Tiểu luận
Thực trạng và nguyên nhân
đói nghèo ở Việt Nam
1
PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG I. Những vấn đề cơ bản về đói nghèo
1. Nghèo tuyệt đối
"Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn
tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn
trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt
quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức
chúng ta."
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát
cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo
tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2
USD/ngày cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 USD/ngày cho những
nước Đông Âu cho đến 14,40 USD/ngày cho những nước công nghiệp….
(Theo nguồn tin của chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997).
hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một
thách thức xã hội nghiêm trọng.
3. Nghèo khổ của con người (Nghèo khổ tổng hợp)
Sự nghèo khổ của con người là khái niệm đã được Liên Hợp Quốc đưa
ra trong “Báo cáo về phát triển con người” năm 1997. Theo đó, nghèo khổ
của con người là khái niệm biểu thị sự thiệt thòi (khốn cùng) theo cả ba khía
cạnh cơ bản nhất của cuộc sống con người. Chẳng hạn đối với các nước đang
phát triển thì sự thiệt thòi đó là:
+ Thiệt thòi trên khía cạnh cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh, được xác
định bởi tỷ lệ người dự kiến có tuổi thọ không quá 40 tuổi.
+ Thiệt thòi về tri thức, được xác định bởi tỷ lệ người lớn mù chữ. 3
+ Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế (nghèo khổ về thu nhập), được xác định
bởi tỷ lệ người không tiếp cận được các dịch vụ y tế, nước sạch và tỷ lệ trẻ em
dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng.
Để đánh giá “nghèo khổ của con người”, Liên Hợp Quốc đã sử dụng
chỉ số nghèo khổ của con người – HPI (Human Poor Index) hay còn gọi là chỉ
số nghèo tổng hợp. Giá trị HPI của một nước nói lên rằng sự nghèo khổ của
con người ảnh hưởng lên bao nhiêu phần dân số của nước đó. So sánh các giá
trị HDI và HPI cho thấy sự phân phối thành tựu của tiến bộ con người. Các
nước có thể có giá trị HDI như nhau nhưng giá trị HPI sẽ khác nhau.
Ví dụ: Trường hợp của Trung Quốc và Gioócđani (1999). Chỉ số phát
triển con người HDI của mỗi nước đều là 0,718 và 0,714; chỉ số nghèo khổ
con người HPI của Trung Quốc là 15,1% và của Gioócđani là 8,5%. ở Việt
Nam, HPI năm 1999 là 29,1% xếp hạng theo HPI nước ta đứng thứ 45 trên 90
quốc gia được Liên Hợp Quốc nghiên cứu.
4. Đặc trưng của người nghèo và chiến lược xoá đói giảm nghèo
Quy mô và mức độ nghèo đói ở mỗi nước phụ thuộc vào hai yếu tố: thu
xem xét mức độ giảm tương ứng với mỗi % tăng trưởng kinh tế. Theo nhận
xét của WB, tiêu dùng bình quân đầu người tăng 1% sẽ làm giảm trung bình
2% tỷ lệ nghèo (đối với bộ phận dân cư sống dưới mức 1USD/ngày), tỷ lệ
giảm này sẽ là 1,5% nếu hệ số GINI (bất bình đẳng trong phân phối thu nhập)
là 0,6 và tỷ lệ giảm này sẽ tăng lên gấp đôi (3%) nếu như hệ số GINI có giá trị
là 0,2. Ở Việt Nam, 1% tăng trưởng GDP/người đã làm giảm 1.3% nghèo
(giai đoạn 1993-1998) và giảm 1,2% (giai đoạn 1998-2002).
Nhìn chung nghèo khổ và sự giảm nghèo là không đồng đều giữa các
nước, giữa các vùng và nhóm dân cư trong từng nước. Vì vậy, chính sách
chống đói nghèo không chỉ chứa đựng nhiều thách thức mang tính chất vĩ mô
và cả vi mô. Nó không đòi hỏi là cần phải đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế
nhanh mà phải làm thế nào để tất cả các tầng lớp dân cư nghèo khổ trong xã
hội cùng được hưởng lợi từ tăng trưởng; đồng thời có chính sách trọng điểm 5
nhằm giảm tình trạng nghèo khổ tuyệt đối. Những nội dung này đã được phản
ánh trong “chiến lược xoá đói giảm nghèo của quốc gia”.
Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo của nước ta
đã được Chính phủ phê duyệt ngày 21/5/2002. Chiến lược này được coi là
chương trình hành động để thực hiện định hướng tăng trưởng kinh tế và xoá
đói giảm nghèo. Chiến lược cũng đã thể hiện được tính hài hoà giữa tăng
trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội.
giảm khoảng cách giàu nghèo, phấn đấu xây dựng một xã hội giàu mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh.
