Kinh nghiệm của các nước trong điều trị và phục hồi chức năng bệnh nhân tâm thần phân liệt - Pdf 17

chuyên đề 2
kinh nghiệm của các nớc trong việc điều trị và
PHCN cho bệnh nhân tâm thần phân liệt
tình hình nghiên cứu trong
và ngoài nớc
1
chuyên đề 2
Kinh nghiệm của các nớc trong điều trị và phục
hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần phân liệt
tình hình nghiên cứu trong và ngoài nớc
1.1. Khái quát về bệnh nhân tâm thần phân liệt
1.1.1. Lịch sử phát triển của ngành tâm thần học
Trên thế giới
Lịch sử nghiên cứu bệnh TTPL thực chất là lịch sử phát triển về
những khái niệm và các hội chứng bệnh lý tâm thần. Bệnh TTPL có từ khi
loài ngời xuất hiện [42, 55], việc phân loại và thống nhất các quá trình bệnh
lý của TTPL có một lịch sử lâu dài. Các tác giả ngày xa đã mô tả các thể
khác nhau, đã nêu lên các trạng thái mà cho đến nay gọi là bệnh TTPL.
Thời Trung cổ
Cuối thời Trung cổ, ngời bệnh bị xem là do ma quỉ nhập. Phần lớn những
bệnh nhân tâm thần đợc tập trung vào các tu viện và các nhà cứu tế, họ bị
đối xử rất tàn bạo và nhiều khi còn bị đánh chết hoặc thiêu sống.
Thế kỷ 18 và 19
ở Pháp, dới ảnh hởng của cách mạng t sản, những quan điểm duy vật
và khoa học về bệnh tâm thần bắt đầu chiếm u thế. Esquirol sơ bộ phân loại
các bệnh tâm thần, thực hiện chế độ làm bệnh án và theo dõi ngời bệnh
hàng ngày. Về sau xuất hiện nhiều nhà tâm thần học nổi tiếng nh: Charcot
với lâm sàng ngời bệnh Hysteria, Morel (1857) mô tả chứng mất trí sớm
(Dementiapraecox) ở ngời trẻ tuổi mà ông cho rằng do suy thái di truyền
[9], cũng từ đó Morel và Magnan bắt đầu đặt nền tảng cho nghiên cứu vai
trò của di truyền trong việc phát sinh các bệnh tâm thần .

loạn thần cấp có nhiều nét lâm sàng phù hợp với bệnh TTPL tiến triển cấp,
3
ông đã tập trung vào nghiên cứu giải phẫu vi thể và các quá trình sinh lý
của não để đi sâu vào bản chất của bệnh tâm thần và chứng minh luận điểm
bệnh tâm thần là bệnh của não bộ và toàn cơ thể, ông nghiên cứu kỹ bệnh
loạn thần do rọu và bệnh này gọi là bệnh "loạn thần Coocxacôp".
Từ thế kỷ 20
Năm 1911, Bleuler căn cứ vào sự phân tích các diễn biến lâm sàng
của các ca ''mất trí sớm'' đã chỉ ra rối loạn chủ yếu của bệnh là sự chia cắt
về mặt tâm thần, ông đề xuất tên gọi mới là bệnh TTPL (Schizophrenia) với
hội chứng 4 chữ A đặc trng. Từ đó thuật ngữ này nhanh chóng đợc nhiều n-
ớc thừa nhận và đợc dùng đến ngày nay [42]. Năm 1939, Schneider đã nêu
một loạt các triệu chứng hàng đầu đặc trng cho bệnh TTPL nh: Hoang tởng
bị chi phối, t duy vang thành tiếng, ảo thanh có nội dung bình phẩm hay ra
lệnh cho BN, những biểu hiện của tâm thần tự động
Năm 1968, trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8, TTPL đợc
xếp vào mục 29 mang mã số 29.5 [6].
Năm 1992, trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD - 10)
TTPL đợc xếp vào chơng F2 mục F20 [26].
Ngày nay, nhiều chuyên gia tâm thần học quan niệm rằng:TTPL là
một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ, có khuynh hớng mạn tính, căn
nguyên cha rõ ràng, làm biến đổi nhân cách ngời bệnh một cách sâu
sắc: Ngời bệnh tách dần ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới
bên trong (thế giới tự kỷ), tình cảm trở lên khô lạnh dần, khả năng làm việc,
học tập ngày một giảm sút, có những hành vi kì dị, khó hiểu [37, 39].
Tại Việt Nam.
Trong những thế kỷ trớc, nớc ta không có một cơ sở chữa bệnh tâm
thần, không có thầy thuốc và không có sách báo tài liệu về tâm thần.
4
Thời kỳ thực dân Pháp xâm chiếm nớc ta, có xây dựng 2 nhà thơng

