khảo sát hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân suy thận mạn tại khoa nội thận bệnh viện trung ương huế - Pdf 19

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy thận mạn là hậu quả cuối cùng của các bệnh thận mạn tính do tổn
thương thận mạn tính làm giảm sút từ từ số lượng nephron và sau đó suy giảm
chức năng thận. Các nhà nghiên cứu trong một thời gian dài đã tìm nhiều
phương cách cố gắng xác định cơ chế bệnh sinh của bệnh thận cũng như sự tiến
triển và sau cùng dẫn đến suy thận mạn. Nhiều nghiên cứu đã tìm ra hàng loạt
các yếu tố tham gia vào quá trình thúc đẩy tổn thương thận tiến triển bao gồm:
Chế độ ăn thường xuyên giàu đạm, hoạt hóa của hệ thống Renin- Angiotensin
trong thận, hiện tượng kết dính tiểu cầu trong thận, chuyển hóa Prostaglandin,
tăng huyết áp kéo dài mà sự kiểm soát huyết áp không hiệu quả và rối loạn
chuyển hóa lipoprotein… trong đó rối loạn thành phần lipoprotein gặp khá phổ
biến ở những bệnh nhân suy thận mạn. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
thực nghiệm cũng như những nghiên cứu trên lĩnh vực lâm sàng đều cho thấy sự
rối loạn lipoprotein là một trong những yếu tố nguy cơ vô cùng quan trọng đối
với quá trình tiến triển của bệnh thận.
Theo số liệu của Hệ thống dữ liệu thận Hoa Kỳ (USRDS) thông báo năm
1999: trong số bệnh nhân suy thận mạn có 42% được điều trị bằng thận nhân tạo
chu kỳ và 36% được điều trị bằng lọc màng bụng và tỉ lệ mắc suy thận mạn
ngày càng gia tăng. Ở Việt Nam theo tác giả Phạm Mạnh Hùng, khi tiến hành
nghiên cứu trên 18.064 người đã đưa ra kết luận rằng số bệnh nhân cần lọc máu
và có nhu cầu ghép thận khoảng 5,5 bệnh nhân/100.000 người. Theo thống kê
của Nguyễn Thị Thịnh thì 40,4% tổng số bệnh nhân điều trị tại Khoa Thận Bệnh
viện Bạch Mai Hà Nội là người bệnh suy thận mạn. Hiện nay, theo thống kê trên
một triệu dân có khoảng 1.000 người được lọc máu chu kỳ và khoảng 70 người
được ghép thận cùng huyết thống.

2

Thời gian gần đây, với sự phát triển nhanh chóng và ngày càng tiến bộ

đoạn sớm chỉ có một số triệu chứng rất kín đáo, ngược lại vào giai đoạn cuối
biểu hiện rầm rộ với hội chứng urê máu cao. Quá trình diễn biến của suy thận
mạn có thể kéo dài từ nhiều tháng đến nhiều năm.
1.1.2. Nguyên nhân
Hầu hết các bệnh lý thận mạn tính dù khởi phát là bệnh cầu thận, bệnh
ống kẽ thận hay bệnh mạch thận đều có thể dẫn đến suy thận mạn.
* Bệnh viêm cầu thận mạn
Hay gặp nhất, chiếm 40%. Viêm cầu thận mạn ở đây có thể nguyên phát
hay thứ phát sau các bệnh toàn thân: lupus ban đỏ hệ thống, đái đường, Scholein
Henon.
* Bệnh viêm thận bể thận mạn
Chiếm tỷ lệ khoảng 30%. Trong đó viêm thận bể thận mạn trên bệnh nhân
có sỏi thận tiết niệu là nguyên nhân thường gặp ở Việt Nam.
* Bệnh viêm thận kẽ
Thường do dùng thuốc giảm đau dài ngày (Phénylbutazone), tăng acid
uric máu, tăng calci máu.
4

* Bệnh mạch thận
- Xơ mạch thận lành tính hoặc ác tính.
- Huyết khối vi mạch thận.
- Viêm quanh động mạch dạng nút.
-Tắc tĩnh mạch thận.
* Bệnh thận bẩm sinh do di truyền hoặc không di truyền
- Thận đa nang.
- Loạn sản thận.
- Hội chứng Alport.
- Bệnh thận chuyển hóa (Cystinose, Oxalose).
* Bệnh hệ thống, chuyển hoá
- Đái tháo đường