Xóa đói giảm nghèo không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một
cách thụ động mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn
lên thoát nghèo. Xóa đói giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một
chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng xã hội có nhiều khó khăn
mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho
phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định
cho giai đoạn “cất cánh”.
Do đó, xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu của tăng
trưởng (cả trên góc độ xã hội và kinh tế), đồng thời cũng là một điều kiện
(tiền đề) cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Trên phương diện nào đó, xét về
ngắn hạn, khi phân phối một phần đáng kể trong thu nhập xã hội cho chương
trình xóa đói giảm nghèo thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị
ảnh hưởng, song xét một cách toàn diện về dài hạn thì kết quả xóa đói giảm
nghèo lại tạo tiền đề cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Tình hình cũng 7
giống như việc thực hiện người cày có ruộng ở một số nước đã tạo ra sự phát
triển vượt bậc của nông nghiệp. Nhiều nông dân nhờ đó đã thoát khỏi đói
nghèo và có điều kiện tham gia thực hiện cách mạng xanh, tạo sự phát triển
mới cho ngành nông nghiệp.
Xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và
tăng trưởng bền vững, ngược lại chỉ có tăng trưởng cao, bền vững mới có sức
mạnh vật chất để hỗ trợ và tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát khỏi
đói nghèo. Do đó, xoá đói giảm nghèo được coi là một bộ phận cấu thành của
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của cả nước, các ngành và các
địa phương.
Đói nghèo đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của các quốc
Xóa đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, toàn xã hội
mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo phải tự vươn lên để thoát
nghèo. Trong khi trách nhiệm của Chính phủ là giúp gỡ bỏ rào cản ngăn cách
xã hội và kinh tế để xóa đói giảm nghèo; thì hiệu quả xóa nghèo đạt thấp nếu
bản thân người nghèo không tích cực và nỗ lực phấn đấu vươn lên với mức
sống cao hơn. Xóa đói giảm nghèo phải được coi là sự nghiệp của bản thân
người nghèo, cộng đồng nghèo, bởi vì sự nỗ lực tự vươn lên để thoát nghèo
chính là động lực, là điều kiện cần cho sự thành công của mục tiêu chống đói
nghèo ở các nước. Nhà nước sẽ trợ giúp người nghèo biết cách tự thoát nghèo
và tránh tái nghèo khi gặp rủi ro. Bên cạnh sự hỗ trợ về vật chất trực tiếp thì
việc tạo việc làm cho người nghèo bằng cách hướng dẫn người nghèo sản
xuất, kinh doanh phát triển kinh tế theo điều kiện cụ thể của họ chính là điều
kiện xóa đói giảm nghèo thành công nhanh và bền vững. II. Thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
1. Thực trạng
1.1. Việt Nam được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới
Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao. Theo kết quả Điều tra
mức sống dân cư (theo chuẩn nghèo chung của quốc tế), tỷ lệ đói nghèo năm 9
1998 là trên 37% và ước tính năm 2000 tỷ lệ này vào khoảng 32% (giảm
khoảng 1/2 tỷ lệ hộ nghèo so với năm 1990). Nếu tính theo chuẩn đói nghèo
về lương thực, thực phẩm năm 1998 là 15% và ước tính năm 2000 là 13%.
Theo chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia mới,
đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả
nước.
1.2. Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh
khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã chưa đủ phòng
học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55% số xã chưa có nước sạch; 40% số xã
chưa có đường điện đến trung tâm xã; 50% chưa đủ công trình thuỷ lợi nhỏ;
20% số xã chưa có chợ xã hoặc cụm xã.
Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người trong
diện cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao, khoảng 1-1,5 triệu người. Hàng năm
số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi nghèo vẫn còn lớn.