Pháp (FIFP), và nhiều Hội tâm thần trên thế giới nh: Thuỵ Điển, Hà Lan,
Phần Lan, Pháp đợc mời đại biểu tham dự các hội nghị quốc tế ở Manila,
Hà Lan, Nhật Bản, Pháp đã gửi nhiều bác sĩ đi tu nghiệp ở nớc ngoài và tổ
chức nhiều cuộc hội thảo có sự tham gia của các chuyên viên quốc tế tại Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh [42].
Ngành tâm thần học nớc ta ra đời rất muộn so với ngành tâm thần
học của nhiều nớc trên thế giới, lại phải gặp phải hoàn cảnh chiến tranh ác
liệt nhng đã đi đúng hớng và phát triển nhanh chóng. Tuy vậy, ngành còn
có nhiều khó khăn trong việc thực hiện tốt công tác CSSKTT cộng đồng đặc
biệt là xây dựng chính sách và dịch vụ CSSKTT cộng đồng.
1.1.2. Dịch tễ học bệnh tâm thần phân liệt
Thế giới
Mặc dù đã có một thế kỷ nghiên cứu, dịch tễ học bệnh tâm thần phân
liệt trên thế giới vẫn còn nghèo nàn, các số liệu khác nhau tuỳ nơi, tuỳ lúc,
nhiều khi khác nhau giữa các tác giả, các trờng phái trong cùng một nớc.
Trong nghiên cứu dịch tễ học các rối loạn tâm thần nói chung và bệnh
TTPL nói riêng, WHO luôn đóng vai trò quan trọng, đề xuất chủ trơng
nghiên cứu dịch tễ học, huy động nguồn lực để tiến hành nghiên cứu tầm cỡ
quốc tế, đặc biệt là về bệnh TTPL
Trong những năm 1960, WHO tiến hành nghiên cứu thí điểm trên qui
mô quốc tế về bệnh tâm thần phân liệt tại 9 trung tâm với dân số
35.132.000 ở 9 nớc, với tổng số BNTTPL là 1.202 ở lứa tuổi từ 15 đến 54
nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu dịch tễ học TTPL [24].

6
Bảng 1.1. Tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt
WHO 0,48% - 0.96% dân số [26]
1% dân số [36, 42]
Sjogren (Thuỵ Điển) 0,6% dân số
Fremming (Đan Mạch) 0,88% dân số