- Protein niệu dương tính
- Ngoài ra một số xét nghiệm khác có thể tìm được nguyên nhân suy thận
mạn: siêu âm, Xquang bụng không chuẩn bị, CT-scan ổ bụng
1.1.4. Điều trị
* Điều trị nội khoa
- Ăn nhạt khi có phù và huyết áp cao.
- Tránh dùng các thức ăn có nhiều kali.
- Hạn chế thịt và cá tuỳ thuộc vào tình trạng tăng ure máu.
- Lượng nước đưa vào khoảng 300-500 ml cộng với lượng nước tiểu trong
một ngày.
- Sử dụng các thuốc tăng huyết áp khi có huyết áp tăng.
- Kháng sinh được sử dụng trong những trường hợp có tình trạng
nhiễmtrùng, nhưng thận trọng đối với các kháng sinh độc cho thận, cần giảmliều
khi dùng kháng sinh ở những bệnh nhân này.
* Các phƣơng pháp khác
Lọc máu ngoài thận: thẩm phân màng bụng, thận chu kỳ.
6

Ghép thận.
1.1.5. Tiến triển và tiên lƣợng
Bệnh nhân bị suy thận mạn tiến triển ngày càng nặng dần cho dù là
nguyên nhân gì đi nữa.
Bệnh có thể dẫn đến tử vong nếu không được chạy thận nhân tạo chu kỳ
hay ghép thận kịp thời.
1.2. CHĂM SÓC BỆNH NHÂN BỊ SUY THẬN MẠN
1.2.1. Nhận định tình hình
* Đánh giá bằng cách hỏi bệnh
- Bệnh nhân có bị phù bao giờ chưa?
- Từ trước đến nay có rối loạn tiểu tiện không?
- Có tiền sử bị tăng huyết áp không?

- Nguy cơ nhiễm trùng do sức đề kháng giảm.
1.2.3. Lập kế hoạch chăm sóc
Người điều dưỡng phân tích, tổng hợp và đúc kết các dữ kiện để xác
địnhnhu cầu cần thiết của bệnh nhân, từ đó lập ra kế hoạch chăm sóc. Khi lập
kếhoạch chăm sóc phải xem xét đến toàn trạng bệnh nhân, đề xuất vấn đề ưu
tiên,vấn đề nào cần thực hiện trước và vấn đề nào thực hiện sau.
* Chăm sóc cơ bản
- Để bệnh nhân nghỉ ngơi, nằm đầu cao.
- Giải thích cho bệnh nhân và gia đình về tình trạng bệnh tật.
- Ăn đầy đủ năng lượng.
- Vệ sinh sạch sẽ hàng ngày.
* Thực hiện các y lệnh
- Cho bệnh nhân uống thuốc và tiêm thuốc theo chỉ định.
- Làm các xét nghiệm cơ bản. 8

* Theo dõi
- Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở nếu có bất thường phải báo bác
sĩ ngay.
- Số lượng và màu sắc nước tiểu.
- Theo dõi một số xét nghiệm như: ure và creatinin máu, protein niệu,
côngthức máu, nếu có bất thường phải báo cho bác sĩ ngay.
- Theo dõi các biến chứng của bệnh
* Giáo dục sức khoẻ
Bệnh nhân và gia đình cần phải biết về nguyên nhân, cách phát hiện bệnh,
cách phòng bệnh và thái độ xử trí cũng như cách chăm sóc bệnh nhân suy thận
mạn.
1.2.4. Thực hiện kế hoạch chăm sóc

dađể tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để cóhướng
điều trị cho bệnh nhân. áo, quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn
được sạch sẽ.
* Thực hiện các y lệnh
Thực hiện đầy đủ các y lệnh khi dùng thuốc, như: các thuốc tiêm, thuốc uống.
Trong quá trình dùng thuốc nếu có bất thường phải báo cho bác sĩ biết.
Thực hiện các xét nghiệm:
+ Các xét nghiệm về máu như: công thức máu, ure, creatinin, điện giải
đồvà dự trữ kiềm.
+ Các xét nghiệm siêu âm, điện tim.
+ Các xét nghiệm về nước tiểu: hàng ngày phải theo dõi kỹ số lượng
vàmàu sắc nước tiểu. Các xét nghiệm cần làm là: protein, ure, creatinin vàtế bào,
vi trùng.
* Theo dõi
+ Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở của bệnh nhân.
+ Các dấu chứng của tình trạng tăng ure máu trên lâm sàng.
+ Cân nặng bệnh nhân, dấu hiệu phù.
+ Số lượng và màu sắc nước tiểu.
10

+ Theo dõi chức năng thận thông qua các xét nghiệm ure, creatinin máu
và nước tiểu, hệ số thanh thải creatinin.
+ Theo dõi các dấu hiệu lâm sàng và các xét nghiệm để phát hiện rối loạn
nước, điện giải toan kiềm.
+Theo dõi các dấu hiệu của tăng K
+
máu trên lâm sàng và điện tim.
+Theo dõi các dấu hiệu của hạ Ca
++
máu.

