HUY ĐỘNG VỐN CHO DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ - Pdf 18



HUY ĐỘNG
VỐN CHO
DOANH
NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ
HUY ĐỘNG VỐN CHO DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

I. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ ( DNNVV)
1. Định nghĩa: tiêu chí phân loại DNNVV
1.1 Tiêu chí của một số nước trên thế giới
Trên thế giới, định nghĩa về DN vừa và nhỏ được hiểu và quy định khác nhau tùy
theo từng nơi. Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định
tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ
bản của DN như chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của
quản lý thấp… Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề
nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thướng đc dùng làm cơ sở để
tham khảo trong, kiểm chứng mà ít đc sử dụng để phân loại trong thức tế. Nhóm
tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay
vốn,doanh thu, lợi nhuận. Trong đó :
Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên,
lao động thực tế;
Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá
trị tài sản còn lại;
Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có
xu hướng sử dụng chỉ số này).
Trong các nước APEC tiêu chí đc sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Còn 1 số

≤ 300
Bán buôn
≤ 100 tr Yên
≤ 100
Bán lẻ
≤ 50 tr Yên
≤ 50
Dịch vụ
≤ 50 tr Yên
≤ 100

Hàn Quốc cũng chia DNN&V theo các khu vực nhỏ dựa trên hai tiêu chí: số
nhân công, vốn và doanh số bán hàng, cụ thể như sau:

Khu vực
DNN&V
DN nhỏ
DN siêu
nhỏ
Số
nhân
công
Vốn và
doanh số
bán hàng
Số nhân công
Sản xuất (nhóm A)
<300
Vốn ≤ 8tr
USD

bán ≤ 10tr
USD
< 10
< 5
Những khu vực
khác

Doanh số
bán ≤ 5tr
USD
< 10
< 5

Malaysia cũng dựa trên hai tiêu chí là doanh số bán hàng và số lao động,
đồng thời cũng phân định DNN&V theo 3 loại DN: DN vừa, DN nhỏ và DN siêu
nhỏ. Cụ thể như sau: Ngành
DN siêu nhỏ
DN nhỏ
DN vừa
Doanh
số bán
hàng
Số
nhân
công
Doanh
số bán

<50
nghiệp và CNTT
(ICT)
<250000
ringgit
ringgit
ringgit

Thái Lan cũng chia DNN&V theo lĩnh vực, ngành hoạt động, cụ thể như sau:

Khu vực
Số nhân công
Tài sản
Sản xuất
< 200
<200 tr Bath
Bán buôn
<50
<100 tr Bath
Bán lẻ
<30
<50 tr Bath

Philippin chia DNN&V thành 3 loại hình: DN vừa, DN nhỏ và DN siêu nhỏ

Loại hình
Số nhân công
Tổng tài sản
DN vừa
<199

động
Tổng
nguồn
vốn
Số lao
động
Tổng
nguồn vốn
Số lao
động
Nông, lâm nghiệp và
thủy sản
< 10 < 20 tỷ 10 – 200 20 – 100 tỷ 200 – 300
Công nghiệp và xây
dựng
< 10 < 20 tỷ 10 – 200 20 – 100 tỷ 200 – 300
Thương mại và dịch
vụ
< 10 < 10 tỷ 10 – 50 10 – 50 tỷ 50 – 100

Nhìn chung, qui đ ịnh số lượng lao động trung bình hàng năm t ừ 10 người trở
xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 20 đến 200 người lao động được coi
là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì đư ợc coi là Doanh
nghiệp vừa.
2. Thực tr ạng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn hi ện nay
2.1 Vốn
(1) Quy mô vốn: doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có nguồn vồn thấp. Kết quả điều
tra toàn bộ doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê năm 2008, cho thấy có khoảng
85% tổng số doanh nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ đồng (trong đó 78% dưới 5 tỷ).
Nguồn:Nghị định chính phủ số 56/2009/NĐ-CP

