đồ
thành bản đồ và gồm các công đoạn sau: Lựa chọn, phân loại, làm đơn giản hóa và
tạo mẫu ký tự (Den - 1990).
Máy tính trợ giúp cho bản đồ học ở nhiều phương diện như sau:
Trước hết, bản đồ trong máy tính là dạng số nên dễ dàng chỉnh sửa và việc
chỉnh lý đó tốn ít công sức hơn so với việc không có sự trợ giúp của máy tính. Mặc
dù việc số hóa có thể dẫn đến nhiều lỗi và làm giảm độ chính xác, song các lỗi đó
có thể sửa dễ dàng nếu phát hiện được. Khi đó, bản đồ sẽ được hoàn thiện và lượng
thông tin sẽ được nâng lên. Đặc biệt, việc bổ sung thông tin cho bản đồ cũng dễ
dàng thực hiện được.

Trích đoạn Giới thiệu chung về Skyline Phần mềm GoogleSketchUp 7 Phần mềm ARCGIS Căn cứ Hải Quân Phú Lâm Xây dựng CSDL GIS3D Căn cứ Phú Lâm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status