Vấn đề phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay (tóm tắt) - Pdf 20

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi thời đại lịch sử, vấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của
triết học. Học thuyết Mác là sự tiếp nối và là bước ngoặt trong nhận thức về
phát triển con người. Với bản chất cách mạng và khoa học của mình, học thuyết
Mác về phát triển con người toàn diện đã định hướng cho sự phát triển tiến bộ
tiếp theo của loài người.
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết đó của chủ nghĩa Mác vào hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định:
“con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn
đấu cao nhất của chế độ ta”, rằng “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần
có những con người xã hội chủ nghĩa”. Từ lập trường tư tưởng đó, mọi hoạt động
của Hồ Chí Minh luôn hướng tới việc xây dựng con người Việt Nam mới – con
người phát triển toàn diện. Và với Người, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau”, đào tạo “những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa”, có sự phát triển
toàn diện, “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có đức, vừa có tài, bao giờ cũng là mối
quan tâm hàng đầu.
Lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn
diện làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho đường lối và chiến lược phát
triển con người toàn diện ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành và
thực hiện trên thực tế đường lối và nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp phát
triển con người Việt Nam mới - con người Việt Nam phát triển cả về trí lực lẫn
thể lực, cả về khả năng lao động lẫn tính tích cực chính trị - xã hội, cả về lý
tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá, nhằm thực
hiện thành công chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho công
cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
quốc tế.
Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, trong những năm qua, chúng
ta đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn về phát triển con người toàn diện.
Song, trong bối cảnh nhân loại đã và đang có những bước tiến rất dài trong
chiến lược và thực tiễn phát triển con người; cùng với đó là sự phát triển như vũ

triển toàn diện, đáp ứng sự đòi hỏi của thực tiễn.
Với những lý do trên đây, chúng tôi chọn Vấn đề phát triển con
người toàn diện ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiến cứu cho luận án
tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ quan niệm về phát triển con người toàn diện trong học
thuyết Mác, trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam, luận án phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra trong phát triển
con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay; từ đó, xác định định hướng, đề xuất
một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển con người toàn diện ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
2
Thứ nhất, luận giải quan niệm của C.Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người toàn diện.
Thứ hai, phân tích thực trạng và luận giải những vấn đề đặt ra trong phát
triển con người toàn diện ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua.
Thứ ba, xác định định hướng, đề xuất và luận giải một số giải pháp nhằm
đẩy mạnh phát triển con người toàn diện ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan niệm của C.Mác, tư tưởng Hồ
Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển
con người toàn diện; thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển con
người toàn diện ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu quan niệm của C.Mác về phát triển con người toàn
diện được ông đưa ra trong một số tác phẩm tiêu biểu; đồng thời tập trung

nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tri thức và hội
nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Từ thực trạng phát triển con người toàn diện ở Việt Nam, luận án đã
đưa ra và luận giải một số vấn đề đặt ra: 1) Mâu thuẫn giữa yêu cầu khách
quan của sự phát triển nhanh về con người toàn diện với thực tế phát triển
con người toàn diện ở nước ta còn chậm; 2) Mâu thuẫn giữa yêu cầu cần phải
tạo ra những điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển con người
toàn diện với thực tế yếu kém, bất cập của những điều kiện này là trở lực đối
với phát triển con người toàn diện ở Việt Nam.
- Luận án xác định định hướng cơ bản và đề xuất, luận giải tính khả thi của
một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển con người toàn diện, đáp ứng những
đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế
tri thức và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ở một mức độ nhất định, luận án góp phần làm sáng tỏ lý luận chung về
phát triển con người toàn diện.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng,
hoạch định chiến lược phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy triết học Mác - Lênin về vấn đề con người và phát triển con
người.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Vấn đề phát triển con người đã được nghiên cứu từ rất sớm ở cả phương
Đông lẫn phương Tây. Đến những năm 80 của thế kỉ XX, vấn đề phát triển con

5
1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM
Mảng vấn đề này gồm có các công trình cơ bản sau:
Vũ Thiện Vương, Triết học Mác-Lênin về con người và việc xây dựng con
người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001; Bộ sách gồm ba cuốn: 1) Đặng Quốc Bảo, Trương Thị
Thúy Hằng (đồng chủ biên), Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI - Cách tiếp
cận và một số kết quả nghiên cứu; 2) Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thúy Hằng
(đồng chủ biên), Chỉ số tuổi thọ trong HDI - Một số vấn đề thực tiễn Việt Nam;
3) Đặng Quốc Bảo, Đặng Thị Thanh Huyền (đồng chủ biên), Chỉ số giáo dục
trong HDI - Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2005; Hồ Sỹ Quý, Giáo trình Con người và phát triển con người,
dùng cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành triết học
của Khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), Giáo dục Việt
Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Nguyễn Đình
Tuân (2011),“Báo cáo phát triển con người 2010: Xu hướng phát triển con
người và một số thay đổi trong tính toán các chỉ số”, Nghiên cứu con người (1);
Phạm Thành Nghị (2011),“Một số phác họa về con người Việt Nam hiện đại
qua kết quả nghiên cứu thực chứng”, Nghiên cứu con người (2).
Bên cạnh những công trình trên, để nghiên cứu thực trạng phát triển con
người toàn diện ở Việt Nam, tác giả luận án còn tham khảo các công trình của
Tổng cục Thống kê, như: các Niên giám thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà
ở 2009, Điều tra lao động và việc làm 2011 và các Thông cáo báo chí; Các Báo
cáo phát triển con người Việt Nam và thế giới của Chương trình phát triển Liên
hợp quốc – UNDP.
1.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG VÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM
Mảng vấn đề này gồm có các công trình cơ bản sau:

