LUẬN VĂN: Bảo hiểm học sinh tại Bảo Việt Nghệ
An - Thực trạng và giải pháp LỜI NÓI ĐẦU
Học sinh, sinh viên là những chủ nhân tương lai, là thế hệ tương lai của đất
nước. Họ cần phải được bảo đảm một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy,
Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương thực hiện các công tác nhằm mục đích bảo vệ và
Nước ta hiện nay có một hệ thống giáo dục thống nhất trong cả nước gồm nhiều cấp
học và trình độ đào tạo, phương thức đào tạo đa dạng với hơn 20 triệu học sinh phổ thông,
sinh viên đại học, cao đẳng và học sinh học nghề. Các em luôn được sống trong vòng tay
yêu thương của gia đình, nhà trường và xã hội, luôn được tạo điều kiện tốt nhất để tự do
phát triển về thể lực, chí lực. Tuy vậy trong cuộc sống hàng ngày, các em cũng không thể
tránh khỏi những nguy cơ như ốm đau, bệnh tật. Mặt khác nhận thức của các em ở lứa tuổi
này còn chưa hoàn thiện, thiếu sự hiểu biết về pháp luật, chưa đủ khả năng để tự bảo vệ
mình nên thường hành động thiếu suy nghĩ, chưa ý thức được cái tốt cái xấu, dễ bị lôi kéo
với trò chơi nguy hiểm mà không lường trước được hậu quả của nó. Vì vây, ở lứa tuổi học
sinh nguy cơ xảy ra rủi ro thường cao hơn so với các lứa tuổi khác.
Khi không may xảy ra rủi ro, trẻ em cần được sự chăm sóc, chữa trị để sớm hồi phục
sức khoẻ, nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ em. Trong khi đó, chi
phí chăm sóc này đôi khi rất lớn mà không phải gia đình nào cũng có được. Thực tế, nhiều
trường hợp vì không đủ tiền cứu chữa nên đã để lại những di chứng suốt đời, huỷ hoại
tương lai của các em .Vì vậy, vấn đề đặt ra mà bất kì xã hội nào cũng cần phải quan tâm là
làm thế nào để khắc phục những hậu quả khi xảy ra rủi ro và để đảm bảo cuộc sống cho
các em. Theo thống kê, ở nước ta hiện nay số lượng học sinh chiếm khoảng 20% dân số cả
nước. Đây chính là nguồn nhân lực, nguồn hy vọng của đất nước trong sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội. Việc chăm sóc giáo dục và bảo vệ các em là nghĩa vụ quan trọng mà Đảng
và Nhà nước ta đã xác định “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng
người”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vì điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn nên đã ảnh
hưởng đến chất lượng giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Cụ thể, hiện có rất ít khu vui
chơp giải trí giành riêng cho trẻ. Ở thành phố có hiện tượng các em rủ nhau đá bóng trên
vỉa hè vi phạm nghiêm trọng luật an toàn giao thông. Ở nông thôn học sinh thường rủ nhau
chơi những trò rất nguy hiểm như tắm sông, trèo cây Những việc đó đe doạ nghiêm trọng
đến tính mạng và sức khỏe của các em, và thực tế đã gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc. Bên
cạnh đó, việc quan tâm chăm sóc của gia đình và nhà trường đối với các em còn nhiều hạn
chế. Thực trạng này đã làm tăng khả năng xảy ra rủi ro với các em học sinh. Đặc biệt trong
những năm gần đây theo thống kê cho thấy số vụ tai nạn của học sinh ngày càng có xu
sóc, phục hồi sức khoẻ khi bị tai nạn, ốm đau bệnh tật để nhanh chóng trở lại học tập. Chỉ
một số tiền đóng phí nhỏ nhưng khi có rủi ro xảy ra các em sẽ được công ty bảo hiểm trả
tiền gấp nhiều lần để trang trải các chi phí y tế và từ đó các em sẽ có điều kiện được chăm
sóc tốt.
Tham gia BHHS giúp các em nâng cao ý thức cộng đồng, giáo dục cho các em tinh
thần tương thân tương ái lá lành đùm lá rách của dân tộc Việt Nam.
Các em sẽ được học hỏi, nâng cao kiến thức trong việc đề phòng những rủi ro do công
ty bảo hiểm phối hợp cùng với nhà trường phổ biến.
