NHU CẦU THAM GIA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG NHÃN HIỆU CHỨNG NHẬN “VẢI LAI CHÍN SỚM PHÙ CỪ” CỦA CÁC HỘ TRỒNG VẢI XÃ TAM ĐA, HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
__________________

***

__________________
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NHU CẦU THAM GIA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG NHÃN HIỆU
CHỨNG NHẬN “VẢI LAI CHÍN SỚM PHÙ CỪ” CỦA CÁC HỘ
TRỒNG VẢI XÃ TAM ĐA, HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN
Tên sinh viên : Đặng Thị Nga
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : KTNNC – K55
Niên khóa : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS. Nguyễn Văn Song
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ
nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi.
Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2014
Tác giả

Đặng Thị Nga
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn, tôi đã nhận được

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1 Tính cấp thiết của đề tài
I.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu
chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ”; phân tích một số nguyên nhân ảnh hưởng từ đó
đề ra giải pháp thu hút người trồng vải tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu chứng
nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ” xã Tam Đa, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhu cầu,
cầu, nhãn hiệu chứng nhận và một số vấn đề có liên quan;
- Đánh giá nhu cầu xây dựng và sử dụng, phân tích nguyên nhân ảnh hưởng tới
nhu cầu xây dựng và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ” của
người trồng vải;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút người trồng vải tham gia xây dựng và
sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ”.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học, lý luận của đề tài
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.3 Kinh nghiệm, bài học rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho
nghiên cứu của tác giả
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.2Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Trong thời đại phát triển và xu thế toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề thương
hiệu, nhãn hiệu ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các công ty, doanh
iv
nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh. Vải lai chín sớm Phù Cừ lâu nay đã được

vải tại địa bàn nghiên cứu nhằm tìm ra mức giá sẵn lòng chi trả (Willingness To Pay
– WTP) của người dân cho việc xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớm Phù
Cừ”. Giả định chương trình tạo lập, xây dựng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
được triển khai thành công, hiệp hội sản xuất và kinh doanh vải được thành lập, các
sản phẩm vải của các hộ tham gia được gắn nhãn mác NHCN về sản phẩm Vải lai
chín sớm Phù Cừ và các hộ trồng vải được hưởng nhiều lợi ích khác từ việc tham
gia vào Hiệp hội như: tập huấn về quy trình kỹ thuật thường xuyên, bảo hộ mức tiêu
thụ, bảo hộ giá cả đầu vào, đầu ra,… thì mức sẵn lòng đóng kinh phí để tham gia là
bao nhiêu. Kết hợp sử dụng phương pháp CVM với các phương pháp nghiên cứu
kinh tế khác để tìm ra phương pháp phù hợp cho việc đánh giá lợi ích của hộ trồng
vải khi tham gia xây dựng và sử dựng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”.
3.2.4 Một số chỉ tiêu nghiên cứu
• Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất Vải lai
chín sớm Phù Cừ
- Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội: chỉ tiêu về đất đai, dân số, lao
động, cơ sở hạ tầng, tốc độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người,… tại
địa bàn nghiên cứu được thu thập tại phòng thống kê huyện và UBND xã Tam Đa.
- Chỉ tiêu về diện tích, năng suất, sản lượng vải của xã.
• Chỉ tiêu đánh giá nhu cầu xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớm
Phù Cừ” + Tỉ lệ hộ dân có hiểu biết về NHCN.
- Tỉ lệ hộ nông dân có nhu cầu xây dựng và sử dụng NHCN “Vải lai chín sớm
Phù Cừ” tương ứng với các mức kinh phí bỏ ra.
- Mức sẵn lòng chi trả bình quân của các nhóm hộ được tính bằng công thức số
bình quân gia quyền
k
Trong đó: k: Chỉ số của các mức WTP; k = 1-T- m
m: là các mức WTP mà các hộ chi trả
wtp: là mức WTP trung bình của các hộ wtp
k
: là mức WTP thứ k

 Khảo sát nhu cầu của các hộ trồng Vải lai chín sớm Phù Cừ
a, Nhu cầu của người trồng vải trong việc xây dựng NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
b, Tổng hợp mức sẵn lòng trả cho việc xây dựng, sử dụng và phát triển NHCN
“Vải lai chín sớm Phù Cừ” của các hộ điều tra
c, Nhu cầu của các hộ về cơ chế hoạt động của cơ quan quản lý NHCN “Vải lai
chín sớm Phù Cừ”
vii
4.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng NHCN “Vải
lai chín sớm Phù Cừ”
a. Yếu tố trình độ học vấn
b, Yếu tố sản lượng
c, Yếu tố thu nhập
4.5 Những khó khăn và thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ Vải lai chín sớm
Phù Cừ
4.6 Giải pháp nhằm thu hút người trồng vải tham gia xây dựng và sử dụng
NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
- Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng
- Thành lập Hiệp hội quản lý NHCN “Vải lai chín sớm Phù Cừ”
- Xây dựng khung pháp lý để tạo điều kiện phát triển sản xuất và kinh
doanh vải
- Về quy hoạch vùng sản xuất vải phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ
thâm canh và điều kiện tự nhiên của từng vùng
- Giải pháp về tiêu thụ
- Giải pháp về vốn
- Giải pháp về phát triển thị trường, xúc tiến thương mại
- Mở rộng phát triển sản xuất vải theo mô hình trang trại
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
viii
MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI i