12 năm 1956 mới thành lập khoa tinh-thần kinh BV Bạch Mai và từ đó Tâm
thần học mới đợc giảng dạy ở Trờng Đại học Y khoa Hà Nội [42].
Từ những năm 1964 đến nay, Việt Nam đã có trên 50 công trình điều tra
cơ bản về bệnh tâm thần. Tuyệt đại đa số các công trình tiến hành điều tra
đồng thời từ 2 - 10 loại bệnh tâm thần khác nhau, trong đó có mục bệnh
TTPL Các điều tra đã đợc tiến hành trên nhiều miền khác nhau
(Bắc, Trung, Nam), nhiều vùng khác nhau (nông thôn, thành thị, đồng bằng,
miền núi) [23, 24].
Các điều tra dịch tễ lâm sàng bệnh TTPL có thể phân thành 3 loại theo cỡ
mẫu, phơng pháp nghiên cứu và tiêu chuẩn chẩn đoán.
Loại thứ nhất : Điều tra tại các xã, phờngvới 300 - 500 dân. Là các điều tra
dựa vào cán bộ, nhân dân địa phơng phát hiện giúp sau khi nghe phổ biến
kiến thức cơ bản về các bệnh tâm thần. Các điều tra lập bàn khám tâm thần
sau khi thông báo cho nhân dân về mục đích nghiên cứu. Các điều tra dựa
vào số BN đến khám và chữa bệnh ở đội ngoại viện. Kết quả các điều tra
loại này cho tỷ lệ bệnh TTPL là: 0,15% - 0,23% dân số (tỷ lệ thấp so với
quốc tế ) [23, 24].
8
Loại thứ hai: Gồm các nghiên cứu tại xã, phờng với 4.000 - 10.000 dân, dựa
vào điều tra từng hộ. Bao gồm: Điều tra Handicap tâm thần của
Trần Văn Cờng và CS ở xã Hoà Bình năm 1981, điều tra các bệnh tâm thần
ở Khoái Cầu năm 1981 của Nguyễn Văn Siêm và CS, điều tra Handicap tâm
thần ở 4 xã, phờng Hà Nội năm 1981 của Lã Thị Bởi và CS, điều tra một số
bệnh tâm thần ở Tân Mai năm 1985 của Nguyễn Thị Mai và CS, điều tra
của Nguyễn Thị Mai và CS năm 1987, về các bệnh nhân tâm thần ở phờng
Lê Đại Hành - Hà Nội. Các công trình loại này cho biết tỷ lệ mắc bệnh
TTPL là 0,3% - 0,37% dân số. Hạn chế loại này là chỉ có 80% - 90% dân số
đợc điều tra theo báo cáo. Vì nhận thức không đúng hoặc mặc cảm về bệnh
TTPL, gia đình không khai sự thật, BN tâm thần lại phủ định bệnh, không
chịu đi khám nên trong 10% - 20% dân số không đợc điều tra này có thể có

tiến triển và tiên lợng bệnh. Tại các địa điểm nghiên cứu loại này, BN tâm
thần đợc tổ chức chăm sóc cấp thuốc tại xã, theo dõi và đánh giá.
Theo Nguyễn Viết Thiêm (1995), Pineruaschuhaibar (1992) nhận
thấy: Trong số BN tâm thần điều trị nội trú tỷ lệ BNTTPL chiếm
14,1% - 61,2% [30].
Tại các cơ sở chuyên khoa có tới 80% - 90% số BN nằm viện là
BNTTPL và 70% - 80% số BN đến khám là BNTTPL [24].
Theo Nguyễn Việt (1990), TTPL chủ yếu là bệnh ở tuổi trẻ, đa số các
trờng hợp phát bệnh từ 15 - 25 tuổi [37]. Cũng với nhận định này, Nguyễn
Viết Thiêm (1995) cho biết lứa tuổi thờng gặp của bệnh nhân TTPL là 16
đến 35 chiếm 65,9% [30].
Giới tính: Nguyễn Viết Thiêm, Nguyễn Đăng Dung, Geddes và
Black J. 1993 cho biết: ở tuổi trởng thành tỷ lệ BN nam/BN nữ
tơng đơng nhau [12]. Nguyễn Việt, Trần Viết Nghị và CS cũng
nhận xét tơng tự: Giới nam và nữ cho tỷ lệ xấp xỉ nh nhau [38]. Tuy nhiên
10
một số tác giả khác lại cho kết quả tỷ lệ mắc ở giới nam cao hơn so với giới
nữ nh:Nguyễn Văn Siêm, Bùi Thế Khanh, La Đức Cơng và Trần Cao Cờng.
1.1.3. Bệnh nguyên - bệnh sinh bệnh tâm thần phân liệt
Mặc dù đã có hơn một thế kỷ, với rất nhiều các công trình nghiên cứu về
bệnh sinh - bệnh nguyên của bệnh TTPL nhng cho đến nay vấn đề vẫn cha
đợc chứng minh rõ ràng. Nhiều tác giả đã đi đến thống nhất bệnh TTPL do
nhiều nguyên nhân gây ra, do sự tác động qua lại của các nhân tố thuộc tính
cơ thể (yếu tố bẩm sinh) với các nhân tố ngoại lai. Các giả thiết có thể tóm
tắt nh sau:
Yếu tố di truyền
Nhiều công trình khoa học đã khẳng định vai trò của yếu tố di truyền trong
bệnh TTPL.
Kallmann (1967), nghiên cứu trên trẻ sinh đôi cùng trứng là 59,2% [42].
Debray J. (Pháp) cũng cho kết quả tơng tự: Nguy cơ bị TTPL chỉ có