Đối với gia đình các em học sinh, trước hết BHHS là công cụ hữu ích giúp các gia đình
ổn định về mặt tài chính. Vì phải trang trải những chi phí phát sinh như chi phí thuốc men,
chi phí nằm viện phẫu thuật, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho các em trong khi thu nhập
của gia đình không đổi, thậm chí là giảm sút do phải nghỉ việc để chăm sóc cho con cái
nên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế gia đình, nhất là đối với những gia đình khó
khăn. Trong khi đó, nếu tham gia bảo hiểm thì sẽ được các công ty bảo hiểm chi trả phần
lớn hoặc toàn bộ các chi phí này. Nhờ đó mà các gia đình sẽ ổn định về mặt tài chính yên
tâm chăm sóc con cái và yên tâm làm việc. Ngoài ra thông qua BHHS các bậc phụ huynh
sẽ có điều kiện để chăm sóc con cái tốt hơn vì được công ty bảo hiểm phổ biến kiến thức
phòng tránh tai nạn cho các em học sinh.
b. Đối với nhà trường và xã hội.
Bảo hiểm giúp học sinh có điều kiện nhanh chóng ổn định sức khoẻ để trở lại hoạt
động, làm cho việc học tập của các em ít bị gián đoạn và công tác giảng dạy của nhà
trường được đảm bảo đúng kế hoạch. Qua BHHS nhà trường được trang bị thêm các kiến
thức về phòng tránh, giảm thiểu rủi ro cho học sinh. Đồng thời nhà trường có thể phối hợp
với các bậc phụ huynh và công ty bảo hiểm mở thêm các lớp ngoại khoá để giáo dục các
em ý thức bảo vệ mình, nhờ đó mà chương trình giảng dạy của nhà trường sẽ được phong
phú hơn, giúp nhà trường tạo được sự tin cậy và nâng cao uy tín của mình với các bậc phụ
huynh. Bên cạnh đó, sau khi thu phí bảo hiểm công ty bảo hiểm sẽ trích một phần phí bảo
hiểm để lại trường. Phí này được sử dụng vào công tác đề phòng hạn chế tổn thất như mua
sắm các trang thiết bị y tế, sách báo, thuốc men giúp nhà trường giảm bớt được những chi
4. Sự khác nhau giữa bảo hiểm học sinh và bảo hiểm y tế học sinh.
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu về bảo
hiểm lại rất lớn. BHHS của các công ty bảo hiểm thương mại, BHYTHS thực hiện tại Bảo
hiểm xã hội Việt Nam đều là những loại hình bảo hiểm con người có đối tượng tham gia là
các em học sinh ở các cấp học có nhu cầu tham gia và đều hoạt động trên nguyên tắc số
đông và tự nguyện. Tuy nhiên BHHS, BHYTHS có những nét khác nhau cơ bản sau:
+Về mục đích hoạt động: BHHS hoạt động với mục đích chính là kinh doanh vì mục
tiêu lợi nhuận và phải đóng thuế cho Nhà nước. Còn BHYTHS lại mang tính chất nhân
đạo, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, dựa trên nguyên tắc cân bằng thu chi và
không phải đóng thuế cho Nhà nước.
+ Về việc đóng phí bảo hiểm: Đối với BHHS, các doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra nhiều
mức phí khác nhau cho người tham gia tự chọn lựa theo khả năng tài chính của mình. Do
đó, cùng một loại đối tượng có thể có nhiều mức phí tham gia bảo hiểm khác nhau. Còn
đối với BHYTHS, có quy định mức phí cụ thể cho cùng một loại đối tượng tham gia theo
từng địa phương, từng cấp học.
+Về quyền lợi: Đối với BHHS, do mức phí tham gia của các học sinh không giống
nhau trong từng địa phương và từng cấp học nên khi rủi ro xảy ra người được bảo hiểm sẽ
nhận được số tiền bảo hiểm căn cứ vào tỷ lệ thương tật và điều kiện bảo hiểm ghi trong
hợp đồng . Còn BHYTHS, do mức phí tham gia của học sinh ở từng địa phương, cấp học
là như nhau nên mức hưởng của các đối tượng này là như nhau. BHXHVN đều chi trả
80% số tiền điều trị không giới hạn về số ngày điều trị và số tiền tối đa mỗi đợt điều trị.