2.3 Hoạt động sản xuất kinh doanh:
(1) Nội dung hoạt động: Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung nhiều ở
khu vực chế biến, gia công và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn. Trong
đó cụ thể là:
- Là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là
tham gia vào các sản phẩm đầu tư.
- Thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ
trong quá trình phân phối và thương mại hóa, dịch vụ sinh họat và giải trí, dịch vụ
tư vấn và hỗ trợ.
- Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư
cách là nhà sản xuất toàn bộ.
(2) Tính chất hoạt động: Do cấu trúc và quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ bé,
phạm vi hoạt động hẹp cho nên DNNVV rất Linh hoạt và nhạy bén trong các hoạt
động sản xuất, kinh doanh. Tùy theo diễn biến của thị trường, nhất là khi thị trường
có biến động lớn, các DNNVV có thực hiện dễ dàng việc thay đổi mặt hàng,
chuyển hướng kinh doanh thậm chí là cả địa điểm kinh doanh được. Trong điều
kiện không thuận lợi, các doanh nghiepẹ này có thể chuyển dịch từ ngành này sang
ngành khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác.
2.4 Quản lý họat động sản xuất kinh doanh
(1) Bộ máy quản lý: DNNVV là doanh nghiệp được sở hữu và quản lý độc lập.
Người điều hành DNNVV thông thường là người chủ sở hữu, độc lập trong việc
quản lý doanh nghiệp của họ. Thêm vào đó, doanh nghiệp nhỏ có ảnh hưởng rất ít
đối với thị trường của nó. Đồng thời cũng cần lưu ý rằng, Nhà nước có vai trò rất
quan trọng trong việc hình thành và phát triển hoạt động của doanh nghiệp nhỏ.
Những doanh nghiệp nhỏ được hưởng sự ưu đãi, hỗ trợ của Chính phủ theo các
chương trình hỗ trợ về vốn, công nghệ, tư vấn, được miễn hoặc giảm một số loại
thuế.
(2) Tính chất quản lý: Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô…
các quản trị gia doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến
hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh. Thông thường họ được coi là nhà quản

Theo số liệu năm 2008 từ nguồn Tổng cục thống kê thì ở Khu vực nhà nước,
66,8% là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ; DNNVV chiếm 99% tổng số các Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh và 79,2% tổng số Doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài.
Cũng năm 2008, số lượng SMEs tại khu vực ngoài quốc doanh với tỷ lệ 97% tổng
số các DN vừa và nhỏ cả nước chứng tỏ hầu hết các DN khu vực ngoài quốc doanh
ở Việt Nam hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ hai, SME đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tếvà các
nguồn thu nói chung. Ở Mỹ, các DNN&V đóng góp hơn một nửa GDP; 50% ở
Nhật Bản: 42% ở Indonesia: 38,9% ở Philippines… DNN&V tham gia hoạt động
xuất khẩu và chiếm tỷ trọng dáng kể trong kinh nghạch xuất khẩu, từ 25%-40%.
Cụ thể: Đài Loan 55,9% kinh ngạch xuất khẩu trong công nghiệp; Singapore: 9,3%
trong công nghiệp và 33,5% trong thương mại, Trung Quốc: DNN&V đóng góp
khoảng 50% GDP, kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% kinh ngạch xuất khẩu cả nước.
Ở Việt Nam, theo đánh giá của Viện nghiên cứu và quản lý Trung ương, khu vực
DNNVV đã đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhậ p quốc dân. Hiện
nay, DNNVV đóng góp khoảng 1/3 GDP của cả nước, 31% giá trị sản xuất công
nghiệp; chiếm 78% mức bán lẻ của ngành thương nghiệp, 64% khối lượng vận
chuyển hành khách và hàng hóa (nguồn: Tổng cục thống kê). Trong nhiều ngành
sản xuất và dịch vụ khác các SMEs cũng chiếm một tỉ trọng đáng kể.DN VVNcòn
giữ vai trò “thanh giảm sóc cho nền kinh tế”. Ở phần lớn các nền kinh tế, các
doanh nghiệp nhỏ và vừa là những “nhà thầu phụ” cho các doanh nghiệp lớn. Sự
điều chỉnh hợp đồng “thầu phụ” tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự
ổn định
DNN&V là nơi đóng góp ngân sách lớn cho nhà nước (thông qua thuế) để nuôi
bộ máy nhà nước, lực lượng vũ trang và cho đầu tư hạ tầng cơ sở của nền kinh tế,
các khoản chi tiêu dịch vụ công phục vụ xã hội. Tìm số liệu đóng góp NS
Thứ ba, hỗ trợ doanh nghiệp lớn và bảo đảm lượng hàng hóa tiêu dùng khá lớn
cho xã hội:
DNN&V phát triển trong các ngành công nghiệp thứ cấp có thể bổ trợ các
ngành công nghiệp lớn, cung cấp đầu vào cho các ngành này và tạo sự cạnh tranh

