Cơ cấu dân số vàng ở việt nam cơ hội, thách thức và các khuyến nghị chính sách - Pdf 19


1 CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG Ở VIỆT NAM:
CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

GIANG THANH LONG
Khoa Kinh tế học, ĐH Kinh tế Quốc dân
Email:

BÙI THẾ CƯỜNG
Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ
Email:
I. GIỚI THIỆU 11

II. DÂN SỐ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 12

1. Ba luận điểm về mối liên hệ dân số và tăng trưởng kinh tế 12

2. Cơ cấu dân số vàng và tăng trưởng kinh tế ở một số nước 14

III. DÂN SỐ VIỆT NAM: ĐẶC ĐIỂM CƠ CẤU TUỔI VÀ GIAI ĐOẠN CƠ CẤU
VÀNG
23

1. Đặc điểm cơ cấu tuổi của dân số Việt Nam trong thời gian qua 23

2. Dự báo dân số và giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” ở Việt Nam 25

IV. CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ CÁC KHUYẾN
NGHỊ CHÍNH SÁCH
28

1. Chính sách giáo dục và đào tạo 29

2. Chính sách lao động, việc làm và nguồn nhân lực 34

3. Chính sách dân số và y tế 42

4. Chính sách an sinh xã hội toàn diện, hướng đến dân số già 47

V. MỘT SỐ KẾT LUẬN 53


5

TÓM TẮT CHI TIẾT
Các dự báo dân số Việt Nam đều cho thấy kỷ nguyên “dân số vàng” sẽ xuất
hiện ở Việt Nam trong một vài năm nữa, và đây là cơ hội “vàng” để Việt Nam hạ
thấp tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, đẩy mạnh giáo dục và đào tạo, sử dụng
nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Báo cáo này dựa trên
các dự báo dân số đó để chỉ ra sự biến động cơ cấu tuổi của dân số theo thời gian để
thấy được sự biến đổi cơ cấu dân số theo tuổi ở Việt Nam trong quá khứ và tương
lai. Để tận dụng được cơ cấu dân số vàng, báo cáo tập trung phân tích cơ hội, thách
thức và đưa ra một số kiến nghị cho bốn nhóm chính sách chủ yếu, đó là chính sách
giáo dục và đào tạo, chính sách lao động, việc làm và nguồn nhân lực; chính sách
dân số và y tế; và chính sách an sinh xã hội toàn diện hướng đến dân số già trong
vài thập kỷ nữa.
Cơ hội, thách thức và một số khuyến nghị chính sách chủ yếu của bốn nhóm
chính sách này như sau:
Chính sách giáo dục và đào tạo:
 Cơ hội:
- Số lượng và tỷ lệ trẻ em sẽ giảm nên có điều kiện nâng cao chất lượng giáo
dục tiểu học và PTCS.
- Lực lượng lao động lớn và quá trình tái cấu trúc nền kinh tế sẽ tạo ra nhu cầu
lớn về đào tạo nghề.
- Dân số cao tuổi có trình độ học vấn, kỹ năng đã tăng lên và vẫn hoạt động
kinh tế nên việc tham gia đào tạo thế hệ trẻ sẽ tạo hiệu ứng tích cực.
 Thách thức:
- Khả năng tiếp cận đến dịch vụ giáo dục rất khác biệt giữa các nhóm dân số,
trong đó người nghèo và thiểu số có khả năng tiếp cận rất thấp.
- Kết quả giáo dục chưa cao và chưa thể đáp ứng yêu cầu hiện nay; chất lượng
giáo dục rất khác biệt giữa các nhóm dân số.
- Đầu tư cho giáo dục chưa có hiệu quả cao và đúng trọng tâm.

- Tăng cơ hội việc làm, đặc biệt là cho thanh niên.
- Bình đẳng giới trên thị trường lao động.
- Lập chiến lược toàn diện về phát triển nguồn nhân lực, trong đó đào tạo nghề
đóng vai trò quan trọng.
- Đảm bảo nguồn tài chính cho đầu tư, tăng trưởng.
- Chính sách di dân đảm bảo phân bố dân số và lao động hợp lý cho các vùng,
khu vực.