+ Về hiệu quả hoạt động: nghiệp vụ BHHS ở các công ty bảo hiểm thương mại nếu
hoạt động không hiệu quả dẫn đến việc thua lỗ thì các công ty phải tự chịu. Hàng năm, các
công ty này phải chịu sự quản lý của Nhà nước theo pháp luật và phải thực hiện các nghiệp
vụ theo đúng trình tự kinh doanh bảo hiểm mà luật kinh doanh bảo hiểm đã quy định. Còn
BHYTHS tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Nhà nước quản lý thống nhất và hỗ trợ.
BHYTHS không chịu sự điều tiết của luật kinh doanh bảo hiểm và có chế độ quản lý riêng.
II. Nội dung cơ bản của Bảo hiểm học sinh.
1.Các bên liên quan trong Bảo hiểm học sinh.
răng giả
+ Chiến tranh, phóng xạ
3.Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm.
a.Số tiền bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm là số tiền được ghi trong hợp đồng bảo hiểm của người được bảo
hiểm trên cơ sở lợi ích bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm chẳng những phải có đối tượng bảo
hiểm rõ ràng, mà còn phải đánh giá về đối tượng bảo hiểm đó và dựa vào sự đánh giá đó
để quyết định số tiền bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm là mức trách nhiệm cao nhất của doanh
nghiệp bảo hiểm trong việc bồi thường tổn thất hoặc trả tiền bảo hiểm và cũng là cơ sở để
tính phí bảo hiểm. Như vậy số tiền bảo hiểm là hạn mức trách nhiệm của các công ty bảo
hiểm. Đây là cơ sở quan trọng để xác định số tiền bồi thường. Đối với nghiệp vụ BHHS
hiện nay số tiền bảo hiểm dao động trong khoảng 1.000.000 đến 10.000.000đồng/người.
Trong thực tế hạn mức trách nhiệm mà học sinh tham gia phổ biến hiện nay khoảng từ
4.000.000 đến 6.000.000 đồng/người.
b. Phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm là khoản chi phí của người tham gia bảo hiểm trả cho doanh nghiệp bảo
hiểm để trả giá việc doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm đảm bảo bằng hình thức bảo
hiểm theo sự thoả thuận của hợp đồng bảo hiểm. Do đó phí bảo hiểm là khoản tiền của
người tham gia bảo hiểm chi ra để đổi lấy trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo
hiểm. Phí bảo hiểm phải nộp nhiều hay ít là do số tiền bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm và thời
hạn bảo hiểm quyết định. Phí bảo hiểm có thể nộp một lần cũng có thể nộp nhiều lần theo
định kỳ.
Việc xác định mức phí bảo hiểm hợp lý là yếu tố quan trọng quyết định đến thành công
của công ty bảo hiểm. Mức phí bảo hiểm phải được xác định để có thể vừa đảm bảo đủ để
chi trả bồi thường, lại vừa đem lại một phần lợi nhuận cho các công ty bảo hiểm. Nếu để
mức phí quá thấp thì có thể dẫn đến hiện tượng thu không đủ bù chi, làm ảnh hưởng đến
doanh thu và lợi nhuận của công ty. Ngược lại nếu mức phí qúa cao lại ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của công ty bảo hiểm trên thị trường đồng thời khó thu hút khách hàng.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm: xác suất rủi ro, tỷ lệ bồi thường, chi
Trong thực tế triển khai bảo hiểm học sinh, hầu hết các công ty bảo hiểm trong đó có
Bảo Việt thường áp dụng cách tính phí theo tỷ lệ và số tiền bảo hiểm.
4. Hợp đồng bảo hiểm.
4.1. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ có trong hợp đồng đó. Nội dung của tất cả các loại hợp đồng đều là mối quan hệ
về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể hợp đồng, hợp đồng BHHS cũng không ngoại lệ
đó. Khi có yêu cầu bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm có thể trực tiếp hoặc thông qua nhà
trường đóng phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm. Công ty bảo hiểm trên cơ sở danh sách
học sinh đã đóng phí bảo hiểm sẽ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho học sinh.
4.2. Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.
Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm học sinh được quy định tuỳ theo từng loại điều kiện
bảo hiểm cụ thể như sau:
- Điều kiện bảo hiểm A: hợp đồng bảo hiểm theo loại này có hiệu lực sau 30 ngày, kể từ
ngày đóng phí bảo hiểm. Những hợp đồng tái tục mặc nhiên có hiệu lực ngay sau khi
người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho thời hạn tiếp theo.
- Điều kiện bảo hiểm B: Hợp đồng bảo hiểm loại này có hiệu lực ngay sau khi người
tham gia bảo hiểm hoàn thành thủ tục đóng phí bảo hiểm theo quy định.
- Điều kiện bảo hiểm C: Hợp đồng bảo hiểm loại này có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày
đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo quy định.
- Điều kiện bảo hiểm D: Hợp đồng bảo hiểm loại này có hiệu lực ngay sau khi đóng phí
bảo hiểm đối với trường hợp tai nạn hoặc hợp đồng tái tục liên tục.
4.3. Huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm.
Trường hợp hai bên đề nghị huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm, bên yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng
phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước 30 ngày kể từ ngày định huỷ bỏ. Nếu
hợp đồng được hai bên thoả thuận huỷ bỏ, Bảo Việt sẽ hoàn trả 80% phí bảo hiểm của
thời gian còn lại với điều kiện đến thời điểm đó hợp đồng bảo hiểm này chưa có lần nào
được Bảo Việt chấp nhận trả tiền bảo hiểm.
5. Thời hạn bảo hiểm.
trong hợp đồng bảo hiểm.
- Áp dụng các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Khi tham gia BHHS, trên cơ sở tuân theo luật kinh doanh bảo hiểm đã quy định trên
đây, người tham gia bảo hiểm phải áp dụng các biện pháp cần thiết và có thể thực hiện để
cứu chữa nạn nhân trong trường hợp xảy ra rủi ro được bảo hiểm. Người được bảo hiểm
phải trung thực trong việc khai báo và cung cấp các chững từ chính xác về rủi ro được bảo
hiểm.
Đối với các trường học cần có trách nhiệm cụ thể như sau:
- Phối hợp với các công ty bảo hiểm phổ biến chế độ BHHS cho các em và phụ huynh
học sinh của trường; vận động học sinh, sinh viên và gia đình họ tích cực tham gia BHHS.
- Giới thiệu cán bộ làm đại lý cho công ty bảo hiểm. Đại lý có trách nhiệm lập danh sách
học sinh, sinh viên và thu phí bảo hiểm của học sinh, sinh viên theo những thoả thuận của
công ty bảo hiểm.
- Chỉ đạo các bộ phận chức năng và đại lý hướng dẫn cho học sinh, sinh viên kê khai
trung thực và đầy đủ các khoản mục quy định trong giấy yêu cầu bảo hiểm, ký hợp đồng
bảo hiểm và chuyển phí bảo hiểm thu được cho công ty bảo hiểm theo đúng quy định.
- Khi học sinh, sinh viên của trường bị tai nạn, ốm đau, nằm viện điều trị, phẫu thuật,
chết thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, nhà trường cần đôn đốc các bộ phận chức
năng và đại lý nhanh chóng làm các thủ tục cần thiết theo mẫu hướng dẫn của công ty bảo
hiểm để giúp học sinh, sinh viên hoặc gia đình các em sớm nhận được tiền bảo hiểm.
IV. Quy trình khai thác Bảo hiểm học sinh.
1. Công tác khai thác.
Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, trong bảo hiểm toàn diện học sinh công tác
khai thác là công tác quan trọng hàng đầu, quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp.
Một nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm là hoạt đông theo nguyên tắc số đông, phí bảo hiểm
từ rất nhiều người tham gia sẽ được tập hợp lại tạo nên quỹ tiền tệ tập trung. Từ quỹ này
mới đem bồi thường cho một số ít những người không may gặp rủi ro. Công tác khai thác
● Cấp đơn thu phí bảo hiểm.
● Theo dõi thu phí và tiếp nhận giải quyết mới.
