Báo cáo tốt nghiệp
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân
hàng Ngoại Thương Việt Nam”MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 8
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1.1.Khái niệm ngân hàng thương mại (NHTM) 8
1.1.2. Hoạt động của NHTM 9
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn 10
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn 12
1.1.2.3. Hoạt động khác 13
1.2. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 16
1.2.1 Khái niệm ngân hàng điện tử 16
1.2.2. Các dịch vụ ngân hàng điện tử: 18
1.2.2.1. Các điểm chấp nhận thanh toán( EFTPOS- Electronic Fund
Transfer At Point Of Sale) 18
1.2.2.2. Hệ Thống máy rút tiền tự động (Automatic Teller Machine-
2.2.1.3.SMS Banking 41
2.2.1.4 VCB Money 42
2.2.2. Đánh giá về khả năng phát triển. 47
2.2.2.1.Quan hệ đối với khách hàng, các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước 47
2.2.2.2. Các kế hoạch triển khai sản phẩm mới 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG 58
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN E-BANKING 58
3.2. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI
NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 59 3.2.1. Vốn đầu tư. 60
3.2.2. Hạ tầng cơ sở và giải pháp công nghệ 62
3.2.3. Nguồn nhân lực trình độ cao. 66
3.2.4. Hỗ trợ về mặt pháp lý, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực. 67
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.1. Số lượng thẻ thanh toán 37
Biểu đồ 2.2. POS 37
Biểu đồ 2.3. Số lượng máy ATM 38
Bảng 2.4.Quá trình triển khai dịch vụ VCB-Money 42
LỜI NÓI ĐẦU
Xu hướng phát triển tất yếu của ngân hàng hiện đại trong thời kì hội
nhập là xu hướng điện tử hóa các dịch vụ ngân hàng. Các ngân hàng Việt
Nam cũng không nằm ngoài xu thế này. Các hội thảo về E-Banking được tổ
chức hàng năm thu hút ngày một nhiều sự quan tâm chú ý của các ngân hàng
cũng khẳng định xu thế này.
Các NHTM Việt Nam hiện nay nếu so sánh với trình độ phát triển của
các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới thì vẫn còn có 1 khoảng cách rất
xa và các ngân hàng cần phải nỗ lực hết sức để có thể đuổi kịp. Ngân hàng
Ngoại Thương Việt Nam có thể coi là ngân hàng đi đầu trong việc phát triển
các dịch vụ ngân hàng điện tử, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở những bước đầu
tiên. Các dịch vụ ngân hàng điện tử cần phải được quan tâm và đầu tư hơn
nữa, cần phải được coi là trọng tâm trong chiến lược phát triển ngân hàng
hiện đại đã thúc đẩy em lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện
tử tại ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam”. Trong chuyên đề này, ngoài
việc giới thiệu một cách cụ thể về các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử mà
ngân hàng đang cung cấp, người viết còn đánh giá về tình hình phát triển của
các dịch vụ này trong những năm qua đồng thời tìm hiểu về phương hướng
phát triển trong thời gian tới.
Kết cấu của chuyên đề này được chia làm 3 phần như sau:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử- chương này sẽ
tập trung giới thiệu khái quát về dịch vụ ngân hàng điện tử. Giới thiệu tổng
quan về các loại hình dịch vụ hiện đang được cung cấp trên thế giới, về những thuận tiện và lợi ích mà những dịch vụ này mang lại cho khách hàng và nền
kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng thì định nghĩa Hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên
là nhận tiền gửi và sử dựng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ
thanh toán.
1.1.2. Hoạt động của NHTM
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Với
các chức năng như: trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung
gian thanh toán… ngân hàng đang ngày càng khẳng định vị thế của mình, trở
thành một tổ chức không thể thiếu trong sự đi lên và phát triển của bất kỳ một
quốc gia nào.