7

- Thúc đẩy xuất khẩu lao động với vai trò tạo việc làm và thu nhập có chất
lượng.
Chính sách dân số và y tế:
 Cơ hội:
- Dân số trẻ em giảm nên có nhiều nguồn lực hơn cho việc nâng cao chất
lượng dịch vụ y tế; giảm tỷ lệ chết trẻ sơ sinh và trẻ em; giảm suy dinh
dưỡng…
- Dù tiềm năng sinh đẻ tăng lên (vì phụ nữ 15-49 tăng cho đến 2020) nhưng
với trình độ giáo dục được nâng cao và ý thức kế hoạch hóa gia đình đã phổ
biến và bền vững nên chính sách dân số phù hợp sẽ thúc đẩy việc giảm tốc
độ tăng dân số và nâng cao chất lượng nhân lực.
- Dân số cao tuổi tăng nhưng nếu khỏe mạnh sẽ đóng góp đáng kể cho nền
kinh tế bằng cách hoạt động kinh tế và giảm thiểu chi phí y tế.
 Thách thức:
- Phát triển gây ô nhiễm môi trường hệ lụy nặng nề đến sức khỏe và vấn đề dị
tật bẩm sinh
- Sức khỏe sinh sản đã cải thiện nhưng vẫn còn nhiều thách thức đặc biệt là
HIV và nạo phá thai.
- Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em còn lớn, nhất là miền núi.
- Xu hướng và nguyên nhân chết thay đổi nhanh chóng.

con cái di cư…).
- Hệ thống hưu trí hiện nay sẽ đối mặt với thách thức tài chính và công bằng,
một phần là do dân số già trong tương lai.
- Các chương trình mục tiêu dành cho các nhóm yếu thế được thực hiện nhưng
chưa đạt hiệu quả cao.
 Khuyến nghị chính sách:
- Cần cải cách hệ thống hưu trí hiện nay sang tài khoản cá nhân với bước
chuyển tiếp là tài khoản cá nhân tượng trưng. Đa dạng hóa các hình thức bảo
hiểm để các nhóm đối tượng có khả năng tiếp cận tốt hơn.
- Hệ thống trợ cấp xã hội cần hướng đến hình thức phổ cập.
- Bảo vệ người cao tuổi trước các rủi ro về y tế, thu nhập… bằng các hình thức
bảo hiểm đa dạng, trong đó có BHXH tự nguyện và bảo hiểm bổ sung tuổi
già cần được chú trọng ngay từ bây giờ.
- Chú trọng vào các chương trình trợ cấp để giảm nghèo cho trẻ em và thanh
niên.
Ngoài những chính sách cụ thể trên, việc nhận thức đúng vai trò của dân số
trong phát triển, tạo môi trường chính sách phù hợp để các yếu tố dân số phát huy

9

và thúc đẩy việc nghiên cứu chính sách dân số thiết thực, có trọng tâm là những
bước cần làm đối với các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.

10

này là “cơ cấu dân số vàng” – tình trạng dân số với tỷ lệ phụ thuộc thấp và tỷ lệ dân
số trong độ tuổi lao động cao – sẽ không kéo dài mãi mãi và “lợi tức” từ cơ cấu
“vàng” sẽ không tự đến nếu chính phủ các nước không có chính sách phù hợp.
Bloom và cộng sự (2003), Ross (2004), Mason và cộng sự (2008) và nhiều nhà
nghiên cứu khác đã chỉ ra điều này bằng các nghiên cứu thực chứng cho nhiều nước
với trình độ phát triển kinh tế khác nhau.
Dân số Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ phát triển khác nhau cùng với những
biến động lịch sử nên đã chứng kiến sự thay đổi lớn về tỷ suất sinh và tỷ suất chết.
Với chính sách kế hoạch hóa gia đình được tiến hành từ những năm 1960 cho đến
nay, tổng tỷ suất sinh đã giảm nhanh chóng từ mức 4,8 năm 1979 xuống mức 2,33
vào năm 1999 và 2,08 vào năm 2007, tức là tổng tỷ suất sinh đã đạt mức thay thế.
Gắn liền với quá trình này là biến động của tỷ số phụ thuộc chung giảm từ mức 98
vào năm 1979 xuống 70 vào năm 1999 và 54 vào năm 2007 (Tổng cục Thống kê,
2008). Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học với sự
biến động mạnh mẽ của cơ cấu dân số theo tuổi, trong đó dân số trong độ tuổi lao
động đang gia tăng nhanh và tỷ số phụ thuộc chung giảm mạnh. Cũng trong giai
đoạn này, chính sách cải cách từ công cuộc Đổi mới đã chuyển Việt Nam từ một
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường với những thành tựu kinh tế và xã
hội hết sức ấn tượng (Haughton và cộng sự, 1999, 2001; Glewwe và cộng sự, 2004).
Để phát huy được các thành tựu đó, chiến lược dân số phải trở thành một trong
những chiến lược quan trọng hàng đầu cho giai đoạn phát triển KT-XH tiếp theo,
đặc biệt là giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu cơ bản trở thành một nước công