2. Công tác đề phòng hạn chế tổn thất.
Do dặc thù riêng của ngành bảo hiểm, công tác đề phòng hạn chế tổn thất có vai trò rất
quan trọng, càng làm tốt công tác này thì chi phí lớn nhất của ngành bảo hiểm là chi bồi
thường sẽ càng ít. Do đó lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh của công ty càng cao. Mặc dù chỉ
bảo hiểm cho những rủi ro mang tính bất ngờ, ngẫu nhiên, nhưng chúng ta cũng có thể tác
động làm giảm khả năng xảy ra những rủi ro đó. Đối với BHHS thì biện pháp đề phòng
giáo dục tốt nhất là làm sao để các em tự nhận thức được các mối nguy hiểm, ý thức được
hành động của mình. Để làm được điều đó công ty bảo hiểm cần phối hợp hoạt động tốt
với gia đình và nhà trường, thường xuyên nhắc nhở các em phải chú ý chăm sóc sức khoẻ
của mình, từ đó hạn chế được nguy cơ xảy ra rủi ro.
Vì vậy để đề phòng kiểm soát tổn thất các doanh nghiệp bảo hiểm thường thực hiện theo
các bước:
● Khảo sát điều tra thực tế, thu thập các thông tin có liên quan đến đối tượng được bảo
hiểm, đến đặc điểm các loại rủi ro. Đánh giá các cam kết của khách hàng tham gia bảo
hiểm. Sau đó lập thành văn bản chi tiết mô tả các thông tin qua điều tra khảo sát để báo
cáo lên cấp trên. Như vậy DNBH mới có thể đưa ra các khuyến nghị, đề xuất giúp khách
hàng loại trừ được các rủi ro có thể gây tổn thất.
● Phân tích và tư vấn cho khách hàng trong công tác quản lý rủi ro.
●Thực hiện chương trình quản lý rủi ro .
Để thực hiện công tác đề phòng hạn chế tổn thất, các doanh nghiệp bảo hiểm thường
phối hợp với các cơ quan chức năng, các trường học, các tổ chức có liên quan thực hiện
tuyên truyền, xây dựng ý thức trách nhiệm cho học sinh, sinh viên; thực hiện các chế độ
khen thưởng nhằm khuyến khích mọi thành viên tham gia vào công tác đề phòng hạn chế
tổn thất. Thông thường các doanh nghiệp bảo hiểm thường:
+ Phối hợp gia đình, ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô hướng dẫn các em học sinh
tham gia những hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh, đề ra thời gian biểu cho các em học
tập, vui chơi ở nhà và trường học. Nghiêm cấm chơi các trò nguy hiểm như đua xe, trèo
viện trong trường hợp có nghi vấn phải đi xác minh lại tại bệnh viện.
Lập xác minh theo mẫu của công ty, sau khi lập xong cán bộ xác minh phải ghi rõ họ
tên, nội dung chủ yếu của biên bản xác minh bao gồm:
- Họ tên người bị tai nạn .
- Địa chỉ.
- Số tiền bảo hiểm.
- Số hợp đồng, số danh sách.
- Điều kiện bảo hiểm.
- Thời gian xảy ra tai nạn .
Công việc này nếu thực hiện nghiêm túc sẽ giúp được công ty bảo hiểm tránh được sai
lầm trong khâu bồi thường, phát hiện được các hiện tượng trục lợi bảo hiểm.
4. Công tác bồi thường.
Bồi thường và trả tiền bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động kinh doanh bảo
hiểm. Bởi vì khi mua bảo hiểm, có nghĩa là khách hàng đã trả tiền cho các sản phẩm bảo
hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường cho khách hàng một cách nhanh
chóng và đầy đủ nấu không may tổn thất xảy ra. Chính những lúc tổn thất xảy ra khách
hàng thường bị những “cú sốc” tinh thần lớn và đặc biệt quan trọng trong những trường
hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Vào lúc này thì
năng lực, sự trung thực, tính hiệu quả, sự tế nhị, và tính nhân đạo của DNBH được thừa
nhận qua cách xử sự của mình với các nạn nhân của sự kiện được bảo hiểm. Nếu giải
quyết tốt thì đó là cách quảng cáo tốt nhất đối với doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy nếu có
tổn thất xảy ra, cần thực hiện giải quyết bồi thường nhanh chóng cho khách hàng, thông
thường công tác bồi thường được thực hiện theo quy trình sau:
● Mở hồ sơ khách hàng: Khi nhận được biên bản giám định tổn thất và các giấy tờ có
liên quan, bộ phận giải quết bồi thường phải mở hồ sơ khách hàng và ghi lại theo thứ tự số
hồ sơ và thời gian. Sau đó kiểm tra, đối chiếu với bản hợp đồng gốc về các thông tin có
liên quan đến bản kê khai tổn thất. Tiếp theo phải thông báo cho khách hàng là đã nhận
được đầy đủ các giấy tờ có liên quan, nếu thiếu loại giấy tờ nào thì phải thông báo nhanh
chóng bổ sung hoàn thiện hồ sơ bồi thường.