và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị
trường.
3.2 Về xã hội
Thứ nhất, SME là nơi tạo nhiều việc làm cho người lao động. Thực tế cho
thấy, tòan bộ các DNNVV đặc biệt là các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh
là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm cho toàn bộ các lĩnh vực. Theo số liệu
nguồn Tổng cục thống kê Việt Nam, đến năm 2008 đã gần 4 triệu lao động làm
việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tỷ trọng 47% lao động trên phạm vi
cả nước. Từ năm 2006 đến năm 2008, số lượng lao động có việc làm tăng trên 1
triệu lao động trong khu vực DN vừa và nhỏ đồng nghĩa với việc tăng từ 41% đến
47% lực lượng lao động cả nước.
Năm
Số lao động làm việc tại SME
Tổng
Tỉ trọng so
với tổng lao
động cả
nước
KV nhà
nước
KV ngoài
quốc doanh
KV vốn đầu
tư nước
ngoài
2006
270.850
2.242.869
256.785
2.770.504

các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đóng góp vào ngân sách nhà nước theo các
năm 2006, 2007 và 2008 (nguồn: Tổng cục Thống kê).
II. TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG V ỐN CỦA CÁC DOANHNGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ Ở VIỆ T NAM
1. Thực tr ạng vấn đề huy động vốn của các Doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
1.1 Vốn chủ sở hữu
Là loại vốn thường được tạo ra từ vốn riêng của các nghiệp chủ vốn đóng góp của
các cổ đông, bạn bè, họ hàng Nguồn vốn này chiếm khoảng 5 - 10% vốn luân
chuyển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thực tế ta thấy hiện nay các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường sử dụng phần lớn
nguồn vốn này vào việc kinh doanh chiếm khoảng 47,2% trên tổng số vốn toàn
Doanh nghiệp.
Theo thống kê thì tỉ lệ vay vốn ở các doanh nghiệp vừa vả nhỏ từ vốn chủ sở
hữu ở Hà nội là45.6% hải phòng là 46.7% quảng ninh là 49.3% chiếm tỉ lệ lớn
trong vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khi lựa chọn phương pháp huy động vốn từ chủ sở hữu, bạn sẽ được một số lợi
ích sau đây:
 Bạn có thể bắt đầu kinh doanh mà không phải chịu gánh nặng nợ nần. Hầu
hết các chủ doanh nghiệp mới thích việc họ có thể sử dụng tiền của mình, và tiền
của các chủ đầu tư, để hoạt động kinh doanh khi bắt đầu doanh nghiệp, thay vì phải
vay một khoản tiền lớn từ ngân hàng, tổ chức tài chính hoặc cá nhân khác. Doanh
nghiệp có thể kinh doanh và không phải lo lắng về việc hoàn trả các khoản vay.
 Bạn có thể sử dụng kế hoạch kinh doanh sẽ giúp chủ doanh nghiệp chia sẻ
lợi nhuận cũng như rủi ro trong kinh doanh.
Tựy thuc vo ch u t l ai, h cú th cung cp cho doanh nghip nhng
h tr kinh doanh quan trg khỏc m bn khụng cú. iu ny c bit quan trng
i vi doanh nghip va bt u kinh doanh. Bn cú th cõn nhc nhiu ch u
t khỏc nhau, min sao la chn ch u t theo cỏch thụng minh nht.
Trc khi chn phng phỏp huy ng vn t nh u t / c ụng cho doanh

