SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THANH HOÁ
ĐỀ CHÍNH THỨC
KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH
Năm học: 2009 – 2010
Môn thi: Ngữ văn
Lớp: 9 THCS
Ngày thi: 24 tháng 3 năm 2010
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
(Đề thi có 01 trang, gồm 03 câu)
Câu 1. (6 điểm)
Đọc văn bản sau:
THỜI GIAN LÀ VÀNG
Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian
không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá.
Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng,
nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm là chết.
Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết
nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại.
Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hoá đúng lúc là lãi, không
đúng lúc là lỗ.
Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ
mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được.
Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản
thân và cho xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp.
(Theo Phương Liên, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục, 2005, trang 36 - 37)
a) Văn bản trên thuộc loại nghị luận nào?
b) Viết một đoạn văn ngắn (từ 10 câu đến 15 câu) trình bày những suy nghĩ của
bản thân về giá trị thời gian.
Câu 2. (6 điểm)
Những rung cảm ở nhân vật “tôi” trước sự thay đổi làng quê và con người
b. Viết đoạn văn (5.0
điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng (1.0 điểm)
Phải đảm bảo hình thức của một đoạn văn, cấu trúc gồm có hai thành phần: mở
đoạn và phát triển đoạn (hay phát triển đoạn và kết đoạn). Hoặc một đoạn văn gồm 3
thành phần: mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Hành văn trong sáng, không sai các
lỗi chính tả, ngữ pháp, chữ viết rõ ràng, đẹp.
II. Yêu cầu về kiến thức (4.0 điểm)
Bằng lí lẽ và dẫn chứng có sức thuyết phục làm rõ vấn đề: giá trị của thời gian.
Câu 2 Tổng 6.0 điểm
I. Yêu cầu về kĩ năng
Đảm bảo một văn bản bài văn nghị luận văn học có cấu trúc rõ ràng, mạch lạc, hành
văn trôi chảy, ít sai các lỗi về chính tả, dùng từ, diễn đạt,… Ưu tiên những bài viết có cảm
xúc, sáng tạo, độc đáo, cá tính và chữ đẹp. (1.0 điểm)
II. Yêu cầu về kiến thức
1. Giới thiệu khái quát về tác giả Lỗ Tấn, truyện ngắn Cố hương (là một trong những
truyện ngắn tiêu biểu trong tập Gào thét (1923), truyện đã thể hiện được những rung cảm
của nhân vật “tôi” trước sự thay đổi của làng quê và con người). (0.5 điểm)
2. Những rung cảm của nhân vật “tôi” (4.0 điểm)
a. Sự thay đổi của làng quê (1.5 điểm)
- Trong kí ức nhân vật “tôi” làng quê cách đây hai mươi năm rất đẹp, “không có hình
ảnh ngôn ngữ nào diễn tả cho được”, còn bây giờ tiêu điều, hoang vắng nằm im dưới vòm
trời màu vàng úa, cảnh tượng hiu quạnh.
- Tâm trạng của nhân vật tôi: lòng se lại.
b. Sự thay đổi của con người (2.5 điểm)
- Sự thay đổi của mẹ, của thím Hai Dương.
- Đặc biệt sự thay đổi của Nhuận Thổ:
+ Ở ngoại hình: thân hình tàn tạ (nước da vàng sạm, những nếp răn sâu hoắm, mi mắt
viền đỏ hup mọng lên, bàn tay vừa thô kệch vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông,… ) làm
cho “tôi” đau xót.
là sự phát triển tự nhiên trong mạch cảm xúc của bài thơ. Khát vọng ấy cũng thật tha thiết và
khiêm nhường. (HS phân tích các hình ảnh thơ để làm nổi bật khát vọng của thi nhân).
+ Mùa xuân nho nhỏ của mỗi cuộc đời dâng cho đất nước cũng không hề ồn ào mà là
sự hiến dâng lặng lẽ.
+ Điều tâm nguyện của tác giả cũng là khát vọng chung của nhiều người, ở mọi lứa
tuổi. Bởi vậy tiếng lòng của nhà thơ đã gặp gỡ với tâm trạng của đông đảo mọi người.
3. Đánh giá (0.5 điểm)
Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo độc đáo của Thanh Hải, góp vào các hình ảnh mùa
xuân trong thơ ca. Nó thể hiện khát vọng được cống hiến, được đóng góp những gì có thể dù
là nhỏ bé để làm đẹp cho đất nước. Bài thơ là thông điệp, là lời nhắn gửi đến mọi thế hệ
người dân Việt Nam, đặc biệt là tuổi trẻ.
……………………………………… Hết……………………………………