12

nghiệp và được xếp vào nhóm các nước có thu nhập trung bình. Trong hàng loạt câu
hỏi chính sách và chiến lược có liên quan đến dân số thì một số câu hỏi hết sức quan
trọng cần phải được nghiên cứu, phân tích cụ thể như biến động cơ cấu tuổi ở Việt
Nam đang và sẽ diễn ra theo xu hướng nào; giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” diễn ra
trong thời gian nào và Việt Nam phải có chiến lược, chính sách gì thích ứng để tận

Phần này dựa chủ yếu vào nghiên cứu của Bloom và cộng sự (2003)

13

với các nước đang phát triển đang trải nghiệm những biến động dân số mạnh mẽ do
tác động của các chính sách dân số thì nhu cầu này lại càng cấp thiết hơn bao giờ
hết. Cho đến nay, lịch sử dân số học đã trải qua ba quan điểm về mối quan hệ giữa
dân số và tăng trưởng kinh tế với những lý luận và bằng chứng khác nhau: (1) Lý
thuyết dân số học “bi quan” với lập luận chủ yếu là tăng dân số tác động tiêu cực
đến tăng trưởng kinh tế; (2) Lý thuyết dân số học “lạc quan” lại cho rằng tăng dân
số có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế; và (3) Lý thuyết dân số học “trung
tính” cho rằng dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế theo chiều hướng tích cực
hay tiêu cực còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện khác.
1.1. Lý thuyết dân số học “bi quan”
Người khởi xướng lý thuyết này là Thomas Malthus thông qua cuốn sách
Thực chứng về quy luật dân số của ông viết năm 1789. Ông cho rằng, trong bối
cảnh nguồn lực bị giới hạn, nhu cầu lương thực ngày càng tăng và tiến bộ công
nghệ chậm chạp sẽ làm trầm trọng hơn sức ép từ việc tăng dân số. Vì thế, nhu cầu
lương thực sẽ luôn thấp hơn mức cần thiết và điều này sẽ chỉ dừng lại khi mức tăng
dân số bị chậm lại do tỷ lệ chết cao hơn. Đặc biệt từ cuối thập niên 1940 cho đến
những năm 1970, hàng loạt nghiên cứu với luận điểm “bi quan” cho rằng dân số ảnh
hưởng hết sức tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế vì dân số tăng nhanh sẽ đe dọa đến
nguồn cung lương thực và tài nguyên tự nhiên. Các nhà hoạch định chính sách ủng
hộ luận điểm này đã tiến hành thực hiện hàng loạt chính sách dân số nghiêm ngặt
nhằm giảm tỷ lệ sinh. Họ cho rằng tốc độ tăng dân số chậm sẽ cải thiện tăng trưởng
kinh tế vì nguồn lực sẽ được tiết kiệm và sử dụng cho mục đích thúc đẩy tăng
trưởng thay vì được sử dụng cho mục đích sinh sản, cũng như góp phần giảm tải
cho cơ sở hạ tầng và môi trường. Một ví dụ được đưa ra là những cải tiến trong
nông nghiệp ở Trung Quốc đã góp phần cải thiện đời sống, nhưng vì tăng trưởng
dân số quá nhanh nên mức cải thiện đó hầu như không đáng kể.