Để thực hiện tốt chức năng của mình, ngân hàng đã đưa ra nhiều loại
hình dịch vụ trong đó có thể kể đến các hoạt động sau: Hoạt động huy động vốn
Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động khác
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Đây là hoạt động rất quan trọng và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động
của NHTM. Theo đó, ngân hàng sẽ huy động từ đó tạo nguồn vốn cho
NHTM. Có nhiều cách khác nhau để hình thành nên nguồn vốn này.
- Tiền gửi
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
tiền của ngân hàng. Đây là nghiệp vụ đầu tiên của một NHTM khi đi vào hoạt
động. Ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho
khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các tổ chức doanh
chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. 1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Từ những nguồn đã huy động ở trên, ngân hàng đưa vào sử dụng để thu
lợi nhuận
- Ngân quỹ: bản chất là dự trữ của NHTM. Ngân quỹ tồn tại dưới
hình thức sau:
Dự trữ bắt buộc: Ngân hàng luôn phải giữ lại một tỷ lệ tiền nhất
định theo quy định của NHNN khi nhận tiền gửi từ các tổ chức và cá nhân.
Lượng tiền này sẽ nộp cho NHNN và chỉ được rút ra khi ngân hàng lâm vào
tình trạng phá sản.
Dự trữ vượt quá: được tồn tại dưới dạng tồn quỹ nghiệp vụ của ngân
hàng. Cũng như dự trữ bắt buộc, ngân hàng luôn phải giữ lại một lượng tiền
nhất định (không bắt buộc theo tỷ lệ của NHNN) để ngăn chặn khả năng mất
khả năng thanh toán của chính mình.
- Cho vay
Theo đó, ngân hàng sẽ nhường quyền sử dụng vốn cho khách hàng
trong một khoảng thời gian nhất định với điều kiện nhất định về: lãi suất, thời
han, tài sản thế chấp…Đây là hoạt động sử dụng vốn lớn nhất của ngân hàng.
Các hình thức cho vay của ngân hàng rất đa dạng từ cho vay thương
mại, cho vay tiêu dùng và cho vay để tài trợ cho dự án. Cho vay thương mại
là hình thức cho vay được áp dụng ở thời kì đầu của các ngân hàng. Các ngân
hàng thực hiện họat động chiết khấu thương phiếu mà xét về bản chất chính là
tài trợ cho người bán, thông qua việc chiết khấu thương phiếu, người bán
được nhận tiền hàng bán chịu trước thời hạn, giúp làm giảm thời gan thu nợ,
tăng vòng quay tiền qua đó mà tăng hiệu quả kinh doanh. Sau đó ngân hàng tiến tới tài trợ cho trực tiếp cho cả người mua bằng cách cho họ vay tiền để dự
Theo đó, ngân hàng đứng giữa các chủ thể tiến hành cung cấp các dịch
vụ tài chính. Có thể kể ra một vài hoạt động sau:
- Mua bán ngoại tệ: Hoạt động này là hoạt động cơ bản đầu tiên của
ngân hàng lúc mới sơ khai. Việc mua bán ngoại tệ hiện nay ngoài hình thức
đơn giản và thông dụng là giữa khách hàng với ngân hàng. Các ngân hàng còn
tham gia mua bán ngoại tệ lẫn nhau trên thị trường ngoại hối (FOREX). Thị
trường này còn có các công cụ phái sinh để giảm thiểu rủi ro như SWAP,
FUTURE, FORWARD
- Quản lý ngân quỹ: các ngân hàng thường quản lý tài khoản tiền gửi
thanh toán của doanh nghiệp và các cá nhân và vì thế ngân hàng có mối liên
hệ khá chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do đó hiện nay các ngân hàng còn
cung câp thêm dịch vụ quản lý ngân quỹ cho khách hàng, trong đó ngân hàng
đảm nhiệm việc quản lý thu chi, tiến hành đầu tư phần tiền mặt tạm thời dư
thừa vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách
hàng có nhu cầu thanh toán cần sử dụng đến tiền.