4 năm (2000 2003), khối l-ợng tín dụng cho vay đối
với các doanh nghiệp dân doanh (chủ yếu là DNN&V) tăng
tr-ởng với tốc độ cao, khoảng 21% - 24%/năm, d- nợ cuối
năm 2003 gấp 2,2 lần so với cuối năm 2000; cho vay
trung và dài hạn đã đ-ợc mở rộng để tạo điều kiện cho
các DNN&V mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng nhà
x-ởng. Các tổ chức tín dụng đã có sự điều chỉnh cơ cấu
vốn cho vay doanh nghiệp, bằng cách giảm dần tỷ trọng
cho vay DNNN mở rộng cho vay doanh nghiệp dân doanh,
làm tỷ trọng d- nợ đối với doanh nghiệp dân doanh tăng
lên khoảng 18% vào cuối năm 2003 (cuối năm 2001 là
12,6%), phù hợp với số l-ợng doanh nghiệp dân doanh
tăng nhanh. Chất l-ợng tín dụng đối với các doanh
nghiệp dân doanh đ-ợc nâng lên, biểu hiện tỷ lệ nợ quá
hạn giảm.
Tuy nhiên, hiện đang tồn đọng khối l-ợng một khối l-ợng
vốn vay khá lớn của một số doanh nghiệp dân doanh từ
tr-ớc năm 2000 đến nay ch-a đ-ợc sử lý, do những v-ớng
mắc về cơ chế, thủ tục chứng minh quyền sở hữu, sử dụng
tài sản. Thời gian qua, khoảng 80-90 % tổng số d- nợ (
từ 8000-11000 tỷ đồng ) của ngân hàng Công th-ơng Việt
nam do các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay. Mặc dù ngân
hàng thiếu nguồn vốn trung, dài hạn nh-ng vẫn tập
trung một l-ợng vốn đáng kể cho các doanh nghiệp nhỏ và
vừa vay để mua sắm thiết bị, đổi mới công nghệ. Tỷ
trọng d- nợ trung hạn và dài hạn hàng năm tăng dần cho
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vay. Theo Ngõn hng Nh
nc Vit Nam, trong 7 thỏng u nm 2008, d n cho vay
doanh nghip va v nh ca cỏc ngõn hng t 299.472 t
ng, chim 27,3% tng d n cho vay nn kinh t, tng

doanh nghiệp t- nhân là 39% ; công ty cổ phần chỉ có
29% .
Thực tế cho ta thấy các doanh nghiệp cỡ nhỏ và rất
nhỏ rất khó khăn trong việc vay vốn từ ngân hàng. Doanh
nghiệp có quy mô càng nhỏ thì khả năng đ-ợc vay vốn
càng ít. Điều này cho thấy ngân hàng ch-a quan tâm đến
các doanh nghiệp quy mô rất nhỏ. Lãi suất cũng là một
vấn đề lớn, chi phối việc vay vốn của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Kt qu iu tra gn õy ca Cc Phỏt trin
DNNVV (B K hoch v u t) cho thy, ch cú 32,38%
DNNVV cú kh nng tip cn c ngun vn ca ngõn hng;
35,25% khú tip cn, cũn li khụng th tip cn.
Nhìn chung, trong những năm đổi mới, các doanh nghiệp
nhỏ và vừa đã đ-ợc sự hỗ trợ nhiều mặt của Nhà n-ớc,
của các tổ chức quốc tế, trong đó có sự hỗ trợ vốn tín
dụng của các ngân hàng th-ơng mại. Nh-ng nếu so với yêu
cầu phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì
những hỗ trợ dó còn quá ít và ch-a hiệu quả. Quan hệ
giữa ngân hàng th-ơng mại với các doanh nghiệp nhỏ và
vừa thuộc thành phần kinh tế t- nhân, cá thể vốn đã
không chặt chẽ, gần đây không những không đ-ợc cải
thiện mà xu h-ớng còn xấu đi hơn nữa. Các ngân hàng
th-ơng mại quốc doanh không muốn hoặc rất e ngại khi
cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế
t- nhân cá thể vay vốn. Điều đó vừa tác động xấu đến
hoạt động của ngân hàng, vừa không hỗ trợ đ-ợc các
doanh nghiệp nhỏ và vừa và thiệt hại lớn cho toàn xã
hội.
1.3 vay ngn hn
i thuờ ti chớnh

và nhỏ. Điều này cũng xuất phát bởi nhiều nguyên nhân. Trong bài viết sẽ đề cấp
đến nguyên nhân từ khách quan và chủ quan dưới góc độ nhìn nhận của Ngân hàng
và của chính những doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay của nước ta.

