HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH CẤP TÍNH
(SYNDROME CORONARIEN AIGU)
PHẦN III I/ ĐỊNH NGHĨA :
Thuật ngữ hội chứng động mạch vành cấp tính (Syndrome coronarien aigu :
SCA) được sử dụng để chỉ toàn bộ bệnh lý cấp tính của động mạch vành mà
theo truyền thống được chia thành cơn đau thắt ngực (angor), cơn đau thắt ngực
không ổn định (angor instable) và nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde).
Nhồi máu cơ tim là một bộ phận của hội chứng động mạch vành cấp tính và
được định nghĩa như là sự hoại tử cơ tim, được xác nhận bởi một trong hai tiêu
chuẩn sau đây :
Sự gia tăng của các chỉ dấu men (marqueurs enzymatiques) (troponine,
CPK-MB), liên kết với ít nhất một trong những tiêu chuẩn sau đây :
o triệu chứng lâm sàng của cơn đau thắt ngực.
o sự xuất hiện sóng Q bệnh lý.
o sự nâng cao hay hạ của đoạn ST (sus- ou sous-décalage du
segment ST)
o sự can thiệp lên hệ mạch vành (angioplastie)
Những thương tổn giải phẫu bệnh hoại tử cơ tim
Hội chứng động mạch vành được chia thành 2 nhóm : Hội chứng động mạch
vành với nâng cao đoạn ST (SCA avec sus-décalage du segment ST) và hội
chứng động mạch vành không nâng cao đoạn ST (SCA sans élévation du
segment ST). Trong hội chứng động mạch vành không nâng cao đoạn ST,
người ta phân biệt cơn đau thắt ngực không ổn định (angor instable) và nhồi
máu cơ tim không nâng cao đoạn ST. Tập hợp trong cơn đau thắt ngực không
ổn định là cơn đau thắt ngực lúc nghỉ ngơi (angor de repos), cơn đau thắt ngực
Nguy cơ tái nhồi máu hay
chết trong 15 ngày ( % )
Tuổi > hoặc = 65 tuổi 1 0/1 3
> hoặc = 3 yếu tố nguy cơ
động mạch vành :
1 2 3
Tiền sử gia đình
bệnh động mạch
vành
Hút thuốc tích cực
Tăng cholestrol-
huyết
Cao huyết áp
Đái đường
3
4
5
6/7
5
7
12
19
Bệnh tim động mạch vành
(hẹp > hoặc = 50%)
1
Triệu chứng động mạch
tính không có nâng cao đoạn ST. Dường như sự kết hợp aspirine-héparine hữu
ích hơn hết trong ngăn ngừa nguy cơ tử vong hoặc tái phát nhồi máu cơ tim.
Héparine được cho với liều lượng 80 ui/kg rồi 18 ui/kg/h tiêm truyền liên tục
sau đó. Liều lượng phải thích ứng với kết quả của INR (từ 2 đến 2,5). Một
nghiên cứu chứng tỏ HBPM (héparine à bas poids moléculaire, héparine có
trọng lương phân tử thấp) có ưu thế hơn héparine standard (héparine non
fractionnée).Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân của nhóm HBPM được điều
trị với énoxaparine (Lovenox, Clexane) 1mg/kg, mỗi 12 giờ. Hiện nay, do đơn
giản trong sử dụng, kết hợp aspirine-HBPM dường như là điều trị được chọn
lựa của hội chứng động mạch vành cấp tính không nâng cao đoạn ST.
3/ VAI TRÒ CỦA CÁC THUỐC LÀM TAN HUYẾT KHỐI
(THROMBOLYTIQUES) :
Các thuốc làm tan huyết khối (thrombolytiques) hiện tại không có chỉ định
trong điều trị hội chứng động mạch vành cấp tính không có nâng cao đoạn ST.