Từ những tóm tắt nêu trên, một điều hết sức rõ ràng là chúng ta có thể ủng hộ
bất kỳ luận điểm nào trong số ba luận điểm nêu trên khi phân tích tác động của tăng
dân số đến tăng trưởng kinh tế nếu có thể xây dựng được các mô hình lý thuyết và
thực chứng với những số liệu cần thiết để bảo vệ luận điểm của mình. Tuy nhiên,
điểm chung nhất có thể thấy là các lý thuyết này đánh giá tác động của tăng dân số
đến tăng trưởng và phát triển kinh tế chủ yếu qua hai nhân tố chính là tốc độ tăng
dân số và quy mô dân số, nhưng lại đã bỏ qua một cấu thành hết sức quan trọng là
cơ cấu tuổi của dân số. Cơ cấu tuổi thể hiện sự phân bố tổng dân số theo các độ tuổi
hay nhóm tuổi khác nhau. Do mỗi nhóm tuổi trong dân số có một đặc trưng khác
nhau (ví dụ như lao động, tiêu dùng…) nên chúng sẽ có những tác động khác nhau
về mặt kinh tế. Ví dụ, nhóm dân số trẻ cần được đầu tư nhiều cho sức khỏe và giáo

15

dục để có thể tạo ra một lực lượng lao động tốt, trong khi nhóm dân số cao tuổi cần
được đầu tư một hệ thống chăm sóc y tế tốt cùng với một hệ thống hưu trí và trợ cấp
xã hội bền vững. Khi quy mô của các nhóm tuổi này thay đổi cũng đồng nghĩa với
sức ép và cơ hội kinh tế sẽ thay đổi theo bởi chúng sẽ tác động đến mức tăng trưởng
kinh tế và thu nhập bình quân đầu người. Vì lý do này mà bên cạnh việc quan tâm
đến quy mô và tốc độ thay đổi dân số, các nhà hoạch định chính sách cần phải tính
đến sự thay đổi cơ cấu tuổi của dân số trong các chiến lược phát triển của mình. Nói
cụ thể hơn, họ phải tính toán xem khi nào dân số đạt được “cơ cấu vàng”, cơ cấu
này sẽ kéo dài trong bao lâu, và phải tận dụng cơ cấu này thế nào cho quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế, xã hội.
Vậy “cơ cấu dân số vàng” là gì và các nước đã áp dụng các chiến lược, chính
sách gì để tận dụng nguồn lực dân số trong bối cảnh đó? Phần tiếp theo sẽ trả lời
các câu hỏi này.
2.1. Khái niệm “cơ cấu dân số vàng”
Khi bàn luận tác động của dân số đến phát triển kinh tế  xã hội, đặc biệt đối
với các chương trình, chính sách xã hội dài hạn, chúng ta thường đề cập đến khả

2.2. “Cơ cấu dân số vàng” và tăng trưởng kinh tế ở một số nước
Những nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy tác động của biến động dân
số đến tăng trưởng kinh tế ở mức độ nào phụ thuộc vào cách thức biến động cơ cấu
tuổi dân số cũng như một số các nhân tố môi trường, chính sách. Nhìn chung, tốc độ
tăng dân số cao có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng mức giảm này
phụ thuộc vào điều kiện tăng trưởng và xuất phát điểm của từng nền kinh tế, từng
khu vực.
Hình 1. Quan hệ tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, 1975-2004 Châu Á Châu Âu Châu Phi Châu Mỹ La tinh
Chú thích: Các đường trong các hình vẽ thể hiện quan hệ giữa tốc độ tăng GDP bình quân đầu người với
tốc độ tăng dân số trong giai đoạn 1975-2004.
Nguồn: Cục Tham chiếu Dân số (2007).
Hình 1 mô tả mối quan hệ giữa tăng dân số và tăng trưởng kinh tế ở Châu Á,
Châu Âu, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi trong giai đoạn 1975-2004. Có thể thấy,
tăng dân số có tác động rất khác nhau với từng khu vực và quốc gia. Ví dụ, cùng với
-1
0
1
2
3
4
5
6
7
8

Growing econo
my

Declining population

Declining economy

Botswan
Lesoth
Sierra
Leone

Tốc độ tăng
dân số
-1
0
1
2
3
4
5
6
7
8
-10 -5 0 5 10 15
Population Growth Rate
GDP per Capita Growth Rate

Growing population
Growing economy

Declining
population

Declining
Chin
a

Kuwait Malaysia
Tốc độ tăng
dân số
Giảm
Tăng17

tốc độ tăng dân số khoảng 1,5% trong giai đoạn 1975-2004 nhưng Trung Quốc có
tốc độ tăng GDP bình quân đầu người ở mức 7,4%, trong khi Trinidad và Tobago
chỉ đạt khoảng 3,5%.
Hình 2. Giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” ở một số nước trên thế giới