KHKT Khoa học kỹ thuật
xii
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nhiều đặc sản địa phương được người tiêu dùng
biết đến rộng rãi và được yêu thích như: Bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), Bưởi Da Xanh
(Bến Tre), Bưởi Năm Roi (Hậu Giang), Vú sữa Lò Rèn - Vĩnh Kim (Tiền Giang), Gạo
Tám xoan Hải Hậu (Nam Định), Chè Shan Tuyết (Sơn La), Vải thiều Thanh Hà (Hải
Dương) v.v Việc phát triển những sản phẩm đặc sản có chất lượng cao đã bước đầu
khẳng định được chất lượng, danh tiếng và đang từng bước xây dựng được thương hiệu
cho mình (Trần Anh Huy – Công ty Luật hợp danh Invenco, 2010 [8])
Nhiều địa phương cũng đang tích cực đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu
cho đặc sản của mình dưới các hình thức xây dựng và phát triển thương hiệu: nhãn
hiệu, nhãn hiệu tâp thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý, Đối với các địa danh
dùng cho đặc sản của địa phương, nếu việc xây dựng chỉ dẫn địa lý là không phù hợp
hoặc chưa có đủ các điều kiện cần thiết thì việc bảo hộ địa danh dưới hình thức nhãn
hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể (NHCN, NHTT) là lựa chọn tốt nhất nhằm đảm
bảo và nâng cao giá trị cho đặc sản đó (Thái Thị Nhung, 2009 [13])
Việc tạo lập nhãn hiệu hàng hoá cho các sản phẩm đang rất phát triển hiện
nay trên thế giới. Một số nước như Pháp, Colombia, Mỹ, Italy cũng đã có kinh
nghiệm xây dựng nhãn hiệu cho sản phẩm rượu vang, cà phê, sữa tươi, dịch vụ, du
lịch v.v… Nghiên cứu của Jocams Hackner & Astri Muren (2004) có tên "Trade
mark dilution – A welfare acamlysis” phân tích ảnh hưởng của nhãn hiệu tới phúc
lợi cho thấy rằng: nhãn hiệu không những ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh,
quyền lợi của người sản xuất mà còn ảnh hưởng rộng tới thay đổi việc phân phối
phúc lợi xã hội của người sản xuất và người tiêu dùng ở Mỹ và EU (Jocams
Hackner & Astri Muren, 2004 [7])
Hiện nay, việc tạo lập NHCN, NHTT là một vấn đề khá mới ở Việt Nam nên
còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Một số tác giả như: Lê Xuân Tùng (2005) đã

