Khảo sát và đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh trên kênh nhiêu lộc thị nghè - Pdf 14

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô
trong khoa Công Nghệ Sinh Học và Môi Trường thuộc trường đại học Kỹ Thuật
Công Nghệ TPHCM và một số cơ quan có thẩm quyền đã giúp đỡ nhiều nguồn tài
liệu quý báu cũng như kiến thức có liên quan trong suốt thời gian làm tiểu luận tốt
nghiệp và học tập tại trường.
Trước hết em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến :
-Cô Lê Thị Kim Oanh đã tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian làm luận văn .
-Các thầy cô trong phòng thí nghiệm trường đã giúp đỡ em rất nhiều trong công
việc .
-Các anh chị thuộc trung tâm nghiên cứu ETM đã hướng dẫn tận tình trong việc
phân tích và lấy mẫu .
Và cuối cùng là tập thể lớp 05ĐSH1.
Một lần nữa cho em gởi lời cảm ơn đến toàn bộ quý thầy cô, các anh chị và các bạn
đã tận tình giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu để hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này .
1
Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng và có vai trò quyết định trong
việc bảo đảm đời sống đối với con người. Mặc dù nước có vai trò rất quan trọng
nhưng do nhận thức còn hạn chế con người chỉ chú ý đến việc khai thác và sử dụng
mà không quan tâm đến việc bảo vệ môi trường nước. Sự tác động vô ý thức của con
người đang làm ô nhiễm trầm trọng môi trường nước.
Trong giai đoạn hiện nay các vấn đề về ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi
trường nước đáng được xã hôi đặc biệt quan tâm. Thành phố chúng ta vốn rất nhiều
kênh rạch, sông ngòi nhưng không được sự quan tâm bảo vệ đúng mức nên các con
kênh này ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng gây mất vẻ mỹ quan và làm tổn thất rất
lớn về tài nguyên nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.

- Tìm hiểu các dự án trên đang tiến hành trên kênh Thị Nghè ưu và nhược điểm nếu
có và có thể đề ra các biện pháp giải quyết;
3
Hình 1.1 Bản đồ vùng kênh khảo sát
1.6. KHỐI LƯỢNG CÔNG VIỆC - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.6.1. Khối lượng công việc
* Thu thập tài liệu:
- Các tài liệu về đặc điểm thủy văn của NL-TN
- Các tài liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, Xã hội ở NL-TN
- Các báo cáo về khoa học về vùng kênh NL-TN
* Tiến hành khảo sát ở ven vùng kênh
* Lấy mẫu
4
* Ngoài ra còn sử dụng mẫu phân tích nước từ các đơn vị khác
* Các mẫu được phân tích với các chỉ tiêu hóa lý: pH, COD, BOD
5
, mùi vị, chất rắn
hòa tan(TDS), độ điện dẫn (EC). Các chỉ tiêu vi sinh: định lượng Coliform, E.Coli,
tổng số vi sinh hiếu khí.
1.6.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập tài liệu theo phương pháp chọn lọc.
- Phân tích thành phần hóa học của mẫu nước.
- Đo pH bằng máy đo pH meter sension 1 của hãng HACH có 2 đầu đo: 1 đo pH và 1
đo nhiệt độ.
- Đo tổng chất rắn hòa tan, chất rắn lơ lửng bằng máy đo độ dẫn EC.
- Đo nhu cầu oxy hóa học COD bằng phương pháp dichromate hoàn lưu.
- Xác định nhu cầu oxy sinh học BOD bằng phương pháp oxy hóa ướt. Trong đó vi
sinh vật sống giữ vai trò oxy hóa các chất hữu cơ CO
2
, H

