147
Chương 11
ĐIỀU TRỊ MIỄN DỊCH
I. Đại cương
Trong mấy thập kỷ gần đây sự phát triển mạnh mẽ của miễn dịch
học và của sinh học phân tử đã giúp cho điều trị học thêm nhiều biện pháp
chẩn đoán, phòng bệnh và chữa bệnh có kết quả đối với những bệnh thuộc
hệ thống miễn dịch. Những tiến bộ đó đã mở thêm hẳn một chương m
ới
gọi là “điều trị miễn dịch”. Đáp ứng của hệ thống miễn dịch trong trường
hợp bệnh lý có thể giảm hoặc tăng, có thể có những rối loạn tạo ra những
sản phẩm bất thường và do đó không giữ được sự cân bằng tự nhiên. Mục
đích của điều trị miễn dịch chính là lập lại sự cân bằng ấy. Do đó có hai
hướng chính làm tăng cường đáp ứng (immunostimulating) khi có suy
giảm hay chưa đủ và làm giảm (immunosupressing) khi có đáp ứng quá
mức hay rối loạn. Nhưng cũng do trong cơ chế điều hoà và tương tác của
hệ thống miễn dịch có rất nhiều khâu khác nhau và tác dụng của thuốc sử
dụng chưa thật rõ vào khâu nào cho nên nhiều chát được gọi là chất điều
biến miễn dịch
II. Tăng cường đáp ứng miễn dịch
Khi đáp ứng miễn dịch chưa đủ nhu cầu hay có suy giảm thì cần
phải tăng cường đáp ứng bằng nhiều biện pháp khác nhau. Đó là vacxin,
huyết thanh và các chất kích thích miễn dịch.
1. Vaccine
1.1. Nguyên lý
Kể từ khi E. Jenner tìm ra cách dùng đậu bò chủng cho người
chống lại bệnh đậu mùa rồi đến những phát minh của L.Pasteur dùng vi
khuẩn chết hay đã làm giảm độc lực để làm vacxin thì nguyên lý vẫn là
gây ra trong cơ thể sống m
nguyên khác nhau nên trong sản xuất vacxin trước tiên phải làm sao cho
đáp ứng miễn dịch chống lại những nhóm quyết định kháng nguyên “sinh
tử” nghĩa là nếu đánh vào đó thì yếu tố gây bệnh bị tiêu diệt hay ít nhất
cũng không còn khả năng sinh hại nữa. Trước đây, qua kinh nghiệm người
ta đã biết được một số kháng nguyên sinh ra được kháng thể bảo vệ như
các kháng thể chống độc tố uốn ván, bạch hầu. Hiện nay đang có những cố
gắng phân lập kháng nguyên hay nhóm quyết định “sinh tử” ấy để làm cho
vacxin được tinh khiết và thuần nhất hơn tiến tới có thể tổng hợp được
chúng. Ví dụ như trong các loại kháng thể do virus viêm gan B sinh ra thì
chỉ có kháng thể chống kháng nguyên bề mặt HBs là có tác dụng bảo vệ
còn kháng thể chống vỏ nhân HBc không có tác dụng ấy. Tính hiệu lực
hay khả năng bảo vệ có thể được đánh giá trên thực nghiệm nhưng cái
chính vẫn là trên thự
c địa qua đánh giá sau tiêm chủng và khả năng phòng
các dịch bệnh do yếu tố gây bệnh gây ra. Tính hiệu lực cần được đánh giá
trên bình diện cá thể và trên bình diện nhóm (Herd immunity = miễn dịch
quần thể). Trong việc đánh giá nhóm này thì hiệu lực của vacxin còn phụ
thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau như việc bảo quản, vận chuyển và cách
sử dụng vaccine. Tất cả đã tạo nên một môn khoa học mới gọi là
vaccinology mà mục đích là nghiên cứu mọi biện pháp từ lúc sản xuất đến
lúc tiêu dùng, để tăng tính hiệu lực của vaccine trên bình diện nhóm.