2.1. Nguyên nhân khách quan

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ phát triển và mở cửa, điều
này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội mở ra và cạnh tranh
trên thị trường. Thế nhưng, nền kinh tế nước ta vẫn không phải là một nền kinh tế
ổn định, tác động đầu tiên cho vấn đề vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ đó là lạm
phát. Việc lạm phát có xu hướng tăng hàng năm, đồng tiền mất giá khiến cho công
việc quản lý của các doanh nghiệp gặp muôn vàn những khó khăn, sản xuất, vì là
vừa và nhỏ, cho nên rất khó để bù đắp được vốn bỏ ra, đồng tiền của kỳ trước giá
trị hơn đồng tiền của kỳ sau khiến cho việc bỏ ra một khoản lớn hơn để mua đồ
dùng, công cụ, nguyên vật liệu và rồi kỳ sau mang ra bán và không thu hồi được
vốn ban đầu. Vấn đề thứ hai, nguồn vốn cung ứng, có thể nói, nó khá nhỏ so với
một cơ cấu doanh nghiệp. Điều này chính từ chính sách cho ồ ạt mở cửa doanh
nghiệp dẫn đến việc các doanh nghiệp mở ra nhưng lại không có vốn hoặc số vốn
quá nhỏ, nhiều công ty chỉ mở ra mà không ai biết đến, không sản xuất … gây ra
một sự hoài nghi cho chính nhà đầu tư khi muốn mở rộng diện thụ hưởng vốn.
Nguyên nhân khách quan thứ ba muốn nói ở đây, đó chính là việc Ngân hàng chỉ
đáp ứng được một phần nào đó nhu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngoài ra
thì các Ngân hàng cũng rất lo lắng và không an tâm khi đặt vốn của họ cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vay, gây ra sự khó khăn trong quá trình thu hút nguồn
vốn cho những doanh nghiệp này.

2.2. Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân chủ quan cũng là nguyên nhân lớn nhất đối với việc khó khăn
trong quá trình thu hút vốn của các d oanh nghiệp vừa và nhỏ. Như đã nói, doanh

không biết đòi ai, lấy tiền của ai? Sự yếu kém về trình độ quản lý còn thể hiện ở
mặt quản lý Tài chính và Kế toán. Nhiều khi, doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ “chạy
theo thị trường” mà làm theo hướng “chộp giật”. Việc chạy theo xu hướng của thị
trường mà không phát triển một hoặc một vài loại sản phẩm cố định để tạo thương
hiệu sẽ rất khó khăn trong việc quản lý ngành nghề kinh doanh. Thị trường thì thay
đổi từng ngày, thị hiếu cũng thay đổi điều này khiến cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ liên tục thay đổi và chỉ làm theo thời điểm hoặc thời kỳ ngắn, kinh doanh
không dài hạn sẽ khiến Ngân hàng khó có thể biết được đồng tiền của mình sẽ trôi
nổi và đầu tư cho ai, làm cái gì và sử dụng như thế nào. Ngoài ra, việc sử dụng lao
động thiếu tay nghề cũng là một trong số những rủi ro được các nhà Đầu tư quan
tâm. Việc tuyển nhân sự nhiều khi chỉ dựa vào tình huống đặc biệt, mà không xét
nhiều đến trình độ, dẫn đến nếu có sự thay đổi sẽ không kịp thay đổi theo và làm
chậm tiến độ, nhiều khi không thể bù đắp được chi phí bỏ ra khiến cho lỗ xảy ra.
Lúc này, với vốn tự chủ nhỏ, các doanh nghiệp sẽ khó khăn cho việc trả nợ hơn rất
nhiều và hầu như là nếu xảy ra biến cố sẽ khiến cho doanh nghiệp mất tự chủ và
phá sản. Vấn đề này thường gọi tên là Phát triển nhân sự, nhưng các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, như đã nói ở trên, vì trình độ của cả nhà quản lý lẫn người tuyển dụng
đều khá hạn chế, không quan tâm đặc biệt tới nhân sự sẽ rất khó khăn trong việc
đánh giá đúng thực lực của doanh nghiệp, liệu rằng có đủ sức để thực hiện kế
hoạch phác ra hay không? Nhiều người làm tín dụng còn cho rằng: “ Những người
có trình độ cao làm việc ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có, nhưng chủ yếu
chỉ làm để tích lũy kinh nghiệm và rồi sẽ chuyển sang các doanh nghiệp lớn hơn để
tiếp tục sự nghiệp” – đây là một trong số những rào cản trong công cuộc phát triển
nhân sự - một trong những tiêu chí quan trọng mà Ngân hàng muốn đánh giá doanh
nghiệp.
Một trong số những điều quan trọng nhất, gây e ngại cho nhà đầu tư nói
riêng và các Ngân hàng nói chung, đó là thông tin của doanh nghiệp. Những số liệu
thường không sẵn có cho từng doanh nghiệp, kể cả số liệu ngành và số liệu doanh
nghiệp. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, thường thời gian hoạt động
nhỏ hơn 10 năm, tức là những doanh nghiệp này vẫn là những doanh nghiệp mới,