Một số công trình khác đi sâu nghiên cứu rối loạn chuyển hoá chất
cathecholamine, serotonin, GABA trong bệnh TTPL. Meltzer H. (1980),
Morovkin (1988), cho rằng bệnh TTPL là do rối loạn chuyển hoá các chất
hoá học thần kinh trung gian cathecholamine và hệ dopaminergic [49].
Yếu tố ngoại lai
Bệnh TTPL có thể bị phát sinh sau khi bị nhiễm trùng, sau khi đẻ hay
sau các sang chấn tâm thần. Có những ý kiến cho rằng bệnh TTPL có
nguyên nhân nhiễm trùng nh: Lao, giang mai (tác giả Pháp: Marchand,
Leroy, Fursac, Abely), nhiễm trực khuẩn Coly (Claude và Baruk), nhiễm
siêu vi trùng (Marchand ở Pháp, Moroxov ở Liên xô, bệnh viện Buscaino ở
12
ý). Crow và CS (1979), chứng minh đợc sự hiện diện của một vi rút tác
dụng chậm trong dịch não tuỷ của 18/47 BNTTPL.
Có quan điểm cho rằng bệnh TTPL là do sự nhiễm độc (Korsakov,
Kraepelin). Trạng thái những phản ứng miễn nhiễm ở ngời bệnh TTPL đã đ-
ợc Semenov nghiên cứu ở Liên Xô cũ [42].
Các yếu tố tâm lý xã hội, các rối loạn cấu trúc và xung đột gia đình,
các biến đổi văn hoá xã hội cũng đóng góp một vai trò nhất định trong bệnh
TTPL [45, 46].
1.1.4. Chẩn đoán và điều trị bệnh TTPL
Chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo WHO năm 1992, chính thức công bố
ICD - 10F (bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 phần F). Theo ICD - 10F
chẩn đoán TTPL phải dựa vào các tiêu chuẩn sau đây [27]:
Về lâm sàng: Có 9 nhóm triệu chứng đặc trng của bệnh
(a) T duy vang thành tiếng, t duy bị áp đặt hay bị đánh cắp, t duy bị phát
thanh.
(b)Các hoang tởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động có liên quan rõ rệt
tới vận động của cơ thể hoặc liên quan tới ý nghĩ, hành vi, cảm giác đặc
biệt của BN hay tri giác hoang tởng.

