Đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn hà nội - Pdf 19

Phần I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Việt
Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn về kinh tế - xã hội bên
cạnh các mục tiêu phát triển toàn diện con người. Trong bối cảnh già hóa
dân số đã và đang diễn ra tài nhiều quốc gia ảnh hưởng nghiêm trọng đến
nguồn lao động, là thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước, nhịp cầu nối
xuyên suốt giữa các thế hệ thành viên trong gia đình, trẻ em ở Việt Nam đã
trở thành mối quan tâm hàng đầu trong các chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội. Phát triển đầy đủ cả về thể chất và tâm hồn cho trẻ không chỉ có ý nghĩa
trước mắt mà còn là sự chuẩn bị bền vững cho tương lai.
Các số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam có khoảng 24.930.000 trẻ em,
trong đó, khoảng 172.100 trẻ có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ
rơi (năm 2005 là 143.000 trẻ) chiếm 0.69% tổng số trẻ em[1]. Số đối tượng trẻ
em này dự kiến sẽ còn tăng cao hơn bởi hiện tượng sinh con ngoài ý muốn ở
các phụ nữ trẻ và do tác động của đại dịch HIV/AIDS, với khoảng 263.400 trẻ
sống chung với cha mẹ dương tính với HIV trong năm 2005 [1].
Thể hiện sự quan tâm đặc biệt dành cho trẻ em, Việt Nam là nước đầu
tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế
về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990).
Bốn nhóm quyền cơ bản của trẻ trong Công ước của Liên hợp quốc đã được
luật hóa trên cơ sở phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và pháp luật Việt Nam.
Cùng với việc hoàn thiện nhiều văn bản pháp lý liên quan như Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Nuôi con nuôi, Luật phòng chống mua
bán người… Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chương trình,
chính sách, kế hoạch hành động nhằm gắn mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em với các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Trong đó, hệ
thống cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em được hình thành rộng khắp trên
cả nước là sự cụ thể hóa hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhất là những trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt trong đó có trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trẻ em là một trong những nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm đặc
biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và
ngoài nước. Trong phạm vi các công trình có liên quan đến đề tài, nhóm
nghiên cứu lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, các đánh giá,
bài viết tiêu biểu.
Thứ nhất, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em nói
chung
“Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương thức làm chương
trình dựa trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam” là
công trình nghiên cứu của tác giả Christian Salazar Volkmann đề cập đến
vấn đề quyền của phụ nữ và trẻem. Tác giả đã làm rõ những yếu tố cơ hội và
thách thức cơ bản nhất liên quan đến chương trình đảm bảo quyền và sự
tham gia của phụ nữ và trẻ em Việt Namtrên cơ sở tiếp cận từ quyền con
người. Tác giả đồng thời cho thấy, thực hiện đầy đủ quyền đối với phụ nữ và
trẻ em mang lại động lực cần thiết để họ tham gia đầy đủ, có hiệu quả vào
các hoạt động xã hội.
“Tìm hiểu ảnh hưởng của quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong
gia đình với nhau và với trẻ tới sức khỏe của trẻ em trong các gia đình Việt
Nam hiện nay” của tác giả Mai Thị Kim Thanh đăng trên Kỉ yếu Hội nghị
Khoa học nữ Đại học Quốc gia Hà Nội lần thứ 6 năm 2001. Tác giả đã nhận
định mức độ tâm sự của những người thân trong gia đình đối với trẻ em
được thể hiện như sau: tâm sự giữa bố, mẹ với con chiếm 46,2%, ông bà với
cháu chiếm 24,8%, mẹ với con chiếm 24,7%, ít tâm sự chiếm 8,0%, anh chị
em với nhau chiếm 5,8%, bố với con chiếm 4,6% và không tâm sự chiếm
4,5%. Tỷ lệ tâm sự giữa bố, mẹ, ông, bà với con cái càng thấp thì càng ảnh
hưởng đến sức khỏe con cái, đặc biệt là sức khỏe tinh thần.
Tác giả Trịnh Hòa Bình với nghiên cứu “Sự hiểu biết giữa gia đình và
trẻ em về vấn đề quyền trẻ em hiện nay” đăng trên Tạp chí Xã hội học số
4/2005. Nghiên cứu tập trung điều tra về kiến thức, thái độ, hành vi của cộng