0
C trong 24 h.
5
Chương 2
TẦM QUAN TRỌNG CỦA NƯỚC
VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NƯỚC Ô NHIỄM
2.1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NƯỚC
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và
môi trường. Nước không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh vật và
nhân loại trên trái đất. Nước quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước;
mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường. Tài nguyên
nước là nguồn tài nguyên vừa hữu hạn, vừa vô hạn.
Nước trên trái đất có số lượng rấl lớn. Với trữ lượng nước là 1,45tỷ km
3
bao
phủ 71% diện tích trên trái đất, tương đương với một lớp nước dày 2.700 m khi trải
ra trên toàn bộ bề mặt trái đất (bằng 510 x 10
12
m
2
). Tổng sản lượng nước trên trái đất
gồm: 97,5% nước biển (mặn) và chỉ 2,5% nước ngọt. Trong 2,5% này chỉ có 0,4%
nước mặt gồm sông ngòi, ao hồ và hơi nước trong không khí, 30,1% nước ngầm và
phần còn lại là những tảng băng trải rộng ở Bắc và Nam cực. Và sau cùng trong
0,4% nước mặt đó, có 67,4% nước ao hồ, 1,6% sông ngòi, 12,2% nước đã thấm vào
đất, 9,5% hơi nước trong không khí (Hội đồng Nước thế giới). Nước không ngừng
thay đổi trạng thái, tạo nên vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên. Nước bốc hơi
ngưng tụ thành mưa, nước mưa rơi xuống các ao hồ, thủy vực hoặc tạo dòng chảy ra
biển. Nhìn chung đại dương là nơi nhận được lượng mưa, tuyết rơi nhiều nhất; trung
bình hàng năm lượng ngưng tụ này trên đại dương lên tới khoảng 990 mm so với 650

Suy thoái môi trường nước là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của
thành phần như các chỉ tiêu lý hóa, đời sống của thùy sinh, gây ảnh hưởng xấu đối
với con người và sinh vật.
7
Ô nhiễm vi sinh là nước bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ từ đó tạo điều kiện
cho các vi sinh vật gây bệnh hoặc có hại phát triển, chủ yếu là các vi sinh vật sống
trong ruột người. Chúng biến môi trường nước thành môi trường trung gian truyền
bệnh gây tác động không tốt đến sức khỏe cộng đồng.
2.2. CÁC CHỈ TIÊU VI SINH VÀ Ý NGHĨA
2.2.1. Định lượng Coliform
- Coliform là những trực khuẩn gram âm không sinh bào tử hiếu khí hoặc kị khí tùy
ý, có khả năng lên men lactose, sinh acid là sinh hơi ở 37
0
C trong 24-48h. Trong
thực tế phân tích coliform được định nghĩa là các vi khuẩn có khả năng lên men sinh
hơi trong khoảng 48h khi được ủ 37
0
C trong môi trường canh lauryl sulphate và
canh Brilliant green lactose bile salt. Nhóm coliform hiện diện rộng rãi trong tự
nhiên trong ruột người, động vật. Coliform là nhóm vi sinh vật chỉ thị: số lượng hiện
diện của chúng trong nước, thực phẩm.
- Coliform chịu nhiệt là những coliform có khả năng lên men lactose sinh hơi trong
24 giờ khi được ủ ở 44
0
C trong môi trường canh EC. Coliform phân là coliform chịu
nhiệt có khả năng sinh indole khi được ủ 24 h ở 44.5
0
C trong canh trypton. Là 1
thành phần của hệ vi sinh đường ruột người và các động vật máu nóng khác, được sử
dụng để chỉ thị mức độ vệ sinh trong thực phẩm và nước uống .

chủ yếu là người và động vật. Trong môi trường nước loài này có thể tồn tại hơn 6
tháng. Đây là loài vi khuẩn gây ra bệnh lỵ (tiêu chảy nhẹ đến nặng đặc biệt đối tượng
gây bệnh là trẻ em và người già).
- Streptococci phân: là nhóm vi khuẩn gram dương, hình cầu có đường kính khoảng
1 micromet và sống thành từng chuỗi ngắn, được tìm thấy trong ruột người và động
vật máu nóng.
- Pseudomonas aeruginosa: là nguyên nhân gây ra bệnh các vết thương, các bệnh về
tai, tiết niệu, hô hấp …
9
- Psesomonas aeruginosa là vi khuẩn hiếu khí gram âm không tạo bào tử hình que
kích thước 0,5 x 2 micromet. Tồn tại ở nồng độ thấp 50 con/gram phân người.
Pseusomonas dính bám lên các vật nổi trong nước, có nồng độ cao trong nước thải
sinh hoạt >10
5
/100ml, trong nước thải bệnh viện >10
6
/100ml.
2.3. CÁC CHỈ TIÊU HÓA HỌC VÀ Ý NGHĨA
2.3.1. pH
pH là đại lượng đặc trưng cho tính axit hoặc bazơ của nước và được tính bằng công
thức: pH = - lg [H
+
].
2.3.2. Tổng chất rắn hòa tan (TDS).
Nước lôi cuốn và hòa tan vô số vật chất hữu cơ vô cơ hoặc các ion kim loại
theo dòng chảy. Ngoài các vật thể có kích thước lớn trong phạm vi thấy được của
mắt, các vật thể còn lại sau khi nước bốc hơi tạo thành lớp cặn khô dưới đáy cốc
được gọi là chất rắn hoà tan.
Chất rắn tổng cộng bao gồm các thành phần: chất rắn qua lọc hay chất rắn hòa
tan (TDS) và chất rắn lơ lửng.