hợp hoặc phối hợp có hiệu qủa hơn. Trong những liệu pháp trên thì liệu
pháp hoá dợc là quan trọng nhất, nó là nền tảng cho việc áp dụng các liệu
pháp khác [13, 16, 35, 37, 42].
Liệu pháp hoá d ợc
Năm 1950 Charpentier đã tổng hợp đợc Chlorpromazine trong quá trình
tìm kiếm một chất kháng Histamine mới để sử dụng thuốc gây mê. Laborit
báo cáo khả năng gây ngủ của chất này. Sau đó Paraire và Sigwald (1951),
14
Delay và Deliker (1952), Lebmann và Hanranan(1954), đã ghi nhận các tác
dụng của Chlorpromazine đối với các bệnh tâm thần. Chlorpromazine
nhanh chóng đợc các nhà tâm thần Mỹ sử dụng và dẫn tới sự ra đời của các
thuốc khác có tác dụng tợng tự nh Haloperidol đợc phát hiện bởi Janssen
năm 1958 [42]. Sự ra đời của Chlorpromazine đã làm thay đổi hẳn bộ mặt
Tâm thần học, kiến trúc BV thay đổi về cơ bản, tiên lợng bệnh nhân đã khả
quan hơn nhiều. Ngời bệnh có thể điều trị và phục hồi
chức năng tại cộng đồng [7, 14, 16].
Có nhiều cách phân loại các thuốc hớng thần tuỳ từng tác giả, đại đa số
các tác giả thống nhất chia làm 4 nhóm chính [14, 24, 42]:
Nhóm an thần kinh (Neuroleptiques).
Nhóm thuốc bình thản (Transquillsants).
Nhóm thuốc hng thần (Psychoanaleptiquets).
Nhóm thuốc loạn thần (Psychodysleptiquets).
Các nguyên tắc sử dụng thuốc
Trớc khi dùng thuốc cần khám xét kỹ về lâm sàng, cận lâm sàng để
xác định chẩn đoán và có chỉ định phù hợp, đặc biệt để loại trừ các trờng
hợp chống chỉ định.
Chọn thuốc và liều lợng thuốc phải phù hợp với từng bệnh nhân. Hạn
chế việc kết hợp nhiều loại thuốc hớng thần để tránh tác dụng phụ do phối
hợp nhiều loại thuốc khác nhau.
Theo dõi hiệu lực của thuốc để thay đổi thuốc cho thích hợp, nhất là

1.2.1. Trên thế giới
Bệnh TTPLcó từ khi loài ngời xuất hiện, nhng trong một thời gian dài
việc tổ chức quản lý và điều trị bệnh cho họ hoàn toàn không có [42].
16
Thời Trung cổ
Cuối thời kỳ này, xã hội t bản phát triển yêu cầu phải loại trừ những
ngời bệnh tâm thần ra khỏi thành phố đã đợc đặt ra. Phần lớn các bệnh nhân
tâm thần đã đợc tập trung vào các tu viện và các nhà cứu tế. ý thức thống trị
đơng thời là giáo hội. BN bị đối xử bằng biện pháp tàn bạo, khoá mồm để
không kêu gào đợc, làm cho họ nôn mửa, trói vào ghế để họ kiệt sức không
kích động đợc, nhiều khi còn bị thiêu sống [42].
Cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX:
Thái độ đối với ngời bệnh tâm thần bắt đầu đợc cải thiện.
Xuất hiện các cơ sở điều trị chuyên khoa cho các BN tâm thần là bớc phát
triển đáng kể trong sự phát triển của nền văn hoá. Tuy nhiên, việc giam giữ
ngời bệnh trong các nhà chứa "điên" mang tính chất tàn bạo và vô nhân đạo
vẫn tồn tại. Thờng thì ngời bệnh bị nhốt trong những buồng cách ly hẹp có
sàn bằng đá, có lỗ hở với chấn song sắt thay cho cửa sổ, rơm thay cho chăn
chiếu. BN nằm lẫn phân và nớc tiểu, đầy ngời lở loét [52].
ở Pháp: Dới ảnh hởng của cuộc cách mạng t sản Pháp,
những quan niệm duy vật và khoa học về bệnh tâm thần bắt đầu chiếm u
thế. Năm 1792, nhà tâm thần học ngời Pháp là Pinel P. đã giải phóng ngời
bệnh tâm thần khỏi xiềng xích và đề xuất việc cải tạo nhà cứu tế ngời bệnh
thành những BV tâm thần. Esquirol đã kế tục sự nghiệp đó,
sơ bộ phân loại các BN tâm thần, thực hiện chế độ làm bệnh án và theo dõi
ngời bệnh hàng ngày. ảnh hởng của Pinel và Esquirol đã thúc đẩy phong
trào cải cách các BV tâm thần [41, 52].
ở Anh, Conolly J. (1839), tiếp tục cuộc cải cách do Pinel P. khởi x-
ớng và đề xuất hệ thống không tù túng (no restraint system) [52].
ở Nga, năm 1723, Pie đệ nhất đã chỉ thị cho xây dựng những quân y