149
- Tính vô hại
Đó là một đòi hỏi tất nhiên khi sử dụng vaccine. Cũng như đối với
các thuốc điều trị khác, mọi vaccine phải được thử qua nhiều bước trong
phòng thí nghiệm invitro trên tế bào, invivo trên các súc vật khác nhau rồi
mới sử dụng đại trà. Tần suất và mức độ nặng nhẹ của các phản ứng phụ
nếu có, phải được xác định trước khi được đem ra dùng đại trà và vẫn còn
phải được theo dõi cẩn thận.
150
Đối với virus thì đã có vacxin chống bại liệt Sabin uống, vacxin
thuỷ đậu chủng OKA của Nhật và vacxin chống cytomegalovirus chủng
Towne của Mỹ.
Nói chung đối với vacxin sống người ta khuyên không nên dùng
loại vacxin này cho những người có suy giảm miễn dịch (trẻ em suy dinh
dưỡng, phụ nữ có thai, bệnh nhân bị ung thư, bệnh nhân đang dùng thuốc
ức chế miễn dịch ). Lý do là trong hoàn cảnh ấy sức đề kháng miễn dịch
yếu nên vi sinh vật có thể khôi phục lại độc lực mà sinh bệnh.
Công nghệ gen học hiện nay đã gây được đột biến tạo ra chủng
virus hay vi khuẩn nguyên có độc lực thành không độc. Khi làm mất gen
thymidin-kinaz của chủng virus herpes (chủng đột biến tk) thì nó không
gây biến chứng tại não nên có thể dùng làm vaccine được. Chủng vi khuẩn
thương hàn Ty21a nói trên là do tự nhiên đột biến nên giảm một số
enzyme chuyển hoá galactose mà ra. Cũng có thể tạo ra những chủng giảm
độc bằng cách gây ra đột biến ở những gen chịu trách nhiệm về độc lực.
Còn có thể ken vào đó những đoạn ADN di động gọi là transposon (gây
đột biến bằng ken ADN). Công nghệ gen học còn cho con người nhiều mơ
ước trong sản xuất vaccine.
1.3.4. Vaccine dưới đơn vị
Đó là những kháng nguyên tương đối tinh khiết phân lập từ virus
hay vi khuẩn sinh bệnh. Đầu tiên là các vaccine chống độc tố. Một số vi
khuẩn gây tác hại do độc tố chúng sinh ra, điển hình là uốn ván và bạch
hầu. Người ta đã phân lập được các độc tố này rồi làm mất tính độc của
chúng bằng yếu tố hóa học theo nguyên lý như trong loại vaccine chết
trên. Các độc tố mất hoạt tính được gọi là các anatoxin và được dùng làm
vaccine . Mức độ thuần nhất và tinh khiết hơn toàn bộ vi sinh cho nên có
tính mẫn cảm, sinh kháng nguyên và tính hiệu lực đều cao hơn.
Vaccine toàn phần của vi khuẩn Bordet-Gengou sinh ho gà có tác
trứng chuột hamster (CHO) bắt những tế bào này chỉ sản xuất ra kháng
nguyên pre-S2 mà thôi với số lượng tuỳ ý dùng làm vaccine. Đó là
vaccine thế hệ thứ ba đang bắt đầu được dùng đại trà trên thế giới.
* Tá chất hay tá dược
Trong vaccine, người ta hay cho thêm các tá chất để tăng hiệu lực.
Đấy thường là những hạt rất mịn của muối silicat hay phosphat của alun,
hạt bột talc. Chúng có tác dụng kích thích miễn dịch do bản thân gây viêm
nhẹ, kéo các đại thực bào và các tế bào có thẩm quyền miễn dịch khác tới.
Chúng làm cho kháng nguyên của vacxin lâu tiêu hơn kéo dài sự trình
diện kháng nguyên. Trong phòng thí nghiệm người ta hay dùng tá chất
Freund (dầu khoáng parafin + BCG chết) có tác dụng mạnh nhưng chưa
áp dụng được trên người vì hay mưng mủ kéo dài nơi tiêm và nhất là có
khả năng gây viêm khớp kiểu dạng thấp (đã gây thực nghiệm trên chuột).