1.4. Đói nghèo tập trung trong khu vực nông thôn
Nghèo đói là một hiện tượng phổ biến ở nông thôn với trên 90% số
người nghèo sinh sống ở nông thôn. Năm 1999, tỷ lệ nghèo đói về lương thực,
thực phẩm của thành thị là 4,6%, trong khi đó của nông thôn là 15,9%. Trên
80% số người nghèo là nông dân, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận
các nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ ), thị trường tiêu thụ
sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm
kém, chủng loại sản phẩm nghèo nàn. Những người nông dân nghèo thường
không có điều kiện tiếp cận với hệ thống thông tin, khó có khả năng chuyển
đổi việc làm sang các ngành phi nông nghiệp. Phụ nữ nông dân ở vùng sâu,
vùng xa, nhất là nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi là những nhóm nghèo dễ
bị tổn thương nhất. Phụ nữ nghèo lao động nhiều thời gian hơn, nhưng thu
nhập ít hơn, họ ít có quyền quyết định trong gia đình và cộng đồng do đó có ít
cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách mang lại. 11
Biểu 1.2: Ước tính quy mô và tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn nghèo mới giữa
thành thị và nông thôn năm 2000
Số hộ
nghèo
(nghìn hộ)
- Nông thôn đồng
bằng
1.750 16,9 62,5
Thành thị 265 7,8 9,5 Nguồn: Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo 1.5. Nghèo đói trong khu vực thành thị
Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống
trung bình cao hơn so với mức chung cả nước, nhưng mức độ cải thiện điều
kiện sống không đồng đều. Đa số người nghèo đô thị làm việc trong khu vực
kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh.
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở hữu trong khu vực Nhà nước
dẫn đến sự dôi dư lao động, mất việc làm của một bộ phận người lao động ở
khu vực này, làm cho điều kiện sống của họ càng thêm khó khăn hơn. Số lao
động này phải chuyển sang làm các công việc khác với mức lương thấp hơn,
hoặc không tìm được việc làm và trở thành thất nghiệp.
Người nghèo đô thị phần lớn sống ở những nơi có cơ sở hạ tầng thấp
kém, khó có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản (nước sạch, vệ sinh môi
trường, thoát nước, ánh sáng và thu gom rác thải ). Họ thường dễ bị tổn
12
thương do sống phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu nhập bằng tiền và không có
hoặc có ít khả năng tiết kiệm và gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn tạo
việc làm.
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa làm tăng số lượng người di
cư tự do từ các vùng nông thôn đến các đô thị, chủ yếu là trẻ em và người
trong độ tuổi lao động. Hiện tại chưa có số liệu thống kê về số lượng người di
Tổng số 2.800 17,2 100
Vùng Tây Bắc 146 33,9 5,2
V
ù
ng
Đô
ng B
ắ
c
511
22,3
18,2
V
ù
ng
Đ
ồ
ng b
ằ
ng s
ô
ng H
ồ
ng
22,4
13,9
Vùng Tây Nguyên 190 24,9 6,8
Vùng Đông Nam Bộ 183 8,9 6,6
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 490 14,4 17,5 Nguồn: Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo
1.7. Tỷ lệ hộ nghèo đói đặc biệt cao trong các nhóm dân tộc ít người
Trong thời gian qua, Chính phủ đã đầu tư và hỗ trợ tích cực, nhưng
cuộc sống của cộng đồng dân tộc ít người vẫn gặp nhiều khó khăn và bất cập.
Mặc dù dân số dân tộc ít người chỉ chiếm khoảng 14% tổng số dân cư, song
lại chiếm khoảng 29% trong tổng số người nghèo.
Đa số người dân tộc ít người sinh sống trong các vùng sâu, vùng xa, bị
cô lập về mặt địa lý, văn hoá, thiếu điều kiện phát triển về hạ tầng cơ sở và
các dịch vụ xã hội cơ bản.
2. Nguyên nhân nghèo ở Việt Nam
Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói ở Việt Nam
nhưng nói chung nghèo đói ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan như sau:
2.1 Nguyờn nhõn khỏch quan
* Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc
chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ
hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất
14
mát trong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến
* Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, năm 2004 vẫn còn 74,1% dân
sống ở nông thôn trong khi tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong tổng sản
phẩm quốc gia thấp. Hệ số Gini là 0,42 và hệ số chênh lệch là 8,1 nên bất
bình đẳng cao trong khi thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp.
* Người dân còn chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa
có các thiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch
bệnh, sâu hại, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá
sản phẩm đầu vào và đầu ra do biến động của thị trường thế giới và khu vực
như khủng hoảng về dầu mỏ làm tăng giá đầu vào, rủi ro về chính sách thay
đổi không lường trước được, rủi ro do hệ thống hành chính kém minh bạch,
quan liêu, tham nhũng
* Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng
chủ yếu là do nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu
mỏ trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp. Tín dụng chưa thay đổi
kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả
thấp, không thế chấp, môi trường sớm bị hủy hoại, đầu tư vào con người ở
mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp
ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng
nhà nước,
* Ở Việt Nam, sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá hủy từng kết
cấu của tuổi thơ. Các em không được thừa hưởng quyền có một tuổi thơ được
thương yêu, chăm sóc và bảo vệ trong mái ấm gia đình hoặc được khích lệ
phát triển hết khả năng của mình. Khi trưởng thành và trở thành cha mẹ, đến
lượt con cái các em có nguy cơ bị tước đoạt các quyền đó vì các hiểm họa đối
với tuổi thơ lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
* Sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền, thành thị và nông thôn, giữa
các dân tộc cao.