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn đối tƣợng nghiên cứu
- Người bệnh đang điều trị tại Khoa.
- Người đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Người có khiếm khuyết khả năng nghe nói
- Người không đồng ý tham gia phỏng vấn
- Người quá mệt không thể trả lời phỏng vấn
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 2/5/2013 đến ngày 18/5/2013 tại Khoa nội Thận Bệnh viện
Trung ương Huế.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2. Cỡ mẫu: Chon 31 bệnh nhân đang điều trị từ ngày 2 đến ngày 5 tại Khoa
nội Thận BVTW Huế.
2.2.3. Các bƣớc nghiên cứu
Qua nghiên cứu trên, tôi đã phỏng vấn được 46 người bệnh
- 2/5/2013 đến 4/5/2013: phỏng vấn
- 5/5/2013 đến 7/52013: xử lí số liệu
- 8/5/2013 đến 16/5/2013: viết báo cáo

12

2.2.4. Phƣơng pháp điều tra số liệu
- Dùng phiếu điều tra gồm 8 câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với mọi
trình độ và nhận thức của đối tượng nghiên cứu.
- Phỏng vấn trực tiếp 31đối tượng nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Hành vi chăm sóc của bệnh nhân suy thận mạn tại Khoa Nội Thận
bệnh viện Trung ương Huế

Bảng 3.1. Phân theo giới
Giới
n
Tỷ lệ %
Nam
14
45,2
Nữ
17
54,8
Tổng
31
100

Nhận xét: Bênh nhân suy thân mạn có tỷ lệ nam (45,2%) nữ 54,8%)
3.1.2. Tuổi

Biểu đồ 3.1. Phân bố theo tuổi

Nhận xét: Nhóm 21-40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (41,9%)
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45

3.1.4. Trình độ học vấn
Biểu đồ 3.2. Phân bố theo trình độ học vấn

Nhận xét: Trình độ trung học phổ thông cao nhất , chiếm tỉ lệ 35,5%
0
5
10
15
20
25
30
35
40
Tiểu học Trung học cơ sở
Trung học phổ
thông
Đại học, sau đại
học
9,7
25,8
35,5
29
Tỷ lệ %
TĐHV
15

3.2. ĐÁNH GIÁ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA BỆNH NHÂN SUY

23
74,2
Tình trạng phù
25
80,6
Cân nặng
21
67,7
Tác dụng phụ của thuốc
12
38,7
Tất cả ý trên
8
25,8
Không biết
2
6,5

Nhận xét: Tình trạng phù chiếm đa số với 80,6%. Có 2 bệnh nhân (6,5%),
không biết theo dõi gì
16

3.2.3. Những thức ăn thích hợp, an toàn
Bảng 3.5. Những thức ăn thích hợp, an toàn
Những thức ăn thích hợp, an toàn
n
Tỷ lệ %
Miến dong
22
71,0

74,2
Các phủ tạng động vật, thịt gà, thịt ngỗng
21
67,7
Măng (tren) , muối, chuối
19
61,3
Tất cả ý trên
15
48,4
Không biết
2
6,5

Nhận xét:
Thuốc lá, cà phê chiếm 74,2%; Các phủ tạng động vật, thịt gà, thịt ngỗng
chiếm 67,7%, măng, muối : 61,3%. 2 bệnh nhân không biết ( 6,5%)
17

3.2.5. Số lƣợng nƣớc tối thiểu phải đƣợc đƣa vào cơ thể hằng ngày
Bảng 3.7. Số lượng nước tối thiểu phải được đưa vào cơ thể hằng ngày
Số lượng nước tối thiểu
phải được đưa vào cơ thể hằng ngày
n
Tỷ lệ %
300 ml/ ngày
6
19,4
500 ml/ ngày
15

Vận động thích hợp
n
Tỷ lệ %
Nghỉ ngơi hoàn toàn tại giường
14
45,2
Lao động vừa sức nhẹ nhàng
17
54,8
Làm những việc nặng nhọc
0
0,0
Tổng
31
100

Nhận xét: Lao động vừa sức nhẹ nhàng chiếm đa số với 54,8%; nghỉ
ngơi hoàn toàn 45,2%
18

3.2.8.Lý do cần đển tái khám
Bảng 3.10. Lý do cần đển tái khám
Lý do cần đển tái khám
N
Tỷ lệ %
Tiểu nhiều lần vào ban đêm
26
83,9
Nước tiểu có màu sắc khác thường
25

không thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ. Riêng độ tuổi 16-24 thì thấy nam
nhiều hơn nữ. Không thấy có sự khác biệt giữa các vùng, địa dư, lứa tuổi hay
gặp là lứa tuổi lao động từ 16-54 tuổi nên ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của
cộng đồng. Trong điều tra của chúng tôi thì bênh nhân suy thân mạn có tỷ lệ
nam (45,2%) nữ (54,8%) (bảng 3.1); Nhóm 21-40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất
(41,9%) (biểu đồ 3.1); Sinh viên học sinh chiếm tỉ lệ cao nhất (38,7) ( bảng
3.2 ); Trình độ trung học phổ thông cao nhất , chiếm tỉ lệ 35,5% ( biêu đồ 3.2)