Hiện nay trên thế giới có nhiều các tiêu chuẩn để đánh giá mức độ ô nhiễm
khác nhau nhưng do yêu cầu khách quan và hiện chúng ta đánh giá mức độ ô nhiễm
ở Việt Nam nên tôi dùng các tiêu chuẩn Việt Nam quy định tiêu chuẩn nước về nước
mặt và nước sông hồ. Đồng thời để thuận lợi cho công tác đánh giá, người thực hiện
tham khảo thêm tiêu chuẩn TCVN 5945-2005 và một số quy chuẩn của Bộ Tài
nguyên ban hành.
11
Chương 3
KHÁI QT VỀ VÙNG KÊNH NHIÊU LỘC - THỊ NGHÈ
3.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN:
3.1.1. Vị trí địa lý:
Kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè là 1 con kênh Lớn nằm trong khu vực nội thành
thành phố Hồ Chí Minh. Kênh bắt đầu từ quận Tân Bình chảy qua địa bàn các quận
Phú Nhuận, quận 3, quận 1 và quận Bình Thạnh, kết thúc vảo nhánh sơng Sài Gòn
(cạnh xưởng sửa chữa tàu Ba Son).
Lưu vực kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè có diện tích 3.324 ha nằm trên địa bàn 7
quận nội thành (quận 1, quận 3, quận 10, quận Phú Nhuận, quận Bình Thạnh, quận
Gò Vấp và quận Tân Bình). Nơi đây tập trung dân cư với mật độ cao, bao gồm 2 khu
vực chính:
- Khu dân cư quy hoạch (Quận 1, Quận 3 và một phần quận Phú Nhuận, Quận Tân
Bình, Quận Bình Thạnh sát dọc kênh): khu đơ thị có các đặc trưng mật độ đường
giao thơng cao, tương đối có quy hoạch, cơ sở hạ tầng tương đối đầy đủ.
- Khu dân cư tự phát: được hình thành do làn sóng dân nhập cư từ nơng thơn đổ về
do có tính chất tự phát nên cơ sở hạ tầng phát triển kém khơng đáp ứng các tiêu
chuẩn đơ thị. Đây là một trong những nguồn tác động nhiều đến chất lượng mơi
trường nói chung và nguồn nước kênh rạch nói riêng.
Bảng 3.1
Lưu vực
Diện tích(ha)
Dân số

lượng mưa cả năm.
Bảng 3.2 Lượng mưa bình quân
Trạm
T1 T2 T3 T4
T
5
T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Năm
Tân
Sơn
Nhất
13
4
11 48 208 313 296 371 327 274 118 46 1929
Nhà Bè
7 0 6
21 167 267 229 220 255 181 65 15 1433
Nguồn: Viện tài nguyên và môi trường.
- Lượng nắng trung bình hàng năm 6,2 giờ mỗi ngày, với lượng nắng tối đa là 8 giờ
vào tháng 2, 3 và tối thiểu là 5 giờ vào tháng 10. Lượng mây thay đổi trung bình từ
65-80 % vào tháng 7, 8, 9 và 40 % vào tháng 2. Sấm sét, giông gió thường có vào
mùa mưa khoảng 6,7 ngày/tháng nhưng hiếm xảy ra vào các tháng còn lại.
15
- Nhiệt độ không khí ít thay đổi giữa các tháng trong năm, biên độ dao động trong
khoảng 5 -7
0
C. Nhiệt độ trung bình năm là 27
0
C. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban
ngày và ban đêm tương đối lớn (khoảng 7 -10