IV. Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ Bảo hiểm học
sinh.
1. Kết quả kinh doanh.
1.1. Khái niệm.
Kết quả kinh doanh của nghiệp vụ Bảo hiểm nói chung cũng như nghiệp vụ BHHS nói
riêng được thể hiện chủ yếu ở hai chỉ tiêu là : Doanh thu và lợi nhuận trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm). Nó là cơ sở để tính toán các chỉ tiêu khác có liên quan
phục vụ phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh thu của doanh nghiệp
bảo hiểm phản ánh tổng hợp kết quả kinh doanh. Chỉ tiêu này gồm các bộ phận cấu thành:
doanh thu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm, thu nhập từ hoạt động đầu tư
và các khoản thu nhập khác. Để xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đạt được
trong kỳ tốt hay không ta có thể căn cứ vào doanh thu bao gồm doanh thu kế hoạch, doanh
thu thực hiện từ đó xác định chỉ tiêu phần trăm hoàn thành kế hoạch. Chỉ tiêu này cho
thấy doanh nghiệp hoàn thành vượt bao nhiêu phầm trăm kế hoạch đề ra. Từ đó phản ánh
kết quả kinh doanh trong kỳ tốt hay không để sớm đưa ra các giải pháp phù hợp khắc phục
nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
% hoàn thành
= DT thực hiện - DT kế hoạch
kế hoạch DT kế hoạch
Bên cạnh đó, để xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ta còn có thể căn cứ vào
chỉ tiêu lợi nhuận đạt được trong kỳ. Chỉ tiêu này được tính thông qua doanh thu và chi
phí. Chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm là toàn bộ số tiền doanh nghiệp bảo hiểm chi ra
trong kỳ phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh trong vòng một năm.
Dựa vào các kết quả thu, chi sẽ tính được lợi nhuận trong kỳ mà doanh nghiệp bảo hiểm
thu được trong một năm. Có hai chỉ tiêu lợi nhuận:
nhuận thực tế đạt được trong kỳ vượt mức kế hoạch đề ra thì hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp đạt hiệu quả và ngược lại.
+ Phân tích sự biến động của doanh thu, chi phí và lợi nhuận theo thời gian. Theo
hướng phân tích này, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được xem là có hiệu
quả nếu doanh thu, lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp tăng theo thời gian còn chi phí bỏ
ra giảm theo thời gian trong điều kiện quy mô doanh nghiệp và cạnh tranh trên thị trường
ít biến động.
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận. Các yếu tố này bao
gồẩncạnh tranh trên thị trường, thị phần mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ, quy mô
doanh nghiệp, các hoạt động quảng bá hình ảnh
2. Hiệu qủa kinh doanh của doanh nghiệp .
2.1. Khái niệm.
Hiệu quả kinh doanh của DNBH là thước đo sự phát triển của DNBH và phản ánh trình
độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả kinh doanh nhất định, nhằm đạt được
các mục tiêu đã đề ra.
Với tư cách là thước đo sự phát triển của DNBH, hiệu quả kinh doanh được thể hiện ở
các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế, xã hội khác nhau. Hiệu quả kinh doanh của DNBH luôn gắn
với các mục tiêu kinh tế- xã hội. Trước hết là những mục tiêu của doanh nghiệp, sau đó là
của ngành bảo hiểm và toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Bởi kinh doanh bảo hiểm mà đặc biệt
là kinh doanh BHHS không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang tính xã hội. Cho nên khi
đánh giá hiệu quả của một DNBH không chỉ xét trên góc độ kinh tế mà còn phải xét trên
góc độ phục vụ xã hội .