bằng sông Cửu Long (8,8%), so với vùng Tây Nguyên (chỉ 2,3%). Khoảng
3,9% trẻ em có cha đã tử vong hoặc mẹ đã tử vong, hoặc cả cha và mẹ đều
đã tử vong. Tỷ lệ này là 6,3% trong nhóm các hộ gia đình nghèo nhất và
giảm xuống còn 3,5% trong nhóm hộ gia đình giàu nhất [31, 187]. Kết quả
điều tra trên là cơ sở tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định
chính sách, nhà nghiên cứu song cần lưu ý rằng các số liệu về thực trạng trẻ
em mồ côi của MICS ở trên là theo cách tiếp cận trẻ em mồ côi của MICS.
Dưới góc độ tâm lý, tác giả Văn Thị Kim Cúc qua công trình “Tổn
thương tâm lý của trẻ 10-15 tuổi do ly hôn của bố mẹ” đã tập trung nghiên
cứu các tổn thương tâm lý của trẻ thơ trong các gia đình do bố mẹ ly
hôn.Các tổn thương này, theo tác giả, là “các vết bầm của tâm hồn” và dù
chỉ là những vết bầm, vết xước nhưng cùng với những hoàn cảnh, những ký
ức trẻ có trước và sau ly hôn sẽ có những tác động tiêu cực suốt theo chiều
dài cuộc đời của đứa trẻ. Các tác động tiêu cực này thể hiện trong nhận thức,
hành vi, năng lực ứng xử, xu hướng hành động, mối quan hệ của trẻ với
người khác và với xã hội. Các tác động này không hiện nguyên hình dưới
dạng hậu quả “hai năm rõ mười” của ly hôn, mà ngụy trang dưới các mặc
cảm, các hình thức tự vệ gây ra nhiều hạn chế trong cuộc đời và sự nghiệp
của trẻ.
Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam” của tác giả
Đặng Bích Thủy đã chỉ ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em
đang phải đối mặt như bất bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội chăm sóc,
bảo vệ, lao động sớm, bị xâm hại, bị bỏ rơi Qua nghiên cứu, tác giả lý giải,
phân tích bối cảnh, nguyên nhân của các vấn đề trẻ phải đối mặt từ góc độ
chính sách, nhận thức, hành vi, hành động xã hội đồng thời dự báo xu
hướng, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2010-2020 nhằm góp phần hạn chế
và giải quyết các vấn đề của trẻ em.
Bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” của
tác giả Nguyễn Hải Hữu cho thấy thực tế ở Australia, Thuỵ Điển, Hồng
Kông, việc hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các

trẻ em bị bỏ rơi để quyết định mô hình chăm sóc nào sẽ phù hợp với lợi ích
tốt nhất cho các em, đảm bảo rằng trẻ em được nhận nuôi trong một gia đình
thay thế phù hợp nhất với lợi ích của các em. Đây là một trong những phát
hiện quan trọng và hết sức có ý nghĩa đối với bảo vệ trẻ em mồ côi.
Công trình “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn: cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt Nam hiện nay” của
tác giả Dương Hải Yến đã tìm hiểu và phân tích các quy định hiện hành về
chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên cơ sở nghiên cứu bản
chất của quyền trẻ em trong pháp luật dân sự, để từ đó đưa ra một số phương
hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động
chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong thực tiễn.
“Một số giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” là
bài viết của tác giả Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy
ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt
Nam. Tác giả đã nêu bật các loại trẻ em thuộc đối tượng có hoàn cảnh đặc
biệt và tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam. Dưới góc nhìn về
vai trò và hiệu quả hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
của các hội, hiệp hội và cơ sở ngoài công lập, TS Thanh đã đưa ra các
khuyến nghị với cơ quan có thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế,
chính sách hỗ trợ các tổ chức này hoạt động có hiệu quả hơn.
Ở góc tiếp cận khác về giải pháp bảo vệ và chăm sóc trẻ em, tác giả
Nguyễn Xuân Lập, Phó cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội qua bài viết “Một số
giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” đã tổng quan tình
hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và những chính sách của Nhà nước vận
dụng trong những năm qua. Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo
vệ, chăm sóc trẻ em, thúc đẩy thực hiện mục tiêu vì trẻ em, đảm bảo các
quyền cơ bản cho trẻ em theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và luật
pháp Việt Nam, tác giả đã đưa ra bảy giải pháp về cần tập trung thực hiện
trong thời gian tới. Bảy giải pháp mà tác giả đưa ra đã bao trùm hầu hết
những vấn đề tồn tại cơ bản trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có