4/ DERIVES NITRES :
Các dẫn xuất nitré làm giảm hồi lưu tĩnh mạch (retour veineux) bằng cách làm
gia tăng tác dụng dung năng (effet capacitif) của tuần hoàn tĩnh mạch. Vậy
thuốc làm giảm tiền gánh (précharge) của tâm thất phải và làm nhẹ công của
tim. Hơn nữa thuốc này có một tác dụng chống co thắt động mạch vành. Những
dẫn xuất nitré được cho bằng đường dưới lưỡi khi bị cơn đau thắt ngực có thể
làm giảm cơn đau này rất nhanh và là một trắc nghiệm chẩn đoán. Tuy nhiên
không có một công trình nghiên cứu đáng tin cậy nào đã chứng tỏ một lợi ích
nào đó về tỷ lệ tử vong lâu dài liên kết với việc cho những dẫn xuất nitré vào
giai đoạn cấp tính của nhồi máu cơ tim. Thuốc này có thể được cho dưới dạng
spray dưới lưỡi (Natispray, Cédocard ; 1 spray) và/hoặc bằng đường tĩnh mạch
(Lénitral, Cédocard) bằng truyền liên tục. Liều lượng được thích ứng tùy theo
(Décision d’une perfusion précoce)
Các hội chứng động mạch vành cấp tính với nâng cao đoạn ST gồm có nhồi
máu cơ tim ở giai đoạn cấp tính, có hoặc không có sóng Q. Mục đích của điều
trị là mở càng sớm càng tốt động mạch vành gây nên sự thiếu máu cục bộ cơ
tim và tránh tiến triển thành nhồi máu cơ tim với sóng Q có tiên lượng xấu. Tỷ
lệ bệnh tật và tử vong của nhồi máu cơ tim liên hệ trực tiếp với thời hạn tái
thông máu (délai de reperfusion).Vậy chỉ định tái thông máu cấp cứu trước một
hội chứng động mạch vành cấp tính với nâng cao đoạn ST không cần phải bàn
cãi. Có hai kỹ thuật lớn : liệu pháp tan sợi huyết (fibrinolyse) hay tan huyết
khối (thrombolyse) và phẫu thuật tạo hình động mạch vành (angioplastie
transluminale).
1/TAN SỢI HUYẾT (FIBRINOLYSE).
Các thuốc làm tan huyết khối (thrombolytiques) là những thuốc hoạt hóa
plasminogène. Hai thuốc làm tan sợi huyết (fibrinolytiques) hiện được sử dụng
: rt-PA (Actilyse) và TNK-tPA (Métalyse). Các tác nhân này rất đặc hiệu với
sợi huyết. Ưu điểm của TNK-tPA là cho thuốc trực tiếp bằng đường tĩnh mạch
với một liều duy nhất và, có lẽ, một sự giảm tỷ lệ bị những tai nạn xuất huyết,
so sánh với rt-PA. Hiện nay người ta ước tính rằng điều trị làm tan sợi huyết
cấp cứu mang lại một lợi ích chắc chắn nếu điều trị được thực hiện giờ thứ 12
sau khi cơn đau phát khởi. Những tiêu chuẩn tái thông máu (critères de
reperfusion) cho phép đánh giá hiệu quả của điều trị tiêu sợi huyết mặc dầu
những tiêu chuẩn này không hoàn toàn đặc hiệu. Đó là sự xuất hiện một rythme
idioventriculaire accéléré (RIVA) hay một rối loạn nhịp thất, sự biến mất của
cơn đau, sự trở lại đường đẳng điện của đoạn ST và một đỉnh cao sớm của các
chất chỉ dấu men (marqueur enzymatique). Sự tồn tại của một triệu chứng đau
thắt ngực 90 phút sau một điều trị tiêu sợi huyết phải được xem như là một thất
bại của điều trị.Tuy nhiên, chiến lược tiêu sợi huyết đơn thuần bị hạn chế bởi
40
> hay = 80 đến < 90
45
> hay = 90 50CÁC CHỐNG CHỈ ĐỊNH TƯƠNG ĐỐI
Cao huyết áp nghiêm trọng không được điều Cao huyết áp
trị (HA tâm thu > 180mmHg hay HA trương
tâm > 110mmHg).
Can thiệp ngoại khoa quan trọng trong hai
tháng trước đó.
Chấn thương quan trọng hay chấn thương sọ
nhẹ xảy ra trong hai tháng vừa rồi.
Tiền sử tai biến mạch máu não, tai biến thiếu
máu cục bộ tạm thời (AIT) hay sa sút trí tuệ.
Bệnh thần kinh.
Hồi sức tim
hô hấp kéo dài > 10 phút
Đang điều trị kháng đông.
Có thai, đang cho bú, mới sinh dưới 30 ngày.
Tăng nhạy cảm đối với một trong những loại
thuốc được sử dụng.
Nghi lóc động mạch chủ (dissection aortique)
hay viêm màng ngoài tim.
Loét tiêu hóa đang tiến triển.
Ung thư hay các dị dạng trong sọ.
Các bêta-bloqueurs dường như mang lại mối lợi ích khi cho bổ sung trị liệu tiêu
sợi huyết và với điều kiện tôn trọng những chống chỉ định. Một trong những
bêta-bloqueurs thường được sử dụng nhất là aténolol (Ténormin). Sau một liều
tấn công 5-10 mg, thuốc này được tiêm rất chậm dưới sự kiểm tra huyết áp và
monitoring. Mục tiêu là đạt được một tần số tim từ 50-60 đập/phút. Lợi ích
dường như được liên kết với việc cho thuốc sớm (trong 2 giờ đầu).