83
99
33
6
86
100
30
7
87
100
40
8
86
99
44
9
87
100
43
10
87
100
40
11
84
100
33
12
81
100

3.1.3. Địa hình, địa chất:
- Địa hình lưu vực kênh Nhiêu –Lộc –Thị Nghè có hai phần chính ở hai bên bờ kênh:
vùng dồi và vùng thấp.
Vùng đồi có địa hình lớn có cao độ hơn 2,5 m bao gồm các khu vực: quận 1,
quận 3 từ đường Nguyễn Thị Minh Khai đến đường Lý Chính Thắng, (phía Nam lưu
vực kênh). Cao độ giảm từ 9,7 m đến 3,0 m độ dốc địa hình lớn thoát nước khá tốt.
Vùng phía Đông Bắc lưu vực thuộc quận Gò Vấp và quận Phú Nhuận có cao độ địa
hình từ 10 - 2,5 m độ dốc địa hình lớn nên có thể xây tuyến thoát nước tốt.
Vùng thấp nằm dọc theo tuyến kênh có cao độ địa hình nhỏ hơn 2,5 m các
tuyến kênh thoát nước chịu ảnh hưởng nặng của thủy triều gần như là vùng chứa của
toàn bộ lưu vực khi mưa. Do kênh thoát nước mưa không kịp nên khu vực này
thường bị ngập một thời gian sau mưa.
Nhìn chung cao trình của mỗi vùng từ 10 m từ phía ngoài (Quận Tân Bình,
Quận Gò Vấp và Quận 1), xuống đến 1,5 m ở trung tâm (dọc theo hai bờ kênh). Điều
kiện này rất thích hợp cho việc tiêu thoát nước trên dòng kênh.
- Lưu vực kênh NL-TN được phủ bởi lớp trầm tích pleitoxen sông cấu tạo chủ yếu từ
cát và đất sét …Ở những vùng thấp dọc kênh do quá trình đô thị hóa một cách tự
phát trên bề mặt có lớp phủ rất đa dạng bao gồm: cát xà bần hoặc đất bột lẫn nhiều
đá vụn.
Một số mũi khoan địa chất cũng đã cho thấy sự phân bố địa tầng địa chất như
sau:
+ Lớp đất có độ dày từ 1- 2 m gồm đất sét cát, đất bột lẫn nhiều đá vụn, rác
và xác thực vật. Nguồn gốc lớp đất này do dân cư lấn kênh tạo thành chỉ ở các vùng
thấp trũng.
+ Lớp đất sét lẫn cát bột nhiều cát màu xám, ở trạng thái mềm dẻo, bề dày
trung bình từ 2 - 3 m, ở độ sâu 2 - 7 m. Cường độ chịu tải Rct = 0,7 - 1 kg/cm
2
.
+ Lớp cát có độ hạt từ trung bình đến nhuyễn lẫn đất sét màu xám trạng thái
bở rời có bề dày 2m độ sâu từ 5 - 37 m. Cường độ tải Rct = 3,4 kg/cm