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán: ngân hàng sẽ giữ vai trò là trung
gian thực hiện các hoạt động thanh toán theo yêu cầu cho khách hàng. Thông
qua ngân hàng khách hàn có thể trực tiếp tự thực hiện việc thanh toán thông
qua hoạt động chuyển tiền.Chuyển tiền là việc ngân hàng làm theo yêu cầu
của khách hàng chuyển trả tiền cho một người ở một địa phương hoặc quốc
gia khác. Ở đây ngân hàng chỉ đóng vai trò là người thay mặt người trả tiền
chuyển tiền đến người nhận đã được chỉ định từ trước. Ngoài ra các ngân
hàng còn cung cấp dịch vụ thanh toán bằng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như: séc, L/C, hối phiếu, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi… Các
tiện ích của việc thanh toán không dùng tiền mặt như là an toàn, nhanh chóng,
chính xác, tiết kiệm chi phí đã góp phần rút ngắn thời gian thu hồi vốn, nâng
cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.Nhiều hình thức thanh toán được
chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các
lao động.
Ngoài ra ngân hàng còn liên doanh với các công ty bao hiểm để trở
thành địa lý bán bảo hiểm cho họ. Các ngân hàng, với lợi thế là có một mạng
lưới chi nhành rộng khắp có thể giúp các công ty bảo hiểm triển khai các hợp
đồng của mình được thuận tiện và tiết kiệm chi phí một cách tối đa còn về
phía ngân hàng thì được hưởng hoa hồng cho hoạt động này.
1.2. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.2.1 Khái niệm ngân hàng điện tử
Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi mọi người đều quá bận rộn với
công việc của mình thì các dịch vụ được cung cấp dựa trên các ứng dụng mới
về công nghệ đang là một trảo lưu không thể thiếu của cuộc sống. Ngân hàng
với vai trò là người cung cấp các dịch vụ cao cấp, dịch vụ tài chính cho các
khách hàng đang cố gắng làm cho việc giao dịch qua ngân hàng trở nên ngày
càng nhanh chóng và thuận tiện hơn. Các dịch vụ ngân hàng điện tử lần lượt
ra đời trên thế giới từ các hệ thống thanh toán liên ngân hàng nhỏ lẻ phát triển
thành những hệ thống thanh toán toàn cầu, các máy rút tiền tự động ATM
được lần đầu tiên ra mắt công chúng vào năm 1969 tại Chemical Bank ở New
York (Mỹ). Sự ra đời của máy ATM thực sự là một dấu mốc quan trọng trong
sự phát triển của ngân hàng điện tử, ngân hàng Chemical đã tuyên bố: “Kể từ ngày 2/9, ngân hàng chúng tôi sẽ mở cửa lúc 9 giờ sáng và sẽ không bao giờ
đóng cửa nữa". Đó thực sự là một sự tiện lợi tuyệt với cho các chủ sở hữu thẻ
tín dụng.
Tuy chưa có một định nghĩa đầy đủ về ngân hàng điện tử nhưng ngân
hàng điện tử được hiểu như là một phương thức cung cấp các sản phẩm mới
và sản phẩm truyền thống đến người tiêu dùng thông qua con đường điện tử
và các kênh truyền thông tương tác. Các chuyên gia công nghệ ngân hàng cho
rằng, xu hướng toàn cầu hoá môi trường kênh phân phối điện tử trong lĩnh
vực ngân hàng đang dịch chuyển sự tập trung từ chú trọng sản phẩm thành
thẻ trên máy. Khách hàng xác nhận giao dịch bằng cách kí vào hóa đơn hay
sử dụng mã số cá nhân PIN (Personal Identity Number). Ngân hàng sau khi
có thông tin về giao dịch anfy sẽ lập tức hạch toán nợ vào tài khoản của khách
hàng và ghi có tương ứng vào tài khoản cảu cảu hàng. Hoạt động thanh toán
sử dụng thẻ qua các máy thanh toán tại điểm bán hàng làm giảm chi phí về in
ấn hóa đơn, kiểm đếm cũng như làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông. Cả
thẻ tín dụng (Credit Card) và thẻ ghi nợ (Debit Card) đều có thể sử dụng hình
thức này.
Đây là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thông dụng hiện nay.