rủi ro của đầu tư khá cao vì vậy mà thiếu vốn là một tất yếu.
Với chính các doanh nghiệp, họ cũng nhận ra khá nhiều những bất hợp lý
trong chính doanh nghiệp của họ. Môi trường kinh doanh chưa ổn định: Tỷ lệ lạm
phát cao, tỷ lệ gửi và cho vay trung và dài hạn thấp (4 - 6% tổng mức cho vay).
Còn nhiều rối loạn do quá trình làm ăn chuyển đổi (làm ăn chộp giật ) tỷ lệ tiết
kiệm thấp (15%) là cản trở lớn đối với việc huy động vốn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng nhận thấy những bất lợi của họ trong
công tác vay vốn tín dụng cũng như là công tác huy động vốn:

+) Chính sách, pháp luật: Tạo ra vấn đề bất bình đẳng khi cho vay vốn đối
với Doanh nghiệp vừa và nhỏ và các Doanh nghiệp khác. Mức độ đầu tư vốn cho
các Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế, các trung tâm hỗ trợ, tài trợ Doanh
nghiệp vừa và nhỏ được thành lập nhưng do không bám sát thực tế hoạt động còn
mờ nhạt kém hiệu quả.
+ Nhà nước chưa thành lập được một tổ chức chặt chẽ để hỗ trợ vốn cho
Doanh nghiệp vừa và nhỏ như nhiều quốc gia khác đã làm, chưa có được các
chính sách hỗ trợ, ưu tiên phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo hành lang pháp
lý cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các nguồn vốn lớn (ODA, FDI) thì giành cho
các công trình lớn.
+ Ngân hàng: Huy động vốn trung và dài hạn của ngân hàng là thị trường
chứng khoán, đang còn trong giai đoạn sơ khai, các sản phẩm trên thị trường tiền tệ
chưa nhiều, khả năng thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân còn yếu kém. Vì vậy
các ngân hàng thường lâm vào tình trạng thiếu vốn để cho vay. Các ngân hàng
thiếu sự liên thông, liên kết trong việc kiểm soát mọi hoạt động chu chuyển vốn
của Doanh nghiệp, các nhân viên ngân hàng chưa đủ kinh nghiệm kiến thức trong
việc thẩm định các dự án của Doanh nghiệp để ngân hàng cung cấp vốn cho Doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp vừa và nhỏ khi vay tiền ngân hàng
thường gặp phải thủ tục rườm rà điều kiện cho vay về tài sản thế chấp thường cao,
mà các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu tài sản thế chấp, quyền sử dụng

hoặc những người cho vay nặng lãi. Chủ doanh nghiệp nhỏ cũng thường buộc phải
trả giá cao hơn về nguyên liệu hoặc nhận giá thấp hơn về sản phẩm cuối cùng, vì
họ bị phụ thuộc tài chính vào các nguồn cung cấp nguyên liệu hoặc những người
môi giới. Họ cũng bị bất lợi trong việc bán sản phẩm của mình vì không có khả
năng đưa ra những điều khoản cho chịu như những nhà sản xuất lớn. Do đó, khó
khăn về tài chính là một trở ngại đối với doanh nghiệp nhỏ trong quá trình hoạt
động và làm cho nó yếu đi. Tuy giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, nhưng thực tế là
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận
nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các ngân hàng, các tổ chức tín
dụng… Đặc biệt, trong thời điểm những tháng cuối năm, các doanh nghiệp càng có
nhu cầu cao về sử dụng nguồn vốn để mở rộng các hoạt động sản xuất cung cấp
nguồn hàng phục vụ ngày tết. Sự phát triển tích cực của DNNV đã góp phần giảm
tỷ lệ thất nghiệp, ổn định lại tình hình kinh tế, an sinh xã hội trong những năm vừa
qua.

Trích đoạn Giải phỏp 4: Huy động vốn từ nguồn vốn phi chớnh thức (PCT).
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status