18
bang đã ký một chính sách quốc gia về sức khoẻ tâm thần, trong đó nhấn
mạnh cần tăng cờng CSSKTT tại cộng đồng. Nhiều BV lớn chứa vài trăm
BN đặ xa nơi dân c đã đóng cửa, xuất hiện ngày càng nhiều những khoa
tâm thần có từ 20 - 50 giờng bệnh nằm trongcác BV đa khoa. Mỗi đơn vị
nh vậy phục vụ cho khoảng 200.000 - 500.000 dân. BN cấp tính đợc điều trị
tại đây một thời gian trung bình khoảng 15 - 20 ngày, khi ổn định họ đợc đa
về nhà và tiếp tục điều trị tại cộng đồng, ở đó họ có những đội CSSKTT
phối hợp cùng gia đình BN để tiếp tục theo dõi và điều trị
ngời bệnh.
Công tác chẩn đoán và điều trị: Trong nhiều thể và nhiều giai đoạn của
bệnh TTPL không nhất thiết phải điều trị nội trú, mà chỉ cần chữa tại các
Dixpanxe. Trong các Dixpanxe có các phòng điều trị nội trú ban ngày,
có xởng lao động liệu pháp. Đối với các bệnh nhân không đến đợc
Dixpanxe thì thầy thuốc và y tá đến tận nhà BN để khám bệnh và
điều trị.
Tổ chức lao động và sinh hoạt xã hội: Dixpanxe tổ chức lao động cho
ngời bệnh, bảo trợ pháp lý, giúp đỡ trong sản xuất giải quyết đời sống
gia đình và các xung đột khác, nhằm duy trì ngời bệnh ở vị trí là một
thành viên có ích cho xã hội.
Công tác vệ sinh phòng bệnh: Tổ chức tuyên truyền giáo dục
phòng bệnh, nói chuyện tập thể, giải thích cho thân nhân ngời bệnh, làm
cho những thành viên trong gia đình và cộng đồng có đợc những kiến
thức cơ bản về bệnh tật và cách chăm sóc ngời bệnh tại nhà. Từ những
hiểu biết này, cộng đồng sẽ là những những ngời đầu tiên phát hiện ra
bệnh hoặc thấy những biểu hiện bất thờng ở ngời bệnh để kịp thời báo
cho Dixpanxe điều trị, nhờ đó có thể ngăn ngừa sự tái phát của bệnh
đồng thời hạn chế bệnh chuyển sang giai đoạn mãn tính.
19
Đăng kí, thống kê BN tâm thần vào sổ theo dõi và tỷ lệ mắc bệnh trong

lại [12]. Nhờ các hoạt động chăm sóc của những ngời thân trong gia đình
mà bệnh của họ đợc ổn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho BN
phục hồi chức năng sinh hoạt và tái hoà nhập với cộng đồng.
Trong các cơ quan chính phủ ở mức cộng đồng (xã, phờng) luôn có
những ngời đợc đào tạo đủ khả năng đóng góp, đáp ứng những nhu cầu về y
tế của cộng đồng. Ví dụ các nhà giáo, công an họ thờng chiếm một số l-
ợng đáng kể và luôn có sự tiếp xúc gần gũi với BN nơi họ thờng làm việc.
Các nhà giáo có thể có thể có ảnh hởng sâu sắc đối với gia đình BN và đối
với cả BN. Kinh nghiệm chỉ ra rằng: Các nhân viên công an đợc hớng dẫn
về sức khoẻ tâm thần và vận dụng kiến thức đó vào trong công việc của họ
tiếp xúc với cộng đồng, thì họ đóng một vai trò quan trọng trong việc phát
hiện và quản lý các rối loạn tâm thần [53, 55, 58].
Các tổ chức phi chính phủ nhìn chung và các nhân viên của tổ chức
này thờng rất nhiệt tình, năng nổ và linh hoạt, họ có thể đóng góp cho sự
nghiệp chăm sóc sức khoẻ ở tất cả các cấp, đặc biệt trong lĩnh vực CSSKTT
nói chung và cho các BNTTPL nói riêng, điều quan trọng là phải phát huy
các khả năng của họ.
Các nhân viên y tế cơ sở và những cán bộ đã có 2 - 3 năm đào tạo
chuyên ngành về y tế (y tá, y sĩ có thể cả bác sĩ nữa) họ làm việc tại các
trạm y tế xã và hoạt động phối hợp với các CTVYT hay còn gọi là các nhân
viên y tế thôn xóm.
21
Nhiệm vụ của họ là:
Phát hiện sớm các rối loạn tâm thần. Phát hiện những BN nặng cần phải
xử lí và điều trị kịp thời, đăng kí, quản lí lâu dài tại cộng đồng.
Theo dõi các BN đợc trả lại cộng đồng từ các BV, duy trì việc cấp thuốc
đều đặn cho các BN điều trị dài hạn.
Tiến hành tuyên truyền giáo dục sức khoẻ tâm thần, khuyến khích cộng
đồng tham gia vào các hoạt động nhằm giúp đỡ BNTTPL, tái hoà nhập
với cộng đồng.