2050
1950 1975 2000 2025 2050
Chad
Ghana
Malawi
China
India
South Korea
Bolivia
Brazil
Guatemala
Czech Republic
Poland

18

“thần kỳ” chứng kiến tỷ lệ chi cho giáo dục và y tế tăng lên nhanh chóng và gắn liền
với chúng là sự tăng trưởng mạnh về việc làm và năng suất lao động trong các
ngành dịch vụ và sản xuất, cũng như năng suất lao động của khu vực nông nghiệp
(Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan). Kết quả đó nhờ một phần vào sự sụt giảm nhẹ
của tổng tỷ suất sinh bởi vì dân số trong độ tuổi đến trường giảm nên tăng chi tiêu
cho giáo dục có thể thực hiện được mà không cần phải tăng quá nhiều thuế, và bản
thân các hộ gia đình có thu nhập cao hơn nên cũng có khả năng chi tiêu nhiều hơn
cho giáo dục và y tế. Kết quả là nguồn nhân lực của khu vực này được cải thiện
đáng kể. Một điểm nhấn khác cũng rất quan trọng là vấn đề bình đẳng giới trong y
tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực xã hội đã được quan tâm trong chính sách phát triển
của các nước Đông Á, và kết quả là tỷ lệ lao động nữ ngày càng tăng và điều này
giúp cải thiện được vị thế và sức khỏe sinh sản của họ. Tiết kiệm và đầu tư cũng có
vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế “thần kỳ” của khu vực này. Bên cạnh
các nhân tố quan trọng đó, kết luận về sự phát triển của khu vực Đông Á là các

chăm sóc y tế được xây dựng nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu mang tính đặc trưng
của từng vùng, khu vực. Ngay từ đầu những năm 1950 chính phủ Nhật Bản đã xây
dựng chiến lược an sinh xã hội sâu rộng, đặc biệt là hưu trí và bảo trợ xã hội, nhằm
đảm bảo và hỗ trợ đời sống của hàng triệu người lao động. Hệ thống an sinh xã hội
nhiều tầng do nhà nước xây dựng và quản lý đã giải quyết được một lượng lớn nhu
cầu của người Nhật Bản.
Tuy nhiên, “cơ cấu dân số vàng” dần kết thúc trong bối cảnh tổng tỷ suất
sinh ngày càng giảm mạnh (xuống mức 1,3 vào năm 2007) nên Nhật Bản lại đối
mặt với một vấn đề dân số nghiêm trọng là tỷ số phụ thuộc già tăng nhanh chưa
từng có. Trong bối cảnh đó, chính phủ Nhật Bản hiện đang tìm mọi biện pháp chính
sách để giảm thiểu gánh nặng từ “làn sóng chuyển đổi dân số lần thứ hai”
3
này, đặc
biệt là cho hệ thống hưu trí thực thanh thực chi (PAYG – Pay-As-You-Go)
4
cùng
với nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái và thiếu công việc đủ thời gian. Nghiên cứu
của Hewitt (2003) [theo trích dẫn của Fang và Dewen (2005)] cho thấy dân số già
nhanh và hệ thống hưu trí không thích ứng là hai trong nhiều nguyên nhân dẫn đến
đình trệ kéo dài của nền kinh tế Nhật Bản vào cuối những năm 1990. Đây cũng
chính là bài học bổ ích cho các nước có dân số trẻ và đang được hưởng “cơ cấu dân

3
Làn sóng thứ nhất là làn sóng chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng trẻ hóa (nhiều người trong độ tuổi lao
động), trong khi làn sóng thứ hai là làn sóng chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng già hóa (dân số cao tuổi
tăng nhanh).
4
Hệ thống hưu trí PAYG dựa trên nguyên tắc tài chính là các khoản đóng góp hiện nay được dùng để chi trả
cho các khoản thanh toán (hưu trí, tử tuất) của người đang được hưởng. Sau đó, khi người đóng góp về hưu,
họ lại được chi trả bằng phần đóng góp của các thế hệ tương lai. Trong bối cảnh dân số già hóa (nhiều người

tỷ suất sinh ngày càng giảm và chỉ đạt ở mức 1,3 vào năm 2007, chính phủ Hàn
Quốc đã và đang xây dựng chiến lược an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách hưu trí
và chăm sóc y tế cho người cao tuổi, để tránh “vết xe đổ” của các nước đi trước như
Nhật Bản.
Khu vực Đông Nam Á
Quá trình chuyển đổi dân số của các nước Đông Nam Á diễn ra chậm hơn so
với các nước Đông Á. Dữ liệu của United Nations (2007) cho thấy, các nước này