Đối với những kháng nguyên có phân tử lượng nhỏ người ta có thể
gắn với protein mang tải tổ
ng hợp hay lấy từ huyết thanh người. Song
cũng đang nghiên cứu chất mang từ những hạt mỡ nhỏ gọi là liposon hay
là những đại phân tử gọi là iscon. Nhưng các nghiên cứu hãy còn trong
phạm vi thử nghiệm, chưa áp dụng được trên người vì còn nhiều rủi ro.
Một cách nữa được nghiên cứu nhiều là tái tổ hợp các gen mã cho các
kháng nguyên của nhiều vi sinh gây bệnh khác nhau vào trong cùng một vi
152
khuẩn không gây bệnh, như vậy tạo ra một vaccine đa giá. Trên súc vật thí
nghiệm người ta đã thành công tạo ra một vaccine bằng cách đưa gen
Salmonella và Shigella vào trong một trực khuẩn không độc.
2. Điều trị miễn dịch bằng huyết thanh
Việc sử dụng huyết thanh có chứa kháng thể đặc hiệu chống lại
một virus hay một vi khuẩn gây bệnh đã có từ thời Pasteur. Đó là phương
pháp điều trị bằng huyết thanh (serotherapy). (Huyết thanh đây phải được
cao và các nguyên liệu phải được xét nghiệm không có các loại virus nguy
hiểm như HBV hay HIV hoặc phải xử lý bằng các chất bất hoạt virus.
153
Dùng huyết thanh điều trị chỉ có tác dụng vài tuần là thời gian kháng thể
còn tồn tại.
- γ-globulin đa hoá trị được dùng trong các trạng thái suy giảm
miễn dịch dịch thể bẩm sinh hay mắc phải khi γ-globulin giảm xuống dưới
4g/l (bình thường là 11g/l). Thường phải tiêm 3 tuần một lần với liều
khoảng 0,2-3g/kg cân nặng và nó chỉ mang lại có IgG thôi. Trong trường
hợp nhiễm khuẩn sơ sinh vi khuẩn Gram âm thì mỗi tuần phải tiêm một
mũi (0,5-2g/kg).
- γ-globulin đặc hiệu lấy từ huyết thanh những người vừa khỏi
bệnh hay người khoẻ mạnh nhưng có hiệu giá kháng thể chống bệnh cao.
Tuỳ theo nguồn gốc mà có thể gọi là chống uốn ván, chống bạch hầu,
chống viêm gan B, Chúng đem lại cho một sự bảo vệ tức khắc nên được
chỉ định trong những hoàn cảnh sau:
+ Cần chữa khỏi hay mang lại sự thuyên giảm cho một bệnh đang
phát triển như trong viêm gan cấp, bạch hầu cấp,
+ Phòng một bệnh đang chuyển thành dịch như cúm, viêm não,
Nếu có thể thì dùng phối hợp cả huyết thanh lẫn tiêm chủng.
Trong trường hợp người mẹ Rh – mang thai, muốn tránh có mẫn
cảm với hồng cầu Rh+ của con thì có thể tiêm kháng thể chống Rh. Biện
pháp này được chỉ đị
nh khi đã theo dõi số hồng cầu của con có HbF trong
máu mẹ. Cơ chế chưa rõ song có thể là tác dụng phản hồi kìm hãm sinh
kháng thể bệnh lý.
2.4. Kháng thể đơn clon
Nhờ phát kiến của Milstein và Kohler, nay người ta đã tạo ra được
những tế bào lai (hybridome) chỉ sản xuất ra kháng thể chống lại có một
vệ cơ thể nhưng nhiều khi lại có hại hơn có lợi. Cái đó xảy ra trong các
trạng thái miễn dịch bệnh lý khi có những kháng thể dịch thể hay kháng
thể tế bào không bình thường. Điều trị miễn dịch nhằm loại bỏ hay ngăn
cản cơ thể không sản xuất ra chúng nữa.