Đặc biệt ở thành phố Hồ Chí Minh màng lới phòng và chữa bệnh tâm
thần phát triển khá nhanh chóng. 17/18 quận, huyện (trừ huyện Duyên Hải)
đã có phòng khám bệnh. Các quận 3, 4, 8, 10, Phú Nhuận còn tổ chức đợc
trạm ban ngày. Sở Lao động, thơng binh và xã hội cũng xây dựng đợc một
khu nuôi dỡng ngời bệnh tâm thần sa sút với 500 giờng bệnh tại Thủ Đức
[42].
Ước tính nớc ta hiện nay có khoảng trên 320.000 BNTTPL đang sống tại
cộng đồng và lang thang trên đờng phố, cần đợc tổ chức quản lý và điều trị
[2, 9]. Trong khi đó điều kiện kinh tế ở nớc ta hiện cha cho phép phát triển
mạng lới tâm thần rộng khắp. Vì vậy việc tổ chức chăm sóc BNTTPL dựa
vào cộng đồng là ý tởng đã có từ rất sớm.
BV tâm thần Trung ơng có đội điều trị ngoại viện trực thuộc phòng
khám với 1 BS và 5 y sĩ định kỳ đến tất cả các xã thuộc huyện Thờng Tín
khám bệnh, cấp phát thuốc cho BNTTPL và BN động kinh.
Cuối những năm 1976, Phạm Văn Đoàn và CS đã tổ chức hệ thống
Dixpanxe tâm thần kinh tại huyện Thờng Tín, tỉnh Hà Tây.
Năm 1978, Trần Văn Cờng tổ chức quản lý BNTTPL tại xã Phợng Dực
(huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà tây). Điều tra cơ bản, tập huấn chuyên môn cho
23
cán bộ y tế xã, bồi dỡng các kiến thức cần thiết cho gia đình BN. Theo dõi
và cấp thuốc tại xã đều đặn cho đến nay [7].
Trần Bá Mạc, nghiên cứu 27/37 xã thuộc huyện Ninh Nam, điều trị tại
nhà cho 353 BNTTPL gồm những BN mới phát hiện và những BN đã đợc
điều trị giai đoạn cấp tính ở BV đa về địa phơng. Tác giả dùng liệu pháp
hoá dợc đơn thuần. Kết quả thu đợc số BN ở huyện Nam Ninh phải tái nhập
viện sau 1 năm thấp hơn nhiều so với số BN ở huyện ý Yên (xã đối chứng)
[20].
Với sự hợp tác của WHO, năm 1991 đã tiến hành nghiên cứu thí điểm
lồng ghép việc chăm sóc BN tâm thần mãn tính vào mạng lới y tế cơ sở tại
4 địa điểm: Phờng Trung Trực (Hà Nội) do Uỷ ban hợp tác y tế Hà Lan

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status