quyết định 38/2004/QĐ-TTg về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá
nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi. Kết quả nghiên cứu
cho thấy số lượng trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi có xu hướng tăng lên do những
biến đổi kinh tế - xã hội. Hầu hết các cán bộ ở cả trung ương và địa phương,
cũng như cán bộ nhân viên các cơ sở bảo trợ xã hội và những gia đình, cá
nhân nhận nuôi dưỡng trẻ ít biết đến Quyết định 38 của Thủ tướng Chính
phủ, đặc biệt là ở cấp huyện và cấp xã có những trẻ em và gia đình thuộc đối
tượng thụ hưởng của Quyết định 38. Nghiên cứu nhận thấy mô hình chăm
sóc nhận nuôi là mô hình phù hợp để thí điểm ở các khu vực thành phố/đô
thị, nơi được biết có số lượng trẻ em bị bỏ rơi cao hơn và có nhiều gia đình
có điều kiện tài chính cũng như kỹ năng chăm sóc trẻ.
Ở khía cạnh khác về nuôi con nuôi, “Nuôi con nuôi thực tế – Thực
trạng và giải pháp” là bài viết của tác giả Nguyễn Phương Lan bàn đến hình
thức nuôi con nuôi mà ở đó thoả mãn đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con
nuôi, không trái với mục đích của việc nuôi con nuôi và đạo đức xã hội.
Việc nhận nuôi con nuôi có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc văn bản
thoả thuận giữa hai bên gia đình, nhưng không đăng ký tại cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Về mặt xã hội, giải quyết tốt vấn đề nuôi con nuôi thực tế
còn góp phần củng cố những quan hệ xã hội tốt đẹp, thể hiện bản chất của
nhà nước trong việc quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người
dân, qua đó củng cố lòng tin của nhân dân vào pháp luật của nhà nước.
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi trên địa bàn Hà Nội
“Khảo sát trẻ em mồ côi trên địa bàn Hà Nội” và “Mô hình chăm sóc
trẻ em mồ côi ở Hà Nội” của nguyên Giám đốc làng trẻ SOS Hà Nội Nguyễn
Thị Thanh là hai công trình cấp thành phố đề cập đến trẻ em mồ côi và
những mô hình tương ứng chăm sóc đối tượng này một cách phù hợp. Công
trình đã góp phần nêu cái nhìn tổng quan tình hình trẻ em mồ côi và công tác
chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa bàn Thành phố.
Nghiên cứu “ Tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong

một hình thức giáo dục không chính quy, không mang tính hàm lâm sư
phạm cho đối tượng học. Vấn đề tác giả đặt ra là triển vọng của các lớp học
linh hoạt ở Hà Nội sẽ ra sao nếu các nguồn tài trợ không còn để duy trì để
trả lương cho giáo viên, miễn phí sách vở, khám chữa bệnh, thậm chí cả bữa
ăn cho các em. Đây là một trong những khó khăn lớn khi triển khai mô hình
lớp học linh hoạt trên diện rộng ở Hà Nội.
“Giảm nghèo bền vững và trợ giúp các đối tượng yếu thế ở Hà Nội:
Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện”, bài viết của tác giả Phan Huy
Đường xem xét dưới góc độ kinh tế học đối với các đối tượng yếu thế trên địa
bàn Thành phố. Theo tác giả, các định mức về chi tiêu trong công tác nuôi
dưỡng từ nguồn Ngân sách Nhà nước cấp cho các đối tượng trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội hiện nay còn khá thấp
và chưa tính đến yếu tố trượt giá. Thực trạng đó đã gây rất nhiều khó
khăn cho việc chi tiêu của cơ sở và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của
các đối tượng được bảo trợ. Qua đây, tác giả nêu một số khuyến nghị như
phát triển các mô hình chăm sóc thay thế đối tượng bảo trợ xã hội dựa
vào cộng đồng, phát huy vài trò các tổ chức tôn giáo, các tổ chức nhân
đạo từ thiện, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ trong việc tiến
hành những hoạt động trợ giúp các đối tượng xã hội, cần quan tâm đến thu
nhập và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ xã hội, nhất là ở cơ sở (cấp xã),
cần có chế độ đãi ngộ phù hợp và thường xuyên được đào tạo, tập huấn nâng
cao nghiệp vụ thì mới có thể đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả các
chính sách.
Từ những công trình nghiên cứu, những đánh giá, bài viết kể trên có thể
nhận thấy, các tác giả đã tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giá một số nội
dung như quyền trẻ em, môi trường bảo vệ trẻ, sự hiểu biết về quyền trẻ em,
mô hình chăm sóc, bảo vệ trẻ em (chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng, nuôi
con nuôi, lớp học linh hoạt…). Tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em, pháp luật
dân sự được nhiều tác giả đề cập tới nhằm làm nổi bật vị trí của trẻ em trên
bản đồ xã hội. Các phương pháp chủ yếu được vận dụng trong quá trình