1. Điều trị loại bỏ kháng thể bằng thay thế huyết tương
Nhiều trường hợp bệnh lý là do kháng thể dịch thể lưu hành trong
tuần hoàn mà gây ra rối loạn. ý nghĩ thay thế chúng bằng huyết tương bình
thường đã được thực hiện có kết quả nhưng chỉ có tác dụng nhất thời.
Thay thế huyết tương là lấy ra khoảng 500ml máu, tách và tiêm trả
lại số hồng cầu với một chất khác thay thế huyết tương hay huyết tương
lành. Làm như thế 2-3 lần thì có thể rút ra 500-900 huyết tương có kháng
thể muốn loại trong tổng số 2500 ml máu của toàn cơ thể. Tỷ lệ loại bỏ ấy
(30-40%) không đáng kể song đã có phương pháp điều trị cho thấy có hiệu
quả. Như trong trường hợp người mẹ bị mẫn cảm với yếu tố
Rh có kháng
thể chống D mà muốn có thai. Nếu tiến hành thay huyết tương 2 lần một
tuần sẽ làm giảm tới 4 lần hiệu giá anti D tức là nồng độ nguy hiểm (5-10
μg/ml) xuống còn 1-2,5 μg/ml, nồng độ ít nguy hiểm cho thai hơn. Biện
pháp này không có hiệu quả khi hiệu giá cao hơn 10 μg/ml.
Thay thế huyết tương có những bất tiện sau:
- Giá đắt và tốn công nhất là khi phải làm theo phương pháp thủ
công.
- Rủi ro truyền bệnh qua dịch hay huyết tương thay thế (HBV,
HCV, HIV).
155
- Rủi ro xảy ra tai biến “kiểu phản vệ” dù hiếm nhưng cũng nguy
hiểm. Cơ chế có lẽ là do bổ thể đã bị hoạt hoá khi tiếp xúc với bộ đồ
truyền (phóng thích các chất như C3a, C5a).
Thay thế huyết tương được chỉ định không những để loại bỏ
tổng hợp protein. Các corticoid cũng ức chế trực tiếp tế bào lympho và
phong bế sự tổng hợp interleukin – 2 là chất tăng cường hoạt động tế bào
diệt tự nhiên (NK) và lympho Tc. Chúng còn làm giảm bạch cầu toan tính,
tăng bạch cầu trung tính vì ngăn chúng ra khỏi lòng mạch, giảm sự mất hạt
của các tế bào kiềm và giảm cả bổ thể trong máu.
156
Những dẫn xuất hay được dùng nhất là prednisolon và
methylprednison. Liều tấn công trong bệnh tự mẫn hay ghép thận là
2mg/kg/ngày rồi giảm dần xuống 0,5-1 mg/kg/ngày. Sau tiếp tục giảm
nữa, nói chung là tránh giảm đột ngột có thể gây rối loạn nội tiết. Trong
ghép khi có triệu chứng thải cấp thì liều cần cao hơn nhiều (4-
5mg/kg/ngày) truyền tĩnh mạch cách nhau 12 giờ sau mới trở về liều điều
trị thông thường.
Dùng corticoid có sinh ra tác dụng phụ khi dùng nhiều và lâu như
hội chứng kiểu Cushing, tăng huyết áp, xốp xương dễ gảy nhất là người có
tuổi, đái tháo đường, loét hành tá tràng. ở trẻ em dễ làm chậm lớn, rối loạn
tâm thần có khi thành cơn giật.
2.2. Các chất ức chế miễn dịch không phải steroid
Thường đó là những chất hay dùng trong điều trị ung thư vì nói
chung có tác dụng ức chế phân bào. Thường là các ch
ất:
- Chống chuyển hoá như 6-mercaptopurin mà một dẫn xuất hay
được dùng nhất là azathioprin (Imurel). Cơ chế tác dụng của nó là ức chế
enzym xúc tác chuyển đổi acid inosinic thành acid adenylic, tiền thân của
guanin và adenin. Aziathioprin tác dụng chủ yếu là lên trên tế bào lỵmpho
T nhưng cũng cả trên tế bào gốc sinh huyết nữa. Khi có suy thận thì cần
giảm liều và nhất là không được dùng cùng với allopurinol, một chất ức
chế tổng hợp acid uric. Nếu không thì dễ sinh ra vô sinh tuỷ; khi dùng cầ
n
hợp với kháng thể trên mặt tế bào thì tạo ra tín hiệu được đưa vào bên
trong thông qua hệ thống đưa tin thứ 2.