Ở các nước hiện đại, việc sử dụng tiền mặt để thanh toán cho hàng hóa hay
dịch vụ là việc hiếm gặp, trừ các trường hợp mà giá trị hóa đơn nhỏ như việc
bạn đi mua 1 cốc cafe hay thanh toán cho 1 chiếc pizza gọi đến nhà. Điều này góp phần đáng kể đến việc làm giảm lượng tiền mặt lưu thông vì lượng tiền
được sử dụng trong hoạt động mua sắm tiêu dùng là khá lớn. Hiện nay tỷ lệ
sử dụng tiền mặt ở Việt Nam là rất cao, lên tới hơn 90% việc thanh toán là sử
dụng tiền mặt, Đặc biệt là đối với các cá nhân khi mà việc thanh toán thông
qua các điểm chấp nhận thanh toán còn hạn chế trên nhiều phương diện, nhiều
khi không thuận tiện hoặc gây khó khăn cho khách hàng. Còn đối với các
doanh nghiệp thì việc sử dụng tiền mặt tuy tỷ lệ có thấp hơn nhưng cũng ở
mức khá sao so với mức trung bình của thế giới
1.2.2.2. Hệ Thống máy rút tiền tự động (Automatic Teller Machine- ATM)
Máy ATM còn được coi là một địa điểm giao dịch thu nhỏ của ngân
hàng. Chỉ cần có tài khoản mở tại ngân hàng, khách hàng sẽ được cấp 1 thẻ và
có mã PIN để sử dụng. Máy ATM không đơn thuần chỉ là nơi khách hàng có
thể rút tiền mặt phục vụ cho chi tiêu mà còn có nhiều dịch vụ khác kèm theo
như kiểm tra số dư tài khoản, chuyển khoản, thanh toán không dùng tiền mặt,
kiểm tra các giao dịch gần đây. Mỗi máy ATM đều được nối mạng với hệ
thống thanh toán của ngân hàng lắp đặt hay của cả hệ thống thanh toán của
Phone-Banking là hệ thống hoạt động 24/24h, khách hàng nhấn vào các
phím trên bàn phím điện thoại theo mã do Ngân Hàng quy định để yêu cầu hệ
thống trả lời các thông tin cần thiết
Với hệ thống này khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian không cần đến
Ngân Hàng vẫn giám sát được các giao dịch phát sinh trên tài khoản của mình
mọi lúc. Khách hàng chỉ cần phương tiện đơn giản là điện thoại kết nối vào hệ
thống Phone-Banking để nghe các thông tin về Ngân Hàng theo yêu cầu ở
mọi nơi trong phạm vi cả nước và quốc tế.
Mobile-Banking cũng tương tự như Phone-Banking nhưng ở đây, thay
vì dùng điện thoại cố định, khách hàng sử dụng một số điện thoại di động đã
đăng kí với ngân hàng để thực hiện việc truy vấn thông tin tài khoản hay thực
hiện các giao dịch phù hợp với quy định của ngân hàng.
1.2.2.4. Ngân hàng tại nhà (Homebanking)
HomE-Banking là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng cho phép
khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản tại nhà, văn phòng,
công ty.
Để sử dụng được dịch vụ này khách hàng cần có:
Máy tính cá nhân.
Modem .
Line điện thoại
Dịch vụ ngân hàng điện tử này chủ yếu phục vụ đối tượng là khách
hàng doanh nghiệp, quy trình giao dich được thực hiện phức tạp hơn để đảm
bảo giao dịch không bị lợi dụng một cách bất hợp pháp. Đầu tiên, người soạn
thảo lệnh, thường là kế toán của doanh nghiệp, dùng mã số truy cập và mật
khẩu của mình để đăng nhập vào trang chủ của ngân hàng lập lệnh hay sử
dụng các mẫu có sẵn, sau đó dùng chữ kí điện tử để xác nhận. Bước tiếp theo
là xác nhận lệnh. Người xác nhận lệnh, thường là lãnh đạo doanh nghiệp,
tiến to lớn trong việc phát triển các dịch vụ ngân hàng mà dịch vụ E-Banking
là một ví dụ tiêu biểu.