21

mới bắt đầu hưởng lợi từ “cơ cấu dân số vàng” gần đây mà sớm nhất là Singapo
(năm 1980) và muộn nhất là Phi-lip-pin (năm 2030) với độ dài trung bình là 30 năm
(Bảng 1). Giai đoạn 1950-1990 chứng kiến mức tăng dân số rất cao ở một số nước
Đông Nam Á như In-đô-nê-sia và Việt Nam. Chính sách kế hoạch hóa gia đình và
sự cải thiện đáng kể của hệ thống y tế đã làm giảm cả tỷ suất sinh và tỷ suất chết ở
các nước này.
Bảng 1. Tỷ số phụ thuộc chung khu vực Đông Nam Á, 1950-2050
Năm Singapore Thái Lan Indonesia Malaysia Philippines
1950 75 83 76 85 89
1955 77 82 74 88 93
1960 83 87 76 95 96
1965 86 92 81 98 97
1970 73 91 83 92 93
1975 59 85 82 85 90
1980
47
74 78 75 86
1985
42
59 72 74 83

2045 79 59 53
50 47
2050 78 62 56 53
48
Chú thích: Tỷ số phụ thuộc chung được tính bằng tỷ số giữa tổng dân số trẻ em (0-14) và dân số cao
tuổi (65+) với 100 người độ tuổi lao động (15-65).
Nguồn: United Nations (2007).
Ước lượng của ADB (1997) cho thấy lợi tức dân số ở Đông Nam Á đóng góp
khoảng 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng thu nhập đầu người hàng năm, trong khi
kết quả tính toán của Bloom và Williamson (1998) là khoảng 1,0 điểm phần trăm.
Rõ ràng, lợi tức dân số của khu vực Đông Nam Á hiện nay sẽ không lớn như lợi tức
dân số của khu vực Đông Á thời kỳ 1960-1990. Một trong những nguyên nhân quan
trọng lý giải cho vấn đề này là tỷ lệ tăng dân số hoạt động kinh tế với tỷ lệ tăng dân
số không hoạt động kinh tế không khác nhau nhiều như ở khu vực Đông Á nên lợi
tức dân số của khu vực này cũng thấp hơn so với khu vực Đông Á (Bloom và cộng
sự, 2003).

22

Bên cạnh các gói chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng xuất
khẩu, một điểm nhấn chính sách quan trọng chung ở các nước khu vực này trong
việc lồng ghép dân số với tăng trưởng và phát triển kinh tế là chiến lược giáo dục và
y tế. Việc Singapo tận dụng dấu hiệu của chuyển đổi dân số từ cuối những năm
1970 cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng mức bao phủ và chất lượng của hệ
thống giáo dục là một minh chứng cụ thể, trong khi Phi-lip-pin có cùng chất lượng
nguồn nhân lực xét theo mức độ giáo dục và y tế nhưng lại tăng trưởng chậm do tỷ
lệ sinh quá cao và chất lượng thể chế chưa tốt (Navaneetham, 2002). Malaysia đầu
tư xây dựng các cụm trường đào tạo nhân công chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu
phát triển của các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế tạo, với vai trò là
nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở nước này trong hơn hai thập kỷ vừa qua.