Tin sẽ được đưa vào tận nhân để hoạt hoá một số gen sớm như gen
mã cho IL-2, cần thiết cho tế bào G0 chuyển sang trạng thái G1. Cs-A liên
kết với cyclophillin, tác động lên calcineurin nội tế bào ngăn cản kênh ion
calci hoạt động. Tế bào bị ức chế không hoạt hoá được và không sinh tổng
hợp và tiết ra IL-2. Tác dụng ức chế như thế khá chọn lọc chỉ trên tế bào
TCD4, không tác động trên dòng T khác như T nhớ hay trên tuỷ xương.
Đối với ghép tạng thì việc phát hiện ra Cs-A được coi như m
ột cuộc cách
mạng vì nó giúp ngăn chặn hiện tượng thải loại mảnh ghép. Trước khi có
Cs-A ghép thận chỉ có kết quả lâu dài được khoảng 50% mà sau khi có
Cs-A thì tỷ lệ kết quả lên tới 80-85%. Nhưng Cs-A có tác dụng phụ gây
độc cho thận. Nó gây tổn thương ở cả cầu thận, ống thận và kẽ thận nên
khi bị nhiễm độc thì nhanh chóng dẫn đến suy thận và cao huyết áp khó
hồi phục. Cho nên hiện nay người ta
đang tìm những dẫn xuất khác ít hay
không độc bằng cách thay thế một vài acid amin bên trong phân tử ví dụ
như cyclosporin G.
Gần đây người ta mới chiết được từ Streptomyces tsukubaensis
chất FK-506 cũng có tác dụng ức chế miễn dịch như Cs-A nhưng mạnh
hơn và có cơ chế hoạt động tương tự nghĩa là chủ yếu trên sản xuất IL-2.
Còn chất rapamycin chiết từ Streptomyces hygrocopius cũng là chất ức
chế mi
ễn dịch nhưng lại ngăn cản IL-2 tác dụng lên tế bào để không
chuyển từ G1 sang S. Hai chất sau này còn đang thời kỳ nghiên cứu chưa
được dùng đại trà.
người nhận có vẻ làm cho mảnh ghép dễ bắt hơn. Cơ chế có thể là do xuất
hiện những tế bào ức chế hay tác dụng phản hồi trong mạng lưới idiotip.
4.3. Giải mẫn cảm đặc hiệu
Đó là phương pháp điều trị nhằm làm giảm đáp ứng miễn dịch quá
mức ngay bằng kháng nguyên đặc hiệu có lẽ bắt nguồn từ thời vua
Mithridat cổ xưa. Để tránh bị đầu độc ông này đã làm quen với thuốc độc
bằng cách dùng hằng ngày với liều tăng dần. Trong phương pháp giải mẫn
cảm đặc hiệu do Bedredska đề xướng ngườ
i ta đưa kháng nguyên dị ứng
ban đầu với liều rất ít, sau tăng dần cho đến khi với liều cao mà không
xuất hiện triệu chứng mẫn cảm nữa. Cơ chế của quá trình giải mẫn cảm
còn được bàn cải nhiều và có thể có nhiều cách giải thích khác nhau.
159
- Kích thích kháng thể phong bế đã nói trên. Chúng có thể là IgG4
và có tác dụng trung hoà dị nguyên trước khi chúng có thời gian cố định
lên IgE có trên bề mặt các tế bào kiềm tính.
- Làm giảm sản xuất IgE sinh ra dị ứng. Sau mấy mũi đầu thì thấy
IgE tăng nhưng sau đó giảm IgE đặc hiệu với dị nguyên mà sự giảm đó
kéo dài trong suốt thời gian bệnh nhân đã được giải mẫn cảm.