4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em
- Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi từ 8-16 tuổi
- Gia đình của các em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu
Hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi
bao gồm nhiều nội dung khác nhau như bảo vệ quyền trẻ em, bảo đảm các
chính sách ưu đãi, hỗ trợ, bảo vệ trước nguy cơ bị bóc lột, bạo lực Trong
điều kiện về thời gian cho phép, chúng tôi tìm hiểu và đánh giá hoạt động
bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo
trợ xã hội trên ba nội dung cơ bản: Bảo đảm điều kiện sống cơ bản, bảo đảm
môi trường sống an toàn và công tác giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ.
5.2. Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
Hà Cầu, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
5.3. Phạm vi thời gian
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2012 đến hết tháng 03/2013.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Nền tảng triết lý bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội là
gì?
- Các điều kiện sống cơ bản và môi trường sống an toàn dành cho trẻ
em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ
xã hội có được đảm bảo hay không? Những yếu tố căn bản nào ảnh hưởng
đến hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi

các kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em tại trung tâm bảo trợ xã hội.
- Đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội
- Gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã
hội.
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Nền tảng triết lý bảo vệ trẻ em trong trung tâm bảo trợ xã hội coi trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi là trung tâm của các hoạt
động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.
- Trẻ em được cung cấp đầy đủ thức ăn, nơi ở, dịch vụ chăm sóc sức
khỏe và tham gia sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao trong một môi
trường sống an toàn, thân thiện, lành mạnh. Nhân lực và tài chính là hai
trong số những yếu tố căn bản ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ trẻ em tại
trung tâm bảo trợ xã hội.
- Trẻ em tại trung tâm bảo trợ xã hội đã được đảm bảo các quyền và chế
độ ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước trong đó nhân viên xã hội có vai trò rất quan
trọng.
- Tái hòa nhập cộng đồng bền vững là giải pháp tốt nhất nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ
rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội.
9. Phương pháp nghiên cứu
• Cách tiếp cận
Vận dụng cách tiếp cận hệ thống, chúng tôi nhìn nhận Trung tâm Nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu là một hệ thống bao hàm các thành tố như cán
bộ lãnh đạo, nhân viên chăm sóc, nhân viên cấp dưỡng, cơ sở vật chất, nội
quy Các thành tố đó có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau. Bên cạnh
đó, hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại
Trung tâm nằm trong hệ thống bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của
Thành phố Hà Nội. Chế độ, chính sách bảo vệ trẻ em của Trung tâm không