tuổi cũng là một câu hỏi chính sách quan trọng đối với các nước này, thậm chí ngay
cả khi họ đang hưởng “lợi tức dân số vàng”.
III. DÂN SỐ VIỆT NAM: ĐẶC ĐIỂM CƠ CẤU TUỔI VÀ GIAI ĐOẠN CƠ
CẤU VÀNG
1. Đặc điểm cơ cấu tuổi dân số Việt Nam thời gian qua
Biến động dân số Việt Nam trong thế kỷ 20 diễn biến hết sức phức tạp do tác
động của hai cuộc chiến tranh kéo dài. Sau năm 1975 khi đất nước giải phóng hoàn
toàn thì chính sách dân số – chính sách được thực hiện ở miền Bắc từ cuối những
năm 1950 – đã được thực thi thống nhất trên toàn quốc [xem thêm Barbieri và cộng
sự (1996) mô tả chi tiết về xu hướng dân số Việt Nam trước năm 1975]. Dân số
Việt Nam trong ba thập kỷ vừa qua có một số đặc điểm đáng chú ý về cơ cấu tuổi
như sau.
Bảng 2. Cơ cấu tuổi dân số Việt Nam, 1979-2007
Số người (triệu người) Tỷ lệ (% tổng dân số) Năm
Tổng 0-14 15-59 60+ 0-14 15-59 60+
1979 53,74 23,40 26,63 3,71 41,8 51,3 6,9
1989 64,38 24,98 34,76 4,64 39,2 53,6 7,2
1999 76,33 25,56 44,58 6,19 33,0 58,9 8,1
2006 83,89 22,06 54,11 7,72 26,3 64,5 9,2
2007 85,15 21,73 55,38 8,04 25,0 65,5 9,5
Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và Tổng cục thống kê (2007, 2008).
Thứ nhất, cơ cấu tuổi dân số biến động mạnh, đặc biệt là những năm gần
đây.
Bảng 2 cho thấy, tỷ lệ trẻ em (0-14) giảm rất nhanh (từ 39% vào năm 1989
xuống 25% vào năm 2007, tương ứng với 25 triệu người xuống 22 triệu người),
trong khi tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-59) tăng nhanh (từ 53,6% năm
1989 lên 65,5% năm 2007, tương ứng 34,8 triệu người lên 55,4 triệu người) và tỷ lệ
dân số cao tuổi cũng tăng không ngừng (từ 7,2% năm 1989 lên 9,5% năm 2007,
tương ứng với mức tăng từ 4,6 triệu người lên 8 triệu người). Kết quả là, tỷ số phụ

50-54 3,27 2,90 2,80 5,23
55-59 2,95 3,00 2,36 3,43
Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và Tổng cục thống kê (2008).
Trong khi dân số Việt Nam tăng từ 52,8 triệu người năm 1979 lên 84,3 triệu
người năm 2007 thì tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động so với tổng dân số và chia
theo nhóm tuổi lại không thay đổi đáng kể. Nói cách khác, số tuyệt đối dân số trong
tuổi lao động tăng lên mạnh. Dân số trong nhóm tuổi từ 15 đến 49 tăng lên rõ rệt
nhất, từ 44,27% tổng dân số năm 1979 (hay 23,37 triệu người) lên 56,38% tổng dân
số năm 2007 (hay 41,4 triệu người).
Thứ tư, cùng với sự gia tăng nhanh của dân số trong độ tuổi lao động thì dân
số Việt Nam đã có những dấu hiệu của quá trình già hóa. Tốc độ già hóa dân số lớn
hơn tốc độ tăng dân số (Bảng 5).

25

Bảng 5. Cơ cấu tuổi dân số cao tuổi ở Việt Nam, 1979-2004
Nhóm tuổi (% tổng dân số) 1979 1989 1999 2002 2004 2006
60-64 2,28 2,40 2,31 2,46 2,65 2,51
65-69 1,90 1,90 2,20 2,29 2,27 2,31
70-74 1,34 1,20 1,58 1,97 2,07 1,95
75-79 0,90 0,80 1,09 1,26 1,41 1,62
80+ 0,54 0,70 0,93 1,26 1,50 1,53
Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và tính toán của tác giả cho các năm
2004 và 2006 dựa vào số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình 2004 và 2006.
Trong giai đoạn 1979-2006, dân số tăng 1,2 lần thì số lượng người cao tuổi
tăng hơn hai lần (Nguyễn Đình Cử, 2007).
6
Một điểm đáng lưu ý là tỷ lệ người cao
tuổi ở độ tuổi cao (từ 80 tuổi trở lên) có xu hướng tăng lên theo thời gian. Phân tích
của Giang và Pfau (2007) còn cho thấy tỷ lệ nữ giới cao tuổi, đặc biệt ở độ tuổi từ

Trích đoạn Chính sách an sinh xã hội toàn diện hướng đến một dân số già Một vài kết luận chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status