* Môi trường sớm bị hủy hoại trong khi đa số người nghèo lại sống nhờ
vào nông nghiệp.
17
Với sự phấn đấu không mệt mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
trong nhiều năm qua, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được một số
thành tựu quan trọng, nhưng phía trước vẫn còn không ít khó khăn và thách
thức:
Thứ nhất là về nhận thức, một bộ phận không nhỏ người nghèo và địa
phương nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước,
nên chưa chủ động vượt lên để thoát nghèo.
Thứ hai là sự đánh giá tỷ lệ nghèo còn thấp hơn thực tế ở một vài địa
phương, nên một bộ phận người thực sự nghèo chưa được tiếp cận với các
chương trình xóa đói, giảm nghèo.
Thứ ba là nguồn lực huy động cho chương trình xóa đói, giảm nghèo
còn khiêm tốn. Hằng năm, ngân sách nhà nước hỗ trợ cho chương trình xóa
đói, giảm nghèo mới chỉ được bình quân khoảng 60.000 đồng/người. Trong
khi đó, một số địa phương chưa chủ động huy động hoặc huy động chưa
tương xứng với tiềm năng của nguồn lực tại chỗ; chưa lồng ghép hài hòa các
loại nguồn lực trên cùng địa bàn và chưa huy động được sự tham gia mạnh
mẽ của các doanh nghiệp, các tổ chức, các cộng đồng và các cá nhân có điều
kiện vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Vì vậy, chưa đáp ứng được nhu cầu
cần hỗ trợ của người nghèo để đủ điều kiện thoát nghèo bền vững, dẫn đến
mục tiêu thoát nghèo khó thực hiện được.
Thứ tư là một số cơ chế, chính sách và biện pháp hỗ trợ xóa đói giảm
nghèo chưa thật phù hợp, việc tổ chức thực hiện còn bất cập, còn mang tính
bao cấp, nên không tạo được động lực để người nghèo chủ động vượt nghèo.
Biện pháp hỗ trợ làm nhà ở cho đồng bào nghèo chưa thật phù hợp với nhu
cầu và tập quán của từng dân tộc, từng địa phương; có địa phương chưa chú ý
đầy đủ đến quy hoạch sản xuất lâu dài và môi trường sống của nhân dân trong
khi xây dựng các khu dân cư vượt lũ; mức chi phí cho khám, chữa bệnh còn
thấp; chính sách trợ cước, trợ giá cũng còn bất hợp lý; mức vốn vay tín dụng
kinh tế trang trại, phát triển tiểu, thủ công nghiệp, doanh nghiệp quy mô vừa
19
và nhỏ; chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa chăn nuôi
đại gia súc có hiệu quả kinh tế cao thành ngành sản xuất chính,v.v….
+ Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi vẫn còn cao, gấp từ 1,7 đến 2 lần
tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân
tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo của cả nước có chiều hướng tăng từ 21%
năm 1992 lên 36% năm 2005. Tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng
khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu
hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh mún, sơ khai.
Ngoài ra, xuất hiện một số đối tượng nghèo mới ở những vùng đang đô thị
hóa và nhóm lao động nhập cư vào đô thị, họ thường gặp nhiều khó khăn hơn
và phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại. Đây là những điều
kiện cơ bản làm gia tăng yếu tố tái nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong
tốc độ giảm nghèo giữa các vùng. Các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây
Nguyên có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, song đây cũng là những vùng có tỷ
lệ hộ nghèo cao nhất.
+ Chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm giàu và nhóm nghèo có xu
hướng gia tăng: Trong những năm gần đây, chênh lệch về thu nhập giữa 20%
nhóm giàu và 20% nhóm nghèo từ 4,3 lần năm 1993 lên 8,14 lần năm 2002;
chênh lệch giữa 10% nhóm giàu nhất và 10% nhóm nghèo nhất từ 12,5 lần
năm 2002, tăng lên 13,5 lần năm 2004; Mức độ nghèo còn khá cao, thu nhập
bình quân của nhóm hộ nghèo ở nông thôn chỉ đạt 70% mức chuẩn nghèo
mới. Sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo sẽ làm cho tình trạng nghèo tương
đối trở nên gay gắt hơn, việc thực hiện các giải pháp để giảm nghèo sẽ càng
khó khăn hơn.