em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ
rơi, mô hình chăm sóc, bảo vệ trẻ em mồ côi của nhiều nhà khoa học, nhà
nghiên cứu, học giả trong cả nước.
9.3.2. Trưng cầu ý kiến
- Đối tượng: Trẻ em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi
có độ tuổi từ 8 đến dưới 16 tuổi tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà
Cầu
- Dung lượng mẫu: Tất cả trẻ em hiện đang sống tại Trung tâm (29 em)
- Cơ cấu mẫu: + Giới tính: Trẻ em nam (12 em), trẻ em nữ (17 em)
+ Cấp học: Tiểu học (5 em), THCS (18 em), THPT
(6 em)
+ Thời gian sống: (Đơn vị %)
< 1 năm 1 năm 2 năm 3 năm 4 năm 5 năm 6 năm > 6 năm
3.4 13.8 6.9 6.9 17.2 13.8 20.7 17.2
9.3.3. Phỏng vấn sâu
- Đối tượng: Cán bộ quản lý, chăm sóc và trẻ em tại trung tâm bảo trợ,
bố/mẹ/người giám hộ các em
- Dung lượng mẫu: 12 mẫu
- Cơ cấu mẫu: Cán bộ quản lý (01), nhân viên chăm sóc (02),
bố/mẹ/người giám hộ cho trẻ (03), trẻ em có hoàn cảnh mồ côi không nơi
nương tựa, bị bỏ rơi (06).
9.3.4. Thảo luận nhóm
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi thực hiện 02 thảo luận nhóm đối
với trẻ em sống tại trung tâm bảo trợ xã hội:
- Thảo luận 1: Đối tượng là những em có thể tự chăm sóc, bảo vệ có
độ tuổi từ 12 đến dưới 16 tuổi nhằm mục đích thu thập ý kiến về các chế độ
ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, chăm sóc sức khỏe, các vấn đề liên quan đến sự
an toàn như: nguy cơ gây thương tích, lây nhiễm tệ nạn xã hội, bị xâm hại,
các vấn đề về tâm sinh lý, nhu cầu, nguyện vọng, sự tham gia giáo dục kỹ
năng tự bảo vệ.

một hệ thống rộng lớn hơn. Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ
thống và các thành tố càng da dạng. Giữa các thành tố có mối quan hệ qua
lại mật thiết với nhau. Sự thay đổi, biến động của mỗi thành tố trong một hệ
thống đều ảnh hưởng, tác động đến các thành tố khác và ngược lại. Bởi
những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống và thành tố tạo thành một sự
toàn vẹn, thống nhất.
Trong bảo vệ trẻ em, lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà
các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng lên
trẻ em. Lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích thấu đáo sự tương
tác giữa trẻ em và hệ thống sinh thái – môi trường xã hội. Mỗi cá nhân trẻ
đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các
yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi
trường xung quanh.
Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi nhận thấy Trung tâm
Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu là một hệ thống trong đó bao gồm các
tiểu hệ thống: nhân sự (cán bộ lãnh đạo, nhân viên chăm sóc, trẻ em), đối
tác, chính sách, cơ sở vật chất, tài chính… Mặt khác, Trung tâm cũng là một
tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống bảo vệ bảo trẻ em rộng lớn hơn là
mạng lưới bảo trợ xã hội Hà Nội. Ngoài ra, Trung tâm còn nằm trong hệ
thống kinh tế - xã hội phường Hà Cầu, quận Hà Đông.
Dưới cách nhìn nhận Trung tâm là một hệ thống và cũng là một tiểu hệ
thống, khi tiến hành những can thiệp cụ thể tại Trung tâm chúng tôi không
thực hiện những hoạt động riêng lẻ, rời rạc đối với từng bộ phận mà thực
hiện đồng bộ các bộ phận trong Trung tâm. Chẳng hạn, việc tiến hành thu
thập thông tin, chúng tôi đã thực hiện các nhóm đối tượng khác nhau: nhóm
trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, nhóm trẻ em bị bỏ rơi, nhóm cán bộ làm
công tác bảo vệ trẻ em tại Trung tâm, nhóm gia đình của các trẻ Do vậy,
kết quả thu thập thông tin phản ánh thông tin khách quan về thực trạng bảo
vệ trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa tại Trung tâm.
Bên cạnh đó, tìm hiểu hoạt động bảo vệ trẻ em trên cơ sở lý thuyết hệ