2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Xét trên phương diện thống kê, để biểu hiện và đo lường hiệu quả kinh doanh của
DNBH không thể dùng một chỉ tiêu mà phải có hệ thống các chỉ tiêu. Bởi vì nội dung của
phạm trù hiệu quả kinh doanh rất rộng và rất phức tạp nên phải dùng hệ thống các chỉ tiêu,
mỗi chỉ tiêu phản ánh một mặt, một quá trình kinh tế nào đó.
Nếu kí hiệu một chỉ tiêu chi phí nào đó là C và một chỉ tiêu kết quả kinh doanh nào đó
là K thì chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh được tính theo hai chỉ tiêu trên là :
BH
H
X2
= K
BT
/C
BH
Trong đó :
H
X
: Hiệu quả xã hội của công ty bảo hiểm.
C
BH
: Tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh.
K
TG
: Số khách hàng tham gia bảo hiểm trong kỳ
K
BT
: Số khách hàng được bồi thường trong kỳ.
2.3. Phân tích hiệu quả kinh doanh theo các khâu công việc đối với BHHS.
Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác quá trình triển khai nghiệp vụ BHHS bao gồm
các khâu công việc: khâu khai thác, khâu đề phòng hạn chế tổn thất, khâu giám định, khâu
bồi thường tổn thất để nâng cao hiệu quả nghiệp vụ, đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả của
từng khâu. Điều đó có nghĩa là phải xác định hiệu quả từng khâu. Sau đó đánh giá xem xét
xem khâu nào chưa mang lại hiệu quả để tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục.
2.3.1.Hiệu quả khâu khai thác.
Kết quả khai thác trong kỳ
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ
BẢO HIỂM HỌC SINH TẠI BẢO VIỆT NGHỆ AN.
I. Cơ sở pháp lý để thực hiện bảo hiểm học sinh.
Cơ sở pháp lý của BHHS là những văn bản chỉ dạo của Chính phủ và các Bộ quản lý nhà
nước:
1. Quyết định số 115-HĐBT ngày 29/9/1986 của Hội đồng bộ trưởng về một số chế độ
đảm bảo đời sống và học tập của học sinh tại các trường đào tạo.
Trong thời kỳ giữa những năm 80 của thế kỷ 20 việc bảo đảm đời sống và học tập của
học sinh một phần dựa vào ngân sách đào tạo của Nhà nước, một phần dựa vào kết quả lao
động sản xuất của học sinh trong nhà trường và sự đóng góp của gia đình học sinh. Cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất nước ta lúc đó gọi là Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính
phủ) đã ra quyết định số 115-HĐBT ngày 29/9/1986 về một số chế độ bảo đảm đời sống
và học tập của học sinh tại các trường đào tạo.
Nội dung của Quyết định này chủ y nhằm giải quyết chế độ bảo đảm đời sống và học
tập của học sinh các trường đào tạo phù hợp với điều kiện kinh tế và tài chính của Nhà
nước thời kỳ đó. Trong quyết định này tại điều 9 đã quy định rằng: Công ty Bảo hiểm Việt
Nam ra các thể lệ bảo hiểm đối với học sinh các trường và thu lệ phí hàng năm của học
nạn thân thể học sinh. Trên cơ sở đó quy định cụ thể phạm vi bảo hiểm, số tiền bảo hiểm,
phí bảo hiểm, hiệu lực bảo hiểm. Một trong những nội dung quan trọng của quy tắc này là
quy định rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của người được bảo hiểm, thủ tục trả tiền bảo
hiểm. Phần cuối cung quy định việc giải quyết tranh chấp có liên quan tới quy tắc này dựa
trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật hiện hành của Nhà nước. Quy tắc bảo hiểm
tai nạn thân thể học sinh có hiệu lực thi hành từ năm học 1991-1992.
5. Điều khoản bảo hiểm toàn diện đối với học sinh.
Điều khoản bảo hiểm toàn diện đối với học sinh được ban hành theo quy định số
1035/PHH ngày 8/7/1994 của Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Việt Nam. Điều khoản
bảo hiểm này được xây dựng trên cơ sở các quy tắc bảo hiểm có liên quan đã được Bộ Tài