Dịch vụ E-Banking là dịch vụ ngân hàng điện tử có tính tiện ích cao,
khách hàng chỉ cần quan hệ, giao dịch và thanh toán với ngân hàng qua mạng
Ngân hàng điện tử có ưu điểm là tiết kiệm được chi phí liên quan đến
các hoạt động giao dịch như chi phí tả lương cho nhân viên, thuê địa điểm, chi
phí thanh toán, chi phí kiểm đếm, chi phí đi lại Bên cạnh đó, thông qua các
dịch vụ của ngân hàng điện tử, các lệnh về chi trả, nhờ thu của khách hàng
được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ chu chuyển nhanh,
thuận lợi, thực hiện tốt quan hệ giao dịch, trao đổi tiền- hàng, qua đó, đẩy
nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đây
là lợi ích mà các giao dịch kiểu ngân hàng truyền thống không thể làm được.
Đồng thời các dịch vụ này được thực hiên với với tốc độ nhanh, chính xác
hơn hẳn. Đặc biệt, ngân hàng điện tử có thể cung cấp dịch vụ chéo. Theo đó,
các ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán,
công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích nhằm đáp ứng mọi nhu
cầu của khách hàng về các dịch vụ liên quan: ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư,
chứng khoán Chính sự tiện ích có được từ công nghệ ứng dụng, từ phần
mềm, từ nhà cung cấp dịch vụ mạng, đã thu hút và giữ khách hàng sử dụng,
quan hệ, giao dịch với ngân hàng, trở thành khách hàng truyền thống của ngân
hàng.
Ngân hàng điện tử góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế thương
mại, dịch vụ và du lịch của đất nước, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế
thương mại với khu vực và thế giới. Đặc biệt góp phần thúc đẩy các hoạt
động thương mại điện tử phát triển. Ưu điểm của ngân hàng điện tử là có khả
năng phục vụ khách hàng trên phạm vi rộng. Khách hàng có thể thực hiện giao dịch 24/24 giờ trong ngày, với mọi khoảng cách về không gian, thời
lên đến 70.000 usd/ năm còn chi phí lắp đặt một máy quẹt thẻ thanh toán tại
điểm bán hàng cũng gần 1000usd/chiếc. Ngoài ra còn cần đến các chi phí
khách như khoản chi đầu tư nghiên cứu và triển khai, phát triển các phần mền
ứng dụng sao cho các chương trình vừa dễ dử dụng đối với khách hàng mà lại
có thể đảm bảo sự an toàn và bảo mật cho cả hệ thống E-banking của ngân
hàng, chi cho đào tạo nguồn nhân lực Qúa trình này phụ thuộc rất lớn vào
năng lực tài chính của mỗi TCTD. Đây là một trong khó khăn vướng mắc
hiện nay trong quá trình hiện đại hoá hoạt động ngân hàng, quá trình phát
triển các dịch vụ của E-Banking. Bên cạnh đó việc lựa chọn công nghệ, phần
mềm ứng dụng cũng có tính quyết định đến hiệu quả hoạt động của E-
Banking.
1.2.4.2. Vấn đề về công nghệ
Lựa chọn công nghệ và phần mềm ứng dụng có tính quyết định đến
hiệu quả hoạt động của ngân hàng điện tử. Việc lựa chọn công nghệ nào
không chỉ phụ thuộc vào chi phí cần cho công nghệ đó mà còn phải tính đến
sự tương thích giữa phần mềm, công nghệ mới nhập về với hệ thống Core-
banking mà ngân hàng hiện đang sử dụng.
Việc phát triển công nghệ cho E-Banking có những lợi thế là công nghệ
hiện nay đang ở trong thời kì phát triển thần tốc, các công nghệ mới được
nghiên cứu và ứng dụng trong rất nhiều nên các công nghệ ngày càng hiện địa
và hiệu quả hơn trong việc phát triển E-Banking, tuy nhiên để sử dụng được
công nghệ đó và sử dụng nó có phù hợp với mục tiêu của ngân hàng hay