Vấn đề mở rộng và phát triển vùng chuyên canh vải là hướng đi đúng đắn của chính
quyền địa phương trong những năm qua, song để cây Vải lai chín sớm Phù Cừ được
2
nhiều người biết đến hơn nữa thì việc xây dựng thương hiệu đang là bài toán chưa
có lời giải? Người trồng vải vẫn canh cánh nỗi lo bị “rớt” giá khi được mùa. Chính
vì vậy, hơn lúc nào hết rất cần sự vào cuộc và quan tâm của chính quyền địa
phương cũng như các cấp, các ngành trong việc xây dựng thương hiệu cho Vải lai
chín sớm Phù Cừ và sớm có biện pháp ngăn chặn việc vi phạm “bản quyền” của các
thương lái từ các nơi như đang và đã xảy ra hiện nay (Bùi Xuân Dục, 2012 [6])
Xuất phát từ những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã lựa chọn đề tài
“Nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín
sớm Phù Cừ” của các hộ trồng vải xã Tam Đa, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên”
để nghiên cứu.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn
hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ”; phân tích một số nguyên nhân ảnh
hưởng từ đó đề ra giải pháp thu hút người trồng vải tham gia xây dựng và sử dụng
nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ” xã Tam Đa, huyện Phù Cừ, tỉnh
Hưng Yên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhu
cầu, cầu, nhãn hiệu chứng nhận và một số vấn đề có liên quan;
- Đánh giá nhu cầu xây dựng và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín
sớm Phù Cừ”, phân tích nguyên nhân ảnh hưởng tới nhu cầu xây dựng và sử dụng
nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ” của người trồng vải;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút người trồng vải tham gia xây dựng
và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Vải lai chín sớm Phù Cừ”.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khi nhu cầu của tất cả các cá thể đối với tất cả các mặt hàng gộp lại ta có tổng cầu.
* Theo Philip Kotler chuyên gia marketing hàng đầu thế giới: “Nhu cầu là
cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu của con
người là một tập hợp đa dạng và phức tạp, từ những nhu cầu có tính chất bản năng
sinh tồn như ăn, uống, mặc, ở, an toàn,… đến những nhu cầu về tình cảm trí thức,
tôn trọng, tự thể hiện mình. Những nhu cầu đó gắn liền với tình cảm con người,
gắn liền với sự phát triển của xã hội mà mỗi con người sống trong đó (Nguyễn
Nguyên Cự, 2005 [2])
Về bản chất nhu cầu là một khái niệm tâm – sinh lý. Tìm cách thỏa mãn
nhu cầu luôn là ý chí của con người thuộc các thời đại khác nhau, đặc biệt trong
nền sản xuất hàng hóa.
- Nhu cầu của con người là những mong muốn của họ về một số điều kiện
nào đó để đảm bảo cuộc sống của họ được tốt hơn. Theo cách hiểu này có thể thấy
nhu cầu của con người chính là động cơ để con người thực hiện những hành vi có
ý thức nhằm thỏa mãn những nhu cầu đó (Hoàng Ngọc Bích, 2007)
- Cũng có thể hiểu nhu cầu là khoảng cách giữa tình huống hiện tại và trạng
thái mà con người mong muốn đòi hỏi, điều kiện để làm một cái gì đó tốt hơn với
điều kiện hiện tại.
* Theo Abraham H.Maslow:
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai
nhóm
5
chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta
needs).

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như
mong
muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều
là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những
nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong

Một điểm chung của các đường cầu thị trường là có xu hướng nghiêng xuống
dưới và phía bên phải. Nghĩa là khi giá của hàng hoá và dịch vụ giảm thì lượng
cầu tăng lên. Mối quan hệ tỷ lệ nghịch này giữa giá và lượng cầu của hàng hoá là
rất phổ biến. Các nhà kinh tế gọi đây là quy luật cầu.
Vậy quy luật cầu khối lượng hàng hoá, dịch vụ được cầu trong một thời gian
xác định sẽ tăng lên khi giá hàng hoá, dịch vụ đó giảm xuống và ngược lại. Khi
giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên thì lượng cầu về hàng hoá và dịch vụ đó
giảm xuống (với giả định các yếu tố khác không thay đổi).
Nhu cầu thể hiện mong muốn của con người tiêu dùng về việc sử dụng
hàng
hoá, dịch vụ. Theo bản năng, con người luôn mong muốn hơn cái họ
đang có cho
nên nhu cầu là vô hạn, không bao giờ thoả mãn được. Trong khi đó, khả năng thanh
toán cho nhu cầu đó là có hạn nên chỉ có nhu cầu nào có khả năng thanh toán nó
mới trở thành cầu của thị trường. Như vậy, cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán
(Nguyễn Đại Thắng, 2005 [23])
* Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới cầu. Sau đây tôi xin đưa ra các ý kiến của các
chuyên gia tại trường Đại học Kinh tế quốc dân.
- Sở thích và thị hiếu: Dĩ nhiên, một hàng hóa đang được ưu chuộng (sở
thích
và thị hiếu) sẽ làm tăng cầu của hàng hóa đó. Cầu sẽ giảm khi sự ưu
chuộng của
hàng hóa không còn nữa, do đó người tiêu dùng không còn mong muốn tiêu dùng
hàng hóa nữa.
- Thu nhập: Cầu của hầu hết các hàng hóa tăng lên khi thu nhập của
người
tiêu dùng tăng lên.
- Giá cả hàng hóa liên quan: Hàng hóa thay thế hoặc hàng hóa bổ sung.
Hai hàng hóa được gọi là hàng hóa thay thế nếu giá của hàng hóa này tăng lên