Nghè làm ranh giới và giáp quận 3 lấy đường Hai Bà Trưng và đuờng Nguyễn Thị
Minh Khai làm ranh giới. Phía Đông giáp quận 2, lấy sông Sài Gòn làm ranh giới.
Phía Tây giáp quận 5, lấy đường Nguyễn Văn Cừ làm ranh giới. Phía Nam giáp quận
4, lấy kênh Bến Nghé làm ranh giới.
Quận 1 có 10 phường: P. Bến Nghé, P. Bến Thành, P. Cô Giang, P. Cầu Kho,
P. Cầu Ông Lãnh, P. Đa Kao, P. Nguyễn Thái Bình, P. Nguyễn Cư Trinh, P. Phạm
Ngũ Lão, P. Tân Định.
19
Quận 1 là nơi trung tâm của thành phố, tập trung các hoạt động văn hoá du
lịch, thương mại, giáo dục là chủ yếu. Đây là khu vực có cơ sở hạ tầng khá hoàn
chỉnh trên địa bàn thành phố.
Ven Kênh Thị Nghè chù yếu là các hộ dân sinh sống và kinh doanh theo mô
hình cá thể nhỏ, không có doanh nghiệp lớn.
- Quận Bình Thạnh: là một quận nội thành nằm về phía Đông Bắc, là vị trí cửa ngõ
của thành phố, là vùng đất có một vị trí chiến lược quan trọng. Quận Bình Thạnh
được xem là một nút giao thông quan trọng của thành phố Hồ Chí Minh bởi vì Bình
Thạnh là điểm đầu mối gặp gỡ các quốc lộ: Quốc lộ 1, Quốc lộ 13; là cửa ngõ đón
con tàu thống nhất Bắc Nam qua cầu Bình Lợi vào ga Hòa Hưng và có Bến xe khách
Miền Đông.
Quận có diện tích 2.076 ha với dân số 464.397 người; về dân tộc 21 dân tộc,
đa số là người Kinh.
Quận Bình Thạnh có sông Sài Gòn bao quanh cùng với các kinh rạch Thị Nghè, Cầu
Bông, Văn Thánh, Thanh Đa, Hố Tàu, Thủ Tắc đã tạo thành một hệ thống đường
thủy đáp ứng lưu thông cho xuồng, ghe nhỏ đi sâu vào các khu vực trên khắp địa bàn
Bình Thạnh, thông thương với các địa phương khác.
Hoạt động kinh tế Bình Thạnh chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp - dịch vụ - du lịch.
- Hiện trạng dân số:
Theo số liệu thống kê hiện nay trên lưu vực kênh NL-TN có hơn 1.200.000
nhân khẩu cư trú chiếm 30,7 % dân số nội thành, mật độ dân số toàn khu là 361

Ngành cơ khí:
Công ty cổ phần ô tô Phú Khang (195/10E Điện Biên Phủ phường 15 quận Bình
Thạnh).
Hầu hết các cơ sở sản xuất này đều chưa có hệ thống xử lý nước thải hoặc đã
có trang bị nhưng chưa hoàn chỉnh, thuộc diện phải di dời do ô nhiễm môi trường.
Đây chính là nguồn gây ô nhiễm lớn cho lưu vực kênh.
21
Chương 4
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
Ở KÊNH NHIÊU LỘC- THỊ NGHÈ
4.1 HIỆN TRẠNG VỆ SINH
4.1.1.Đặc điểm về hệ thống thoát nước
Hệ thống thoát nước hiện nay là các tuyến cống bê tông cốt thép có đường
kính từ (200 - 600mm). Hầu hết lượng nước thải đổ trực tiếp xuống lòng kênh chưa
được xử lý.
Các kênh rạch hở tự nhiên thu nhận toàn bộ nước thải là trục thoát nước
chính. Trong đó điển hình 2 hai rạch lớn:
+ Rạch Văn Thánh rộng 12-20 m chiều dài 1465 m thoát nước cho một lưu
vực rộng hiện nay đang bị bồi lấp khá nhiều do trồng rau muống và thủy sinh phát
triển tràn lan.
+ Rạch Cầu Bông rộng 10-16 m dài 1480 m nối liền với rạch Cầu Sơn thỉnh
thoảng vẫn có một số ghe ra vào.
Mạng lưới thoát nước trên lưu vực rất phức tạp được phân chia làm 4 cấp:
+ Cấp 1: Chia làm 2 loại kênh rạch cấp 1a (các kênh rạch hở tự nhiên vẫn giữ
lại sau khi cải tạo), và cấp 1b (các kênh rạch hở thoát nước tự nhiên sẽ được cải tạo
thành cống cấp 2).
+ Cấp 2: Các tuyến cống chính thu nước từ các tuyến cấp 3 xả thẳng vào kênh
rạch cấp 1. Các tuyến cống này có kích thước đường kính hoặc bề rộng cống lớn hơn
1m và được đặt sâu 2-5 m, có nhiệm vụ tiêu thoát nước cho lưu vực từ vài chục đến
vài trăm ha.