4.2. ĐÁNH GIÁ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA BỆNH NHÂN SUY
THẬN MẠN
4.2.1. Hiểu biết về tình hình bệnh tật của bản thân
Diễn tiến của suy thận mạn xảy ra từ từ , với những triệu chứng rất kín
đáo trong giai đoạn đầu do đó bệnh nhân không biết được mình mắc bệnh. Khi
diển tiến đến mức độ trầm trọng, bệnh nhân mới chú ý. Vì thế bệnh thường đến
cơ sở y tế muộn. Trong điều tra của chúng em, có 87,1% bệnh nhân hiểu về tình
hình bệnh tật của mình; 12,9% hoàn toàn không hiểu biết.( bảng 3.4)

20

4.2.2. Theo dõi các biểu hiện bất thƣờng của bệnh suy thận mạn
Biểu hiệu của suy thận mạn lúc đầu với các triệu chứng rất kín đáo, mơ
hồ, kém đặc hiệu, do đó một số triệu chứng mà người bệnh không hiểu , hoặc
không biết để theo dõi. Những dấu hiệu đặc trưng cho biểu hiệu của suy thân
mạn là thiếu máu kéo dài, tăng huyết áp, phù. Trong điều tra của chúng em,số
bệnh nhân theo dõi tình trạng phù chiếm đa số với 80,6%; kế tiếp là lượng và
màu sắc nước tiểu với 74,2%. Tuy nhiên với 2 dấu hiệu cơ bản là thiếu máu và
tăng huyết áp thì việc theo dõi 2 biểu hiệu này chỉ có 45,2% và 48,4%. Có 12
bệnh nhân (38,7%) theo dõi các tác dụng phụ của thuốc.Có 2 bệnh nhân (6,5%),
không biết theo dõi gì ( bảng 3.4)
4.2.3. Những thức ăn thích hợp, an toàn

chiếm 48,4% ( bảng 3.7)
4.2.6. Vệ sinh sạch sẽ hàng ngày
Vệ sinh hằng ngày là một tong những hướng dẫn quan trọng cho người bị
suy thận mạn, Tránh nhiễm trùng là một trong những biện pháp cần chú ý bì khi
nhiễm trùng đặc biệt là nhiễm trùng da, hệ hô hấp hay đường tiểu sẽ làm cho
bệnh nặng hơn . Vệ sinh hàng ngày được nhóm bệnh nhân của chúng tôi chọn
với tỉ lệ là 87,1% ( bảng 3.8)
4.2.7. Vận động thích hợp
Vận động rất cần thiết cho tất cả mọi người, ngay cả bệnh nặng. Tuy
nhiên tùy giai đoạn bệnh nhân cần được nằm nghỉ tại giường hay lao động nhẹ.
Trong suy thận mạn nếu có biểu hiệu suy tim nặng kèm theo thì nằm nghỉ tại
giường được xem là chỉ định. Trong điều tra của này thì lao động vừa sức nhẹ
nhàng chiếm đa số với 54,8%; nghỉ ngơi hoàn toàn 45,2% ( bảng 3.9)
3.2.8. Lý do cần đển tái khám
Bệnh suy thận mạn là bệnh cả đời vì thế ngoài giai đoạn nặng cần nằm tại
bệnh viện để theo dõi, bệnh nhân có thể về nhà khi những dấu hiệu nặng tạm ổn,
Vì thế cần hướng dẫn cho bệnh nhân biết khi nào cần tái khám. Phù tăng, tiểu ít
22

hay xuất huyết, có một số biểu hiệu về thần kinh hay vô niệu là cần thăm khám
gấp Nhóm bệnh của chúng tôi , thì tái khám khi bị phù với 87,1%; nỗi mẫn
ngứa ( 83,9%); tiểu nhiều lần vào ban đêm ( 83,9%) hay nước tiểu có màu sắc
khác thường (80,6%). 3 bệnh nhân không biết lý do ( bảng 3.10) 23

KẾT LUẬN

Qua 31 bệnh nhân nằm điều trị tại khoa nôi- tiết niệu bệnh viện trung


Bệnh suy thận mạn nếu không biết phòng ngừa hay phát hiện sớm thì rất
ảnh hưởng đến sức khỏe của con người . Tuy nhiên sự hiểu biết bệnh này còn
hạn chế trong nhân dân vì thế cần giáo dục – tuyên truyền qua những phương
tiện truyền thông cần được đặt ra. 25

TRƢỜNG ĐH Y DƢỢC HUẾ
KHOA ĐIỀU DƢỠNG



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status