Mặc dù, trong những năm qua số hộ nghèo trong cả nước đã giảm
mạnh, song trên thực tế công cuộc xóa đói, giảm nghèo còn vô cùng gian nan.
Nguy cơ tái nghèo có thể tăng do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập
trọng lao động nông nghiệp. Có được như vậy, mới tạo thêm nhiều việc làm ở
cả thành thị và nông thôn. Việc giảm tỷ lệ nghèo đói nghiêm trọng ở miền
núi, vùng sâu, vùng xa đòi hỏi có sự đầu tư mạnh mẽ, liên tục của Nhà nước
21
và sự chủ động vượt lên của chính địa phương và người nghèo ở những nơi
này.
2. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ
giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường
Đẩy mạnh xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, hệ thống
điện, trường học, cơ sở khám chữa bệnh và các thiết chế văn hóa cho các địa
phương nghèo để sớm khắc phục tình trạng thiếu điện, thiếu nước sạch, thiếu
thuốc chữa bệnh, thiết bị y tế nghèo nàn, lạc hậu, đồng thời thực hiện đồng bộ
các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt chú trọng đào tạo,
tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế và cung cấp đầy đủ
thuốc chữa bệnh, phù hợp với thu nhập của người dân. Kết hợp chặt chẽ
chương trình xóa đói, giảm nghèo với các chương trình, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường.
Giải pháp nói trên nhằm nâng cao thiết thực mức sống và chất lượng cuộc
sống nhân dân ở các xã nghèo, vùng nghèo, giảm dần khoảng cách giữa các
vùng, các dân tộc và các tầng lớp dân cư; bảo đảm cho người nghèo tiếp cận
được với các dịch vụ xã hội, đặc biệt là về chăm sóc y tế, giáo dục và kế
hoạch hóa gia đình, sẽ làm giảm bớt những hậu quả trước mắt và nguồn gốc
của nghèo đói.
3. Xã hội hóa các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là về nguồn
lực
Trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, nguồn lực của Nhà nước vừa có
vai trò chủ đạo, vừa mang tính xúc tác, khơi nguồn, nguồn lực của cộng đồng,
của quốc tế cũng có có vai trò rất quan trọng. Xây dựng và phát triển các
chương trình "Những tấm lòng từ thiện"; "Nối vòng tay lớn"; "Một thế giới
chức thực hiện và quản lý các chương trình trên cơ sở nhu cầu thực tiễn, lập
kế hoạch và huy động nguồn lực trên địa bàn đã tạo điều kiện cho các cấp
chính quyền chủ động, tự giải quyết và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả của
chương trình. Song trên thực tế, việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát và ra
quyết định tại cấp xã vẫn rất hạn chế. Vì vậy, cần tạo mọi điều kiện để phát
23
huy tính năng động, chủ động của cơ sở, phát huy sức mạnh về vật chất và
tinh thần của cả cộng đồng để nâng cao hiệu quả của chương trình xóa đói,
giảm nghèo.
Hai yếu tố quan trọng nhất để thực hiện giảm nghèo là: Nhà nước tạo
động lực giảm nghèo thông qua các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và ý
chí vượt nghèo của người nghèo. Các chương trình giảm nghèo và phát triển
kinh tế - xã hội ở các vùng nghèo, xã nghèo bước đầu được nhân dân trong
cộng đồng tham gia, thảo luận và quyết định. Người dân từng bước nhận thức
được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc tham gia thực hiện các
chương trình giảm nghèo. Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra" phải được thực hiện xuyên suốt trong các hoạt động của chương
trình giảm nghèo ở địa phương.
Trong thời gian tới, công tác xóa đói, giảm nghèo cần tập trung vào các
địa bàn là các xã khó khăn nhất ở vùng căn cứ cách mạng, vùng cao, biên
giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người và các đối
tượng khó khăn nhất, trong đó, đặc biệt ưu tiên phụ nữ và trẻ em nghèo. Động
viên cộng đồng người nghèo phát huy nội lực, tự vươn lên thoát nghèo, kết
hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước và các cộng đồng khác, tăng cường và đa
dạng hóa các nguồn lực, kết hợp sử dụng có hiệu quả các nguồn lực quốc tế;
có chính sách, cơ chế khuyến khích và các giải pháp có tính đột phá, áp dụng
tiến bộ khoa học - kỹ thuật, chuyển giao công nghệ thích hợp đến các xã
nghèo, người nghèo, khuyến khích các doanh nghiệp đào tạo nghề và tạo việc
làm ổn định và tăng thu nhập cho người nghèo để xóa đói, giảm nghèo bền