Trên lưu vực tồn tại 3 loại cống chính cống vòm, cống hộp và cống tròn:
+ Cống vòm được làm bằng gạch hoặc bê tông kích thước rộng W x cao H =
400 x 600. Xây dựng từ trước 1954 do đã quá cũ nên thường hay bị sụp cần thay thế.
+ Cống tròn làm bằng bê tông cốt thép có đường kính từ Φ 400 - Φ1500
được xây dựng trong cả ba thời kỳ trước 1954, 1954-1975, và sau 1975. Đa số loại
cống này là cống cấp 3 một số nhỏ thuộc cống cấp 2. Có độ dốc thủy lực kém, dễ bị
hư hỏng do rễ cây hoặc đất lún cục bộ.
+ Cống hộp: Bằng bê tông cốt thép kích thước từ W x H =2000 x 2000 đến
2x(W x H) =2 x (2500x2500) là cống cấp 2 xây dựng sau 1975 loại cống này khá bền
và đủ khả năng thoát nước cho TP.
Trên toàn bộ lưu vực kênh chỉ có 64 % hộ có nhà vệ sinh đât chuẩn vẫn còn
đến 36 % hộ chưa có nhà vệ sinh tự hoại và chủ yếu là xả thẳng xuống lòng kênh.
(Nguồn: Công ty thoát nước đô thị.)
23
Phần lớn các nhà có bể tự hoại nối với hệ thống cống riêng, các hộ dân ven
kênh thì trực tiếp thải xuống kênh. Mạng lưới thoát nước hiện nay không đảm bảo
được nhu cầu thoát nước. Tình trạng ngập lụt thường xuyên xảy ra vào lúc nước triều
cường hoặc mưa to cũng gây nên cảnh lụt lội. Đặc biệt vào mùa mưa nước cống
ngầm tràn vào thành phố gây mất vệ sinh là nguồn gốc dịch bệnh. Do không có hệ
thống xử lý nước thải nên nước bị ô nhiễm nặng nề.
Hình 4.1 Cống tròn thoát nước.
4.1.2. Đặc điểm hiện trạng tuyến kênh
Kênh NL-TN nằm trong khu trung tâm của nội thành TP HCM chảy theo
hướng Tây Bắc xuống Đông Nam qua các quận Tân Bình Phú Nhuận bờ bắc, quận 3
một phân bờ nam và bở bắc, quận 1 bờ nam và Quận Bình Thạnh bờ bắc. Và kết thúc
ở sông Sài Gòn xưởng tàu Ba Son. Lòng kênh đang ngày càng bị thu hẹp và lấn
chiếm do tình trạng xây dựng trái phép và xả rác bừa bãi xuống lòng kênh, sử dụng
mạt nước trồng rau muống.
Dọc hai bên bờ kênh và ngay trên mặt kênh có khoảng 5879 căn hộ xây lấn
chiếm chủ yếu bằng vật liệu nhẹ (gỗ vá) chiếm diện tích 241.026 m

Q3 7000 210000 2000 60000 5000 150000
Q Bình Thạnh 5500 275000 3000 200000 2500 75000
Nguồn: Sở nhà đất TP.
Việc xây cất lấn chiếm ven kênh ảnh hưởng đến dòng chảy và là nguồn ô
nhiễm quan trọng do chất thải được xả thẳng xuống kênh.
Chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều của sông Sài Gòn do lưu lượng
nước thải lớn hơn khả năng thoát của kênh nên nước thải thường bị giữ lại vào mùa
khô và gây nên tình trạng hôi thối do không có đủ nước vào pha loãng. Do đó tạo
nên môi trường hoạt động cho các vi sinh vật kị khí sinh ra khí H
2
S.
4.1.3. Hiện trạng nguồn nước thải
Lượng nước thải trong lưu vực kênh Nl-TN do công ty cấp thoát nước nghiên
cứu vào khoảng vào khoảng 93.000m
3
/ ngày; ước tính mỗi người dân thải ra 130-180
l/người mỗi ngày. Nước thải và dịch vụ nhỏ vào khoảng 85.600m
3
/ngày chiếm 92%
tổng lượng nước thải ra lưu vực.
- Nước thải sản xuất:
Tổng lượng nước thải từ các nhà máy lớn trong lưu vực kênh NL-TN khoảng
3.400 m
3
/ngày chiếm khoảng 3,6 % của tổng lượng nước thải. Do không có hệ
thống xử lý hoặc có nhưng vân hành không đảm bảo nên nước thải không qua xử lý
được xả thẳng vào ống thoát nước hoặc các nguồn nước gần đó.
Do trên địa bàn nghiên cứu có khá ít các công ty sản xuất lớn nên chỉ nêu ra 1
số ngành gây ảnh hưởng đáng kể đến việc gây ô nhiễm.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status