phương pháp luận quan trọng trong nghiên cứu vấn đề con người và phát triển
con người toàn diện ở Việt Nam, từ các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
(điển hình như các công trình do Hồ Sỹ Quý chủ biên), tư tưởng Hồ Chí Minh
(điển hình như luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Công) đến các phương pháp
luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể. Có những nhà khoa học tâm huyết và
đã có nhiều thành quả trong nghiên cứu con người và phát triển con người, điển
hình như Phạm Minh Hạc, Hồ Sỹ Quý, Đặng Hữu Toàn, Vũ Thiện Vương.
Thứ ba, những khảo sát thực tiễn và các kết quả nghiên cứu thực chứng
về vấn đề con người đã đưa ra, cho chúng ta thấy được một bức tranh toàn
cảnh về phát triển con người ở Việt Nam hiện nay, nhất là các công trình
nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam nay là Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam và của UNDP (điển hình là các báo cáo quốc gia về phát
triển con người Việt Nam), cùng các tài liệu của Tổng cục Thống kê….Những
kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu quý báu, vừa
có tính khái quát cao lại vừa hết sức đa dạng, nhưng cũng rất cụ thể và chi tiết.
7
Thứ tư, những đánh giá, nhận xét và những kết luận được các nhà nghiên
cứu đưa ra hết sức đúng đắn, xác thực. Các nhà khoa học đều khẳng định con
người vừa mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là
trong giai đoạn hiện nay, trong khi các nguồn lực khác, khi được khai thác thì
ngày càng khan hiếm, cạn kiện thì con người, đặc biệt là trí tuệ con người, khi
được khai thác nó lại càng trở nên vô tận. Vì thế, các nhà khoa học đều thống
nhất cho rằng, việc nghiên cứu vấn đề con người, phát triển con người ở Việt
Nam hiện nay là hết sức khẩn thiết. Quan điểm này có giá trị to lớn về mặt
phương pháp luận cho việc nghiên cứu vấn đề phát triển con người toàn diện ở
Việt Nam hiện nay.
Những kết quả to lớn về mặt khoa học mà các công trình nghiên cứu trên đã
đạt được là những tài liệu tham khảo bổ ích, song đối với đề tài của luận án - Vấn
đề phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay - là một vấn đề không đơn
giản và đối với chúng tôi là một vấn đề lớn. Vì vậy, có một số vấn đề đặt ra cho

vụ quan trọng là phải nghiên cứu để bổ sung và phát triển hơn về mặt lý luận,
phương pháp luận trong nghiên cứu vấn đề này. Đồng thời làm sâu sắc hơn, đầy
đủ hơn về thực trạng phát triển con người ở nước ta trong những năm vừa qua.
Hơn nữa, lại phải biết kế thừa kinh nghiệm của các quốc gia có nhiều thành tựu
trong phát triển con người. Trên cơ sở đó, mới có thể đưa ra được những định
hướng đúng đắn cũng như những giải pháp thiết thực, hiệu quả, có giá trị góp
phần cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong thực tiễn
phát triển con người toàn diện ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nhằm mục tiêu dân giầu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
2.1. QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
9
2.1.1. Phát triển con người toàn diện – “Phát triển sự phong phú của
bản chất con người”
Có thể nói, phát triển con người trong tư tưởng của C.Mác là phát triển con
người trong mối quan hệ hài hòa với tự nhiên và xã hội, phát triển các giá trị
văn hóa – giá trị tinh thần của con người, phát triển sự phong phú của bản chất
con người, nâng cao năng lực con người, giải phóng con người khỏi mọi sự tha
hóa, sự phiến diện, què quặt do tình trạng bóc lột của Chủ nghĩa tư bản. Trên cơ
sở đó, con người phát triển cá tính, năng khiếu, sự tự do và năng lực làm chủ xã
hội của mình. Phát triển con người là sự phát triển những năng lực mang phẩm
chất người, năng lực trinh phục tự nhiên, cải biến xã hội và năng lực làm chủ
bản thân mình.
2.1.2. Phát triển con người toàn diện gắn liền với phát triển kinh tế -
xã hội, thông qua lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người
Theo C.Mác con người không chỉ là sản phẩm mà còn là chủ thể của lịch
sử - xã hội. Vì vậy, sự phát triển con người toàn diện luôn gắn với sự phát

người Việt Nam phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của đất nước.
2.3. MỘT SỐ NHẬN THỨC CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
TOÀN DIