Tìm hiểu về công ước quốc tế cũng như các luật liên quan - Pdf 16

Bài thảo luận nhóm 2
MỤC LỤC
Lời mở đầu………………………………………………………… 2
Những công ước quốc tế và luật……………………………………3
1. Quyền trẻ em………………………………………………………3
2. Luật nhận con nuôi……………………………………………….5
3. Luật người khuyết tật…………………………………………….6
4. Luật bình đẳng giới……………………………………………….9
5. Luật người cao tuổi…………………………………………… 10
6. Luật phòng chống HIV/AIDS …………………………………10
7. Luật bảo hiểm xã hội…………………………………………….14
8. Luật bảo hiểm y tế……………………………………………….15
9. Bộ luật lao động………………………………………………….16
10. Luật dạy nghề, Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói
giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc
làm………………………………………………………………… 17
Việc hình thành chính sách xã hội tại cơ sở an sinh xã hội và thực
hành chính sách xã hội…………………………………………….17
Phụ lục………………………………………………………………43
Tài liệu tham khảo…………………………………………… …277
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 1
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
LỜI MỞ ĐẦU
Để hoàn thiện bài tiểu luận: “Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội”,
chúng tôi dưới sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn cũng như sự nỗ lực của các thành
viên trong nhóm, với một một quá trình làm việc hết sức nghiêm túc cuối cùng đã đưa đến kết
luận chia bài tiểu luận làm hai phần:
Phần 1: Tìm hiểu về công ước quốc tế cũng như các luật liên quan(gồm có 15 luật)
như: luật trẻ em, luật về nhận con nuôi, luật về người cao tuổi, luật bình đẳng giới, luật người
khuyết tật, luật phòng chống HIV/AIDS, luật Bảo hiểm xã hội, luật Bảo hiểm y tế, Bộ luật lao

khắp nơi đều có : quyền sống còn phát triển tới mức đầy đủ nhất; quyền đươc bảo vệ không
bị những tác động gây hại, bị xâm hại và bóc lột; và tham gia đầy đủ trong gia đình, đời sống
văn hóa và xã hội. Bốn nguyên tắc căn bản là : không phân biệt đối xử; tất cả vì quyền lợi tốt
nhất của đứa trẻ; quyền được sống, tồn tại và phát triển; và tôn trọng quan điểm của trẻ.
Công ước bao gồm những điểm sau đây :
1. Định nghĩa trẻ em là những người dưới 18 tuổi trừ phi luật pháp quy định mỗi
nước quy định thấp hơn.
2. Những nguyên tắc chung, bao gồm quyền được sống, tồn tại và phát triển,
quyền không bị phân biệt đối xử, tôn trọng quan điểm của trẻ và quan tâm đến quyền lợi tốt
nhất của trẻ, và yêu cầu quan tâm trước hết đến những quyền lợi tốt nhất của trẻ về tất cả
những điều ảnh hưởng đến chúng.
3. Quyền công dân và sự tự do, bao gồm quyền có tên gọi và quốc tịch, tự do phát
biểu, tư tưởng và lập hội, tiếp cận thông tin và quyền không bị hành hạ tra tấn.
4. Môi trường gia đình và chăm sóc thay thế bao gồm quyền sống với cha mẹ và
tiếp xúc với cả cha lẫn mẹ, được đoàn tụ với cha mẹ nếu bị tách rời và được cung cấp chăm
sóc thay thế khi cần thiết.
5. Sức khỏe và an sinh căn bản, bao gồm các quyền của trẻ khuyết tật, quyền có
sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, bảo đảm xã hội và mức sống thích hợp.
6. Giáo dục, vui chơi giải trí và hoạt động văn hóa, bao gồm quyền được học
hành và quyền vui chơi, giải trí và tham gia vào đời sống văn hóa và nghệ thuật.
7. Có những biện pháp bảo vệ đặc biệt bao gồm các quyền của trẻ tỵ nạn bị ảnh
hưởng bởi xung đột vũ trang trẻ em trong hệ thống tư pháp vị thành niên, trẻ bị tước đoạt
quyền tự do và trẻ em chịu thiếu thốn kinh tế, bị bóc lột tình dục hay những thức bóc lột khác.
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 3
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
Công ước có hai Nghị định thư cần được các nước hội viên phê chuẩn riêng. Nghị
định thư thứ nhất hạn chế việc tham gia của trẻ em vào các cuộc xung đột vũ trang và Nghị
định thư thứ hai cấm mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em. Các nước hội viên
báo cáo cho ủy ban và quyền trẻ em Liên hiệp quốc về tiến độ thực hiện Công ước và các

hóa dân tộc;
5. Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế.
- Luật quy định trách nhiệm của gia đình, Trách nhiệm đăng ký khai sinh
Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng
Trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em sống chung với cha mẹ
Trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự
. Trách nhiệm bảo vệ sức khỏe
Trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 4
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
Trách nhiệm bảo đảm điều kiện vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể
dục, thể thao, du lịch
Trách nhiệm bảo đảm quyền phát triển năng khiếu
Trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự
Trách nhiệm bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt
động xã hội
- Ngành CTXH cần chú ý Chương IV. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị
bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; trẻ em nhiễm
HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải
làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma túy; trẻ
em vi phạm pháp luật.
Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Chính sách của Nhà nước đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Hình thức trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Các hình thức trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm:

Quốc hội ban hành Luật nuôi con nuôi.
Luật quy định khá rõ ràng cách thức nhận nuôi con, trình tự các bước làm thủ tục nuôi
con trong và ngoài nc, quy định khá chặt chẽ về trách nhiệm của các cơ quan ban ngành có
liên quan
B. Công ước về các quyền của người khuyết tật (CRPD)
(NKT chịu nhiều thiệt thòi trong xh, họ dễ bị rơi vào nhóm yếu thế, chính vì vậy, gia
đình, cơ quan đoàn thể và xh cần quan tâm tạo điều kiện, xóa bỏ kỳ thị phân biệt )
Luật được phê chuẩn vào ngày 13/12/2006. Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia
ký Công ước vào ngày 22 tháng 10, 2007.
Người khuyết tật bao gồm những người khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí
tuệ hay giác quan khiến họ gặp khó khăn trong giao tiếp làm cản trở họ tham gia đầy đủ và
hiệu quả vào xã hội một cách bình đẳng với người khác.
Công ước thúc đẩy sự bảo vệ các quyền của người khuyết tật (PWDs) chống lại sự
phân biệt đối xử, gỡ bỏ rào cản để họ có thể hòa nhập xã hội.
Công ước khẳng định các quyền của người khuyết tật về giáo dục, sức khỏe, việc làm,
những điều kiện sống đầy đủ, tự do di chuyển, không bị bóc lột và được thừa nhận bình đẳng
trước pháp luật.
Mục đích của Công ước là thúc đẩy, bảo vệ và đảm bảo sự thụ hưởng đầy đủ và bình
đẳng các quyền con người và sự tự do cho tất cả người khuyết tật và thúc đẩy sự tôn trọng
nhân phẩm của họ.
Những nguyên tắc chung được đề ra trong Công ước là :
• Tôn trọng nhân phẩm, quyền tự trị cá nhân bao gồm quyền tự do lựa chọn và
độc lập của con người
• Không phân biệt đối xử
• Tham gia và hội nhập đầy đủ và hiệu quả vào xã hội
• Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như là một phần đa dạng
của con người và nhân loại
• Bình đẳng về cơ hội
• Sự tiếp cận
• Bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ

Điều 4. Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật
1. Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:
a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;
b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;
c) Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội;
d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ
giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch
vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật.
- Ngày 18 tháng 4 hàng năm là Ngày người khuyết tật Việt Nam.
- Luật Quy định rõ ràng cụ thể quy trình, thủ tục xác nhận khuyết tật.
Quy định các ưu đãi trong công tác chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm,
văn hóa thể thao, giải trí và du lịch. Các ưu đãi trong vấn đề nhà ở chung cư, công trình công
cộng, giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông Chính sách bảo trợ xã hội nhằm tạo
mọi điều kiện tốt nhất cho NKT có thể tham gia hoạt động xã hội, …
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 7
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
Trên thực tế: thủ tục xác nhận khá rườm rà đối với NKT. NKT khó xin việc, việc đến
trường đối với người KT còn có nhiều bất cập khi mà khả năng và điều kiện đến trường của
họ gặp nhiều trở ngại hơn nhưng nhà trường lại quy định khá chặt chẽ độ tuổi đến trường.
nhận các hỗ trợ bị hạn chế
Công ước về việc loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ
(CEDAW)
(Convention on the Elimination of all Forms of Discrimination against Women, viết
tắt là CEDAW) Ngày 18/12/1979, Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ (CEDAW) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn. Ngày 3/9/1981, sau khi
nước thứ 20 thông qua, Công ước này bắt đầu có hiệu lực với tư cách một văn kiện quốc tế
tổng hợp nhất về quyền con người của phụ nữ. Theo Uỷ ban CEDAW, tính đến tháng 3/2005

Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 8
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
Công ước có một Nghị định thư tùy chọn trong đó phụ nữ có thể tìm sự đền bù cho
những vi phạm các quyền của họ sau khi đã vận dụng hết các biện pháp luật pháp từ chính
quyền của họ.
IV. Luật Bình đẳng giới 6 chương 44 điều
(gần 50% tổng lực lượng lao động là nữ=>xóa bỏ BBĐG để phát triển đất nc vững
mạnh)
Luật Bình đẳng giới của Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ 10số 73/2006/QH11 ngày 29
tháng 11 năm 2006
Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và
gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá
nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới.
Mục tiêu bình đẳng giới
Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho
nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng
giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới
1. Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
2. Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.
3. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
4. Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
5. Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.
6. Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ
GIA ĐÌNH
CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI
Điều 19. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
1. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

d) Được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí,
du lịch và nghỉ ngơi;
đ) Được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khỏe, nghề nghiệp và các điều kiện
khác để phát huy vai trò người cao tuổi;
e) Được miễn các khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, trừ trường hợp tự nguyện
đóng góp;
g) Được ưu tiên nhận tiền, hiện vật cứu trợ, chăm sóc sức khỏe và chỗ ở nhằm khắc
phục khó khăn ban đầu khi gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc rủi ro bất khả kháng khác;
h) Được tham gia Hội Người cao tuổi Việt Nam theo quy định của Điều lệ Hội;
i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Luật quy định rõ việc phụng dưỡng, chăm sóc NCT trong mọi lĩnh vực; Việc chúc thọ,
mừng thọ, tổ chức tang lễ; Phát huy vai trò của NCT Việt Nam…
- Chủ đề chính của Tháng hành động quốc gia về dân số và Ngày Dân số Việt
Nam 26-12 năm nay là “Già hóa dân số - những thách thức trong chăm sóc người cao
tuổi (NCT)”.
Nhiều quy định nhằm khuyến khích NCT tham gia hoạt động Xh Số: 127/2011/TT-
BTC. Quy định mức thu phí thăm quan di tích văn hoá, lịch sử, bảo tàng, danh lam thắng cảnh
đối với người cao tuổi.
VI- LUẬT PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
5. 1. Luật phòng chống hội chứng miễn nhiễm mắc phải ở người (Luật phòng
chống HIV/AIDS)
1.1. Luật số 64/2006/QH11 của Quốc hội : Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra
hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
Luật có tên: LUẬT PHÒNG, CHỐNG NHIỄM VI RÚT GÂY RA HỘI CHỨNG SUY
GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI Ở NGƯỜI (HIV/AIDS) CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ 64/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM
2006
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 10
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội

5.3. Pháp lệnh phòng chống mại dâm
Pháp lệnh Số: 10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 14 tháng 03 năm 2003 của Ủy Ban
Thường vụ Quốc Hội về Phòng, chống mại dâm. Để góp phần bảo vệ truyền thống văn hoá tốt
đẹp của dân tộc, danh dự, nhân phẩm của con người, hạnh phúc gia đình, giữ gìn trật tự, an
toàn xã hội, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, xây dựng và phát triển con người Việt Nam;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được
sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội
khoá X, kỳ họp thứ 10;
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 11
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
Căn cứ vào Nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Quốc hội
khóa XI, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá
XI (2002-2007) và năm 2003;
Pháp lệnh này quy định về phòng, chống mại dâm,
Pháp lệnh gồm có: 6 chương, 41 điều
Pháp lệnh do Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An ký
5.4. Kế hoạch phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em 2004-2010
5.4.1.Chỉ thị Số: 1408/CT-TTg ngày 01 tháng 09 năm 2009 của Thủ tướng Chính
phủ về Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Sau gần mười năm thực hiện Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam
giai đoạn 2001 – 2010, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối
hợp của các ngành, đoàn thể, sự chăm lo cho trẻ em của mỗi gia đình, cộng đồng, công tác
bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ; đã đạt hoặc vượt nhiều
mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2010 về chăm sóc sức khỏe, giáo dục cho trẻ em.
Tuy nhiên, trên thực tế, một số quyền của trẻ em chưa được thực hiện tốt, một số chỉ
tiêu đến năm 2010 về bảo vệ trẻ em của Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt
Nam giai đoạn 2001 – 2010 (Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26 tháng 02 năm 2001 của
Thủ tướng Chính phủ) và Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang,
trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy

quan liên quan hướng dẫn các địa phương bố trí người làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
ở xã, phường, thị trấn.
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
và các cơ quan liên quan
10. Bộ Tài chính:
11. Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và các cơ quan thông tin đại
chúng khác tăng thời lượng phát sóng, số lượng bài viết và nâng cao chất lượng tuyên truyền
về bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong các chương trình, chuyên trang, chuyên mục.
12. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
13. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đặc biệt là Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt
Nam, Hội Người cao tuổi Việt Nam, tăng cường tuyên truyền, vận động hội viên và các tầng
lớp nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc
trẻ em; vận động hội viên tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
14. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm
thi hành Chỉ thị này; hàng năm, báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị gửi Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ
thị; hàng năm, tổng hợp tình hình thực hiện Chỉ thị để báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.
5.4.2. Ngoài ra còn có các văn bản liên quan như sau: Ngày 17/3/2010 Ủy Ban
Nhân dân Thành Phố Hà Nội ra văn bản số 32/KH-UBND: Kế hoạch thực hiện chương
trình hành động, chống tội phạm buôn bán người năm 2010
Được sự quan tâm chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố, sự nỗ lực của Cơ
quan thường trực, sự phối, kết hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các tổ chức, đoàn thể xã
hội, công tác phòng, chống tội phạm buôn bán người nói chung và buôn bán phụ nữ, trẻ em
năm 2009 nói riêng đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, nằm trong xu thế, tình
hình chung của khu vực và của đất nước, tình hình buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ
nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn tiềm ẩn phức tạp, khó lường.
Năm 2010 là năm cuối thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm

c) Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;
5. Uỷ quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội;
6. Yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin quy định tại điểm h khoản 1
Điều 18; yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin quy định tại khoản 11 Điều 20
của Luật này;
7. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;
8. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Áp dụng Luật BHXH:
VD: Chị A đang dạy ở trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đắk Lắk, là giáo viên
hợp đồng từ đầu năm 2013 nhưng cho đến nay nhà trường vẫn không đóng BHXH cho các
giáo viên như chị. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 Luật bảo hiểm xã hội (BHXH) thì
người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, gồm nhiều đối tượng,
trong đó có người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng có
thời hạn từ 3 tháng trở lên không chỉ có cán bộ, công chức, viên chức mới tham gia BHXH
bắt buộc.
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 14
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
Theo khoản 2 Điều 1 Luật BHXH, người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc
bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp
Chiếu theo quy định trên, Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Đắk Lắk phải có
trách nhiệm tham gia đóng BHXH bắt buộc cho chị.
Theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 18 Luật BHXH, thì người sử dụng lao động
có trách nhiệm lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng BHXH.
Vì vậy, chị có quyền làm đơn gửi đến giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên
tỉnh Đắk Lắk để yêu cầu Trung tâm thực hiện trách nhiệm tham gia đóng BHXH cho chị.
Trong trường hợp giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Đắk Lắk vẫn không giải
quyết yêu cầu của chị, căn cứ theo Điều 130, 131 Luật BHXH, chị có quyền làm đơn khiếu
nại về hành vi hoặc quyết định của Trung tâm không thực hiện trách nhiệm lập hồ sơ để bạn
được cấp sổ, đóng và hưởng BHXH gửi đến giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên để

kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012.
Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 2013.
Quyền và nghĩa vụ của người lao động
1. Người lao động có các quyền sau đây:
a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề
nghiệp và không bị phân biệt đối xử;
b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử
dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ
sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;
c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác
theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực
hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;
d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật;
đ) Đình công.
2. Người lao động có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể;
b) Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của
người sử dụng lao động;
c) Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.
Áp dụng luật lao động:
Ví dụ: Anh Phạm Văn M làm việc cho Công ty liên doanh S theo hợp đồng lao động
có xác định thời hạn là 24 tháng. Mấy tháng nay, anh M không được trả lương đúng thời hạn
như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, do vậy Công ty liên doanh S là bên đã vi phạm
quy định hợp đồng lao động đã ký với anh M. Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động
có hiệu lực thi hành 01/05/2013 thì anh M có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước
thời hạn nếu anh không được trả công đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng". Cụ thể
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo
mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.( TS. Lê Chi Mai)
3. Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đưổi bởi một
hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm.( James Anderson. Hoạch
định chính sách công, Houghton Mifflin, 1990, tr.5.)
4. Chính sách là tập hợp biện pháp của một chủ thể quản lý, tạo ra sự đối xử khác
nhau giữa các nhóm trong một hệ thống xã hội, nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển chung
của toàn hệ thống.”
Như vậy, khi nói đến chính sách, luôn có các yếu tố sau:
Một chủ thể tạo dựng và thực thi chính sách
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 17
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
Các nhóm xã hội khác nhau bị tác động bởi chính sách.
Một chính sách phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội
Mục tiêu phát triển chung của toàn hệ thống.
Khoa học chính sách là một ngành khoa học vận dụng một cách tổng hợp các tri thức
và phương pháp để nghiên cứu hệ thống chính sách và quy trình chính sách, tìm ra thực chất,
nguyên nhân và kết quả của chính sách, cung cấp những kiến thức liên quan đến chính sách
nhằm mục đích cải tiến hệ thống chính sách và nâng cao chất lượng của chính sách.( TS. Lê
Chi Mai)
Từ những đĩnh nghĩa và phân tích khái niệm như trên về chính sách và xã
hội ta có thể đi đến cách tiếp cận sau về chính sách xã hội. “cái xã hội” dùng trong chính sách
xã hội là “cái xã hội” theo nghĩa hẹp. Nó đang được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất hiểu
như mối qua hệ của con người, của các cộng đồng người thể hiện trên nhiều mặt của đời sống
xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng . Điều này không có nghĩa là “ cái xã hội” theo
nghĩa hẹp là cái bao trùm, chứa đựng mọi quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng mà
chính xác hơn, nó chính là yếu tố con người , là khía cạnh nhân văn của tất cả những mối
quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng ấy. như vậy cái xã hội theo nghĩa hẹp chính là
mục tiêu, là mục đích của tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng của con
người. Quan hệ giữa “cái xã hội” theo nghĩa hẹp với cái “ kinh tế” “ chính trị” “ văn hóa” “ tư

5. Chính sách trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải là thành tựu của
những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội , trả lời những câu hỏi của cuộc sống, ở
dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này. Chính sách xã hội cần được xem xét như một lĩnh
vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận động của thực tiễn, khoa học nghiên cứu về chính
sách xã hội cần phải mạnh dạn trả lời những câu hỏi đặt ra từ thực trạng kinh tế xã hội nước ta
hiện nay.( GS. Phạm Như Cương.)
Từ định nghĩa về chính sách xã hội nêu trên có thể thấy rằng khái niệm chính
sách xã hội bao gồm những yếu tố cơ bản hợp thành sau đây:
1. Chủ thể đặt ra chính sách xã hội: tổ chức chính trị lãnh đạo. ÔÛ nước ta là
Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động xã hội.
2. Nội dung các chính sách xã hội dựa trên những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và
thể chế nào?
3. Các đối tượng của các chính sách xã hội ( chung, riêng, đặc biệt)
4. Những mục tiêu nhằm đạt tới.
Hay nói cách khác là cần trả lời bốn câu hỏi sau:
1. Ai đặt ra chính sách xã hội?
2. Đặt chính sách xã hội cho ai?
3. Nội dung của các chính sách xã hội là gì?
4. Chính sách xã hội nhằm mục đích gì?
Như vậy có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, các biện
pháp của nhà nước, của các đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thoả mãn nhu cầu vật
chất và tinh thần của nhân dân phù hợp với trình độ phát triển của đất nước về kinh tế, văn
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 19
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
hoá, xã hội … Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.
2. Khái niệm cơ sở xã hội
Cơ sở an sinh xã hội là một cơ sở trong đó các công việc quản trị được thực hiện để
đạt một mục đích xã hội.

cứu.
Sự phát triển của đời sống xã hội luôn luôn kéo theo nó sự phát triển của lý luận về
các đối tượng chính sách xã hội và đây không phải là lĩnh vực độc quyền của bất cứ nước nào
hoặc học thuyết tư tưởng, chính trị nào. Ở đây luôn luôn có sự cọ sát, đấu tranh, kế tụcm thâm
nhập lẫn nhau tạo nên sự phát triển của các quan điểm lý luận đó.
Vấn đề quan trọng là chúng ta cần nắm bắt đầy đủ những thông tin mới nhất về các
quan điểm, lý luận đó với các đối tượng chính sách xã hội ( điều này ở nước ta hiện nay còn
có nhiều hạn chế ) để trên cơ sở đó, phân tích đưa ra những quan điểm, lý luận độc lập của
chúng ta, không giáo điều, sao chép máy móc những luận điểm của bên ngoài, nhưng cũng
tránh thái độ biệt phát gạt bỏ tất cả những quan điểm lý luận mới. Nói một cách khác là tiếp
thụ những quan điểm lý luận mới trên tinh thần phê phán và từ thực tiễn của ta góp phần phát
triển lý luận. Căn cứ vào những khái niệm và khung lý thuyết mới đó để tìm ra những nội
dung tương hợp với đề tài nghiên cứu của mình và nội dung những công trình nghiên cứu của
mình và nội dung những công trình nghiên cứu cũng về đề tài đó đã được công bố.
3. Xác định mục tiêu nghiên cứu: mục tiêu nghiên cứu phải hết sức rõ ràng, tránh
tham lam, mở quá rộng, cuối cùng không ôm xuể, tổng kết gặp khó khăn. Do đó, trong quá
trình nghiên cứu đề tài, cần luôn luôn đối chiếu với mục tiêu đã đề ra để không đi chệch
hướng và có những điều chỉnh cần thiết.
4. Lựa chọn chiến lược: nên thoáng, có nhiều chiến lược khác nhau được đưa ra
phân tích, so sánh, mỗi chiến lược đều có quan điểm của mình dựa trên những luận cứ khoa
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 21
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
học vững vàng. Qua việc tranh luận, cọ sát giữa các chiến lược, tìm ra được chiến lược tối ưu,
hội tụ được tương đối đầy đủ các điều kiện cần và đủ để thực thi chiến lược.
5. Xây dựng chương trình, dự án: đây là bước quan trọng nhất, phải được chuẩn
bị công phu vì chương trình, dự án không chỉ còn là một số tư tưởng chỉ đạo chung mà phải đi
vào rất chi tiết, cụ thể. Điều khó đối với các chính sách xã hội là ở chỗ đây là những vấn đề
thuộc con người, mà con người thì không phải là một con số, không thể nào định lượng được
đầy đủ, chính xác tâm lý, tình cảm, nhận thức và phản ứng xã hội của họ.

huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng.
1. Các khái niệm công cụ
- An sinh nhi đồng
Trong ngành công tác xã hội, an sinh nhi đồng là một lĩnh vực chuyên môn được
cộng đồng thừa nhận, nó chú trọng tới một nhóm dân số đặc biệt đang cần các dịch vụ để đáp
ứng một số tình huống đặc biệt hoặc để giải quyết những vấn đề xã hội. Hệ thống an sinh nhi
đồng có trách nhiệm ngăn ngừa, giảm nhẹ hoặc giữ không cho vấn đề hay tình huống trở nên
tệ hại thêm làm ảnh hưởng đến trẻ em.
Nhằm mục đích tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em, dịch vụ an sinh nhi
đồng nhắm tới :
+ Việc trợ giúp gia đình để có thể chăm sóc trẻ như hỗ trợ về tài chánh, học bổng, tín
dụng …
+ Hỗ trợ cha mẹ để đảm bảo và tăng cường khả năng chăm sóc trẻ như cung cấp dịch
vụ tham vấn, công tác xã hội cá nhân, tập huấn kỹ năng
+ Thay thế chức năng và vai trò của gia đình như lập con nuôi, nuôi hộ, cơ sở nuôi tập
trung.
Như vậy, "An sinh nhi đồng bao gồm những chính sách, luật pháp, chương trình, hoạt
động có ảnh hưởng đến sự an sinh chung của trẻ em". [15,tr2]
Chúng tôi nhất trí với định nghĩa về An sinh nhi đồng của bà Nguyễn Thị Nhẫn và
trong nghiên cứu đề tài "An sinh nhi đồng cho trẻ em nghèo tại xã Bát Trang, huyện An Lão,
thành phố Hải Phòng", chúng tôi sử dụng định nghĩa: "An sinh nhi đồng bao gồm những
chính sách, luật pháp, chương trình, hoạt động có ảnh hưởng đến sự an sinh chung của trẻ
em".
- Trẻ em:
Có rất nhiều định nghĩa về trẻ em, theo điều 1 Công Ước Quốc Tế về Quyền
Trẻ Em: "Trẻ em là những người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp của một quốc gia qui
định tuổi trưởng thành thấp hơn".[24, tr19]
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam khái niệm về trẻ em được
diễn đạt là: "trẻ em được hiểu là người có độ tuổi dưới 16 tuổi". [7]
Chúng tôi đồng ý với quan điểm "Trẻ em được hiểu là người có độ tuổi dưới 16 tuổi ".

2. Nhu cầu của trẻ em
Trong tiến trình tồn tại và phát triển của con người nói chung, trẻ em nói riêng, bất kỳ
ai cũng có nhu cầu và mong muốn. Hiện nay có khá nhiều tài liệu đã chỉ ra nhu cầu của trẻ
em, sau đây tôi xin được đưa ra một số quan điểm của các nhà chuyên môn để rút ra được
quan điểm chung về nhu cầu của trẻ em:
- [15, tr15] Tác giả Nguyễn Thị Nhẫn đã viết về vấn đề "Trẻ em và nhu cầu phát triển"
như sau:
+ Nhu cầu cơ bản : ăn, mặc, chỗ ở.
+ Nhu cầu được yêu thương và an toàn.
+ Nhu cầu được chấp nhận, được khen thưởng.
+ Nhu cầu có những kinh nghiệm mới.
+ Nhu cầu lãnh trách nhiệm.
+ Nhu cầu được giáo dục, học tập.
- Theo "An sinh xã hội và các vấn đề xã hội" - ĐH Mở bán công Thành phố Hồ Chí
Minh, 1997 [16, tr19] :
+ Nhu cầu cơ bản của trẻ là nhu cầu để được sống còn: có đủ cơm ăn áo mặc, chỗ trú
thân, mạng sống an toàn và nhất là có được đủ tình thương để còn muốn sống.
+ Nhu cầu được bảo vệ: vì sự yếu mềm và chưa đủ kinh nghiệm của trẻ mà cũng vì
những khó khăn do thế giới người lớn tạo ra.
+ Nhu cầu được phát triển.
+ Nhu cầu được tham gia vào đời sống chung trong xã hội và nhất là những gì có liên
quan mật thiết tới trẻ.
- Trong giáo trình "Công tác xã hội", tác giả Lê Văn Phú có quan điểm về nhu cầu
chung của trẻ như sau [17, tr99]:
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 24
Bài thảo luận nhóm 2: Thiết lập chính sách trong một cơ sở an sinh xã hội
+ Trước hết, đó là nhu cầu về vật chất phục vụ cho việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc
sức khỏe nói chung lại đó là những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển thể lực của trẻ.
+ Nhu cầu có một tổ ấm gia đình là chỗ dựa về cả mặt vật chất và tinh thần của trẻ, là

Xã Bát Trang thuộc huyện An Lão, một huyện nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải
Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 25km.
Xã có diện tích tự nhiên khoảng 1217,45ha, phía Bắc giáp huyện Kim Thành; phía Tây
giáp huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, phía Đông giáp xã Trường Thọ, phía Nam giáp xã Quang
Hưng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Điều kiện xã hội
Bát Trang là một xã thuần nông có tổng số 2898 hộ gia đình gồm 10.260 nhân khẩu,
trong đó có 307 hộ nghèo với 625 nhân khẩu.
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – lớp QH2012- CTXH 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status