- Theo Điều 785 Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày
28/10/1995 thì: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng
hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu
hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện
bằng một hoặc nhiều màu sắc”.
8
- Theo Luật SHTT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 tại Điều 4,
Chương I đã nêu: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của
các tổ chức khác nhau”.
Như vậy, nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt
hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ này với các nhà sản xuất,
nhà cung cấp dịch vụ khác trên thị trường, hay chỉ dẫn đến nguồn gốc của hàng hóa,
dịch vụ.
2.1.2.2.Vai trò, chức năng và tác dụng của nhãn hiệu hàng hoá
* Vai trò của nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu hàng hóa có khả năng giúp người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn
những sản phẩm, dịch vụ phù hợp; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sản
xuất, người cung cấp dịch vụ từ đó khuyến khích hơn nữa sự tái tạo sản xuất và phát
triển nền kinh tế.
o Đối với người tiêu dùng
Nhãn hiệu khi đã có vai trò đối với người tiêu dùng khi đó nó sẽ trở thành vũ
khí sắc bén của DN trong cạnh tranh trên thương trường.
o Đối với người sản xuất
Nhãn hiệu chỉ có giá trị đối với người sản xuất khi nó có giá trị hay được tin
tưởng bởi những người tiêu dùng, khi được sự tin tưởng của người tiêu dùng nó
được đánh giá là thương hiệu.
o Đối với nền kinh tế
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, nhiều quốc gia rất chú trọng xây dựng
cho mình các nhãn hiệu mạnh. Chính các nhãn hiệu này sẽ là rào cản chống lại sự
xâm nhập của các hàng hoá, dịch vụ kém phẩm chất, giá rẻ từ bên ngoài thâm nhập

một mặt giúp doanh nghiệp có điều kiện “phòng thủ”, chống lại sự cạnh tranh quyết
liệt về giá trên thị trường.
+ Nhãn hiệu thương mại của người bán khi đăng ký bao hàm sự bảo hộ của
pháp luật đối với những tính chất độc đáo của sản phẩm trước những sản phẩm bị
đối thủ cạnh tranh nhái theo (Luật SHTT, chương I, 2006 [9])
2.1.2.3. Khái niệm thương hiệu, phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu
* Khái niệm thương hiệu
Theo PGS.TS.Nguyễn Quốc Thịnh, Trung tâm thương hiệu Đại học Thương
Mại Hà Nội thì: “Xây dựng thương hiệu là tạo dựng hình ảnh về sản phẩm và
10
doanh nghiệp, đưa đến và cố định hình ảnh đó trong tâm trí khách hàng” (Nguyễn
Quốc Thịnh, 2008 [24])
Thương hiệu được thể hiện thông qua sản phẩm, gắn với văn hoá DN, các
yếu tố chỉ nguồn gốc địa lý và các hoạt động truyền thông giao tiếp. Vậy thương
hiệu là gì?
Theo định nghĩa của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO):
“Đối với một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ, thương hiệu là một dấu hiệu (hữu
hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ đó được sản
xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức”.
“Đối với doanh nghiệp, thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản
phẩm, dịch vụ với dấu hiệu của doanh nghiệp gắn lên bề mặt sản phẩm dịch vụ
nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ. Thương hiệu là một tài sản vô hình quan
trọng và đối với các doanh nghiệp lớn, giá trị thương hiệu của doanh nghiệp chiếm
một phần đáng kể trong tổng giá trị của doanh nghiệp”.
Cùng với quá trình phát triển của khoa học marketing, khi tư duy marketing
đã dần trở nên hoàn thiện thì quan niệm về thương hiệu cũng đã có sự thay đổi.
Thương hiệu bây giờ không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng thuần tuý mà
đằng sau nó là chất lượng sản phẩm dịch vụ, uy tín của DN…, là tất cả những thứ
mà DN đảm bảo cung cấp cho khách hàng. Chính vì vậy, chúng tôi thấy thương
hiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp “là biểu hiện trên thị trường của tất cả

tiêu dùng chấp nhận.
Doanh nghiệp đăng ký, cơ quan chức
năng công nhận.
4
Xây dựng do hệ thống tổ chức
của doanh nghiệp.
Xây dựng trên hệ thống luật pháp
quốc gia.
5 Là linh hồn của doanh nghiệp. Là phần thể xác của doanh nghiệp
Thứ nhất, về khía cạnh vật chất, nghĩa là dựa vào tên gọi, logo thì nhãn hiệu
và thương hiệu rất khó phân biệt, nếu không muốn nói là một. Nhưng khi nói đến
thương hiệu người ta thường nói đến cả khẩu hiệu, nhạc hiệu mà điều này gần như
không được đề cập đến trong nhãn hiệu. Ví dụ, chúng ta có thể chỉ nghe nói đến
"Nâng niu bàn chân Việt" là đã nghĩ ngay đến Biti's.
Thứ hai, về ngữ cảnh sử dụng, ở góc độ pháp lý, sử dụng thuật ngữ nhãn
hiệu là đúng như trong các quy định của luật pháp Việt Nam. Nhưng ở góc độ quản
trị DN và marketing thì người ta thường dùng thuật ngữ thương hiệu.
Thứ ba, cũng có thể phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu trên một số khía
cạnh cụ thể như sau:
- Nói đến thương hiệu không chỉ nói đến các dấu hiệu như trong nhãn hiệu
mà là nói đến hình tượng về hàng hoá trong tâm trí người tiêu dùng. Nó thật sự trừu
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status