xã hội học Robert Merton chỉ ra những hệ quả làm cản trở, thậm chí gây rối
loạn, làm giảm khả năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc. Ông khái quát đó là
hiện tượng loạn chức năng hay phản chức năng. Để nhận diện được hiện
tượng này cần trả lời câu hỏi: hệ quả của một hiện tượng xã hội đem lại lợi
ích hay gây tổn hại đến lợi ích của ai?
Tuy nhiên, trong một cấu trúc mà các bộ phận có mối quan hệ tương tác
với nhau thì nhiều khi hệ quả của một hiện tượng có thể mang lại lợi ích cho
nhóm người này nhưng lại có hại cho nhóm người khác, tức là phản chức
năng. Do đó, nhận định là chức năng hay phản chức năng phụ thuộc vào mục
đích,vị trí trong mối quan hệ mà hiện tượng đó diễn ra.
Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng trong nghiên cứu, chúng tôi
xem xét Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu là một cấu trúc tổng
thể, thống nhất trong đó mỗi bộ phận có các chức năng cụ thể. Các chứa năng
của các thành phần đó không tách rời nhau mà có mối quan hệ tương hỗ lẫn
nhau. Do đó, mỗi một chức năng không được thực hiện sẽ ảnh hưởng đến các
chức năng khác trong một bộ phận đồng thời cũng tác động tới các bộ phận
khác.
Trong cấu trúc tổng thể là Trung tâm, mỗi bộ phận thực hiện các chức
năng qua các mối quan hệ: Giám đốc – nhân viên, giám đốc – trẻ em, nhân
viên – trẻ em. Nếu mỗi bộ phận thực hiện đúng chức năng thì cấu trúc tổng
thể hài hòa, phát triển ngược lại nếu không thực hiện đúng chức năng (phản
chức năng) thì cấu trúc có nguy cơ lỏng lẻo, bị phá vỡ.
Mặt khác, xem xét một cấu trúc rộng lớn hơn đó là hệ thống bảo vệ trẻ
em thì Trung tâm nằm trong mối quan hệ với gia đình, nhà trường, tổ chức
xã hội, cộng đồng nơi cư trú, chính sách, chế độ ưu đãi Trong mối quan hệ
này, các chức năng của gia đình và Trung tâm có ảnh hưởng rất quan trọng
đến sự phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần của trẻ em. Giảm thiểu
hay mất mát chức năng gia đình khiến cho các em mất đi môi trường xã hội
hóa đặc biệt quan trọng.
Một trong những giải pháp hữu ích là mang lại cho các em các chức

công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em, bản thân trẻ có những vai trò nhất định.
Mỗi một vai trò thể hiện qua những công việc, nhiệm vụ cụ thể.
Đối với cán bộ quản lý, vai trò thể hiện ở việc tổ chức, quản lý các hoạt
động của Trung tâm qua công việc như lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ,
tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá các cán bộ làm công tác chăm sóc,
bảo vệ trẻ em và các em đang sinh sống tại Trung tâm. Ngoài ra, cán bộ
quản lý còn thực hiện báo cáo tình hình hoạt động của Trung tâm với Phòng
lao động, xã hội Quận Hà Đông và công tác đối ngoại với các tổ chức tài trợ
khác.
Đối với cán bộ làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ, các vai trò của một
nhân viên như vai trò là người “mẹ” quán xuyến, hướng dẫn, đốc thúc các
em thực hiện chế nội, nội quy của Trung tâm; là người “thầy” dạy dỗ, uốn
nắn những thói quen hàng ngày; là người “bạn” luôn quan tâm, chia sẻ, động
viên các em. Bên cạnh đó còn có vai trò của một nhân viên Công tác xã hội
khi thực hiện các công việc hỗ trợ xác định nhân thân, kết nối tạo việc làm,
giám hộ/biện hộ, cho các em khi cần thiết.
Đối với các em, các em lớn có vai trò hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ học
hành các em nhỏ hoặc những em mới đến. Các em nhỏ có vai trò “mách”, bảo
ban khi các bạn vi phạm nội quy. Ngoài ra, các em còn có vai trò hỗ trợ Trung
tâm gia tăng thu nhập qua các công việc trồng rau, đan vỉ nướng, dán dấy,
đóng gói tăm bông
d. Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được cho là
thiết yếu cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì
khác [8, 416].
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý
thuyết nhu cầu. Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của
họ. Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau
theo thứ tự từ thấp đến cao về tầm quan trọng. Thang nhu cầu của ông chia
làm hai cấp: cấp thấp và cấp cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status