- Làm giảm tính phản ứng của tế bào đích. Sự phóng thích liên tiếp
các hoá chất trung gian từ các tế bào kiềm tính làm sự tổng hợp mới chưa
kịp nên tính phản ứng của chúng sẽ giảm đi.
Có thể có sự phối hợp của cả mấy cơ chế
Các di nguyên hay được dùng dưới hình thức chất chiết hoà tan
trong nước có thể thêm tá chất là hydroxid alumin hay phosphat calci và
được chuẩn hoá invitro cũng như invivo và bán trên thị trường. Song do
hoàn cảnh mỗi n
ơi khác nhau cho nên dị nguyên tự tạo tại chỗ vẫn có hiệu
tăng cường hơn là ức chế. Nguồn gốc của chúng rất khác nhau nhưng có
thể tạm xếp thành 3 nhóm lớn: các chất có nguồn gốc vi khuẩn, các chất
có nguồn gốc tuyến ức và các chất tái tổ hợp do công nghệ gen học cung
cấp.
1. Những chất điều biến miễn dịch có nguồn gốc từ vi khuẩn
Những chất có nguồn gốc từ vi khuẩn tinh khiết hay không đều có
nhiều tác dụng khác nhau trên hệ thống đáp ứng miễn dịch nhưng cũng có
những tác dụng phụ mà ta thường hay thấy xuất hiện trong nhiễm trùng
như sốt, đau mình mẩy, khó chịu toàn thân,… Trong thực nghiệm chúng
có tác dụng làm tăng sức đề kháng miễn dịch không đặc hiệu, nhưng chỉ
có hiệu lực khi được dùng trước gây nhiễm trùng hay trước ghép mô ung
thư (tác dụng phòng) còn không có hiệu lực khi dùng sau để điều trị.
1.1. Các chất từ trực khuẩn
Ngay từ cuối thế kỷ trước người ta đã có nhận xét là một số ung
thư thu hẹp lại thậm chí mất hẳn sau khi tiêm cho bệnh nhân vi khuẩn
sống hay chết. Từ lâu BCG đã được dùng như một tá chất để tăng cường
thế năng của vacxin đối với động vật thí nghiệm. Vào giữa thế kỷ này
BCG đã được chứng minh invitro và cả invivo là có tác dụng kích thích
miễn dịch. Nó làm tăng sự tương tác giữa tế bào lympho và đại thực bào,
kích thích đại thực bào tiết ra IL-1 và TNF. Mathé tại Pháp đã thu được
một số kết quả khích lệ trong việc dùng BCG điều trị leukemia cấp. Sau
lại được dùng để điều trị lymphosarcom và melanoma, ưng thư phổi và
ung thư buồng trứng.
Kết quả dùng BCG đã dẫn tới việc dùng Corynebacterium (parvum
hay granulosum) và đã thấy có k
ết quả đối với melanom, nhưng có vẻ chỉ
kích thích đại thực bào mà lại ức chế tế bào lympho. Pseudomonas
aeruginosa cũng đã được thử và cũng làm thuyên giảm leukemia cấp dòng
tuỷ.
Những công trình sử dụng các chất chiết tách các thành phần của
thực bào, tăng sản xuất IL-1, TNF và CSF. ở Nhật có bán dưới tên là
Lentinan, Krestin để chữa ung thư.
Một số chất thảo mộc lấy từ y học cổ truyền có ít nhiều tác dụng
điều biến miễn dịch. Trong y văn có kể hạ khô thảo, hoàng bì, bồ hoàng. Ở
nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về rễ cây nhàu trên huyết áp,
xơ cứng mạch và trên đáp ứng miễn d
ịch; vỏ đậu xanh (vigna aureus)
trong chống viêm không đặc hiệu hay vỏ cây chay trong bệnh nhược cơ.
Những kết quả bước đầu đáng khích lệ.
3. Những chất từ tuyến ức có tính điều biến miễn dịch
Sự hiểu biết về tuyên ức còn sơ sài, có lẽ nhờ các chất từ tuyến ấy
ra mà có sự biệt hoá tế bào lympho T. Cho nên một số chất được chiết từ
chất nghiền và đun chín của tuyến ức đã được gọi là hormon tuyến ức.
Một số tương đối thô đã được dùng trong lâm sàng. Chúng không tạo ra
được những tế bào lympho T mới mà chỉ hoạt hoá tăng cường được tế bào
có sẵn. Kết quả là có tăng sức đề kháng miễn dịch đối với nhiễm khuẩn
hay sự tấn công của mô ung thư và làm chậm quá trình lão hoá tức chết
theo chương trình. M
ột số biệt dược như thymostimulin, T-activin, thym-
162
uvocal và thymomodulin đã được bán để dùng phụ thêm trong điều trị ung
thư hay nhiễm khuẩn.
Hiện nay có 4 chất peptid tổng hợp được gọi là peptid tuyến ức
đang được dùng thử: thymopentin, thymosin-α, thymulin và yếu tố
hormon tuyến ức.
Thymopentin đã được dùng ở Đức và Italia cho ung thư và suy
giảm miễn dịch hay kết hợp với zidovudin để chữa nhiễm HIV. In vitro nó
làm tăng sự biệt hoá T và sản xuất IL. Thymosin α c
ũng làm tăng IL-2 và
mối tương tác và điều hoà cực kỳ phức tạp của hệ thống miễn dịch.
163
Nhưng trong vòng 10 năm gần đây, sinh học phân tử và đặc biệt là
công nghệ gen học đã cho phép phân lập và xác định đoạn gen mã cho
từng thứ và cuối cùng là đã có thể tái tổ hợp được những cytokine ấy.
Hiện nay rất nhiều hãng đã đưa ra thị trường các cytokine tái tổ hợp như
IFN-α, IFN-γ, IL-2, CSF, … để dùng trong điều trị miễn dịch và còn nhiều
cytokine khác đang được hoàn chỉnh và nghiên cứu. Có người coi đó là
một cuộc cách mạng trong điều trị miễn dịch. Thêm vào cuộc cách mạng
ấy là sự xuất hiện các kháng thể đơn clon đã mang cho người ta nhiều hy
vọng trong chữa những bệnh cho đến nay là nan y.
giảm miễn dịch do nhiều nguyên nhân khác nhau. Những chất điều biến
miễn dịch ấy sẽ tăng cường mà khi cần thì ức chế, tuỳ theo cân bằng miễn
dịch ở trong không gian và thời gian. Riêng trong những kho thuốc y học
cổ truyền có rất nhiều chất có tác dụng dược lý điều biến miễn dịch mà
chủ yếu chống viêm không đặc hiệu cần được khai thác.
Đặc biệt công nghệ gen đã mang lại cuộc cách mạng là có thể sản
xuất ra mọi chất có hoạt năng miễn dịch bằng con đường tái tổ hợp. Các
cytokin là trung gian thông tin bên trong hệ thống miễn dịch, giữa hệ
thống này với hệ thống khác trong cơ thể. Xác định rõ chức năng của từng
thứ sẽ giúp rất nhiều cho việc điều trị miễn dịch nhất là sau khi sản xuất
được chúng bằng con đường tái tổ hợp. Đó quả là cuộc cách mạng trong
điều trị học. Nhưng đó là một hành động rất tế nhị vì càng ngày càng thấy
tính chất cực kỳ phức tạp và tinh tế của cái mạng lưới cytokin ấy.
Trong lĩnh vực ức chế miễn dịch cũng v
ậy, tìm ra các tính chất
thích hợp đã giúp người thầy thuốc ngăn hệ thống miễn dịch không có
những phản ứng không có lợi cho người bệnh. Cũng như với các thuốc
tăng cường miễn dịch việc hiểu sâu cơ chế của phản ứng miễn dịch giúp
tìm ra nhiều loại chất đã được dùng có hiệu quả trong ghép mô và tạng.
Thành công và sự mở rộng ghép hiện nay trên thế giới chính là do những
tiến bộ về miễn dịch học nói chung và về tiến bộ trong các thuốc ức chế
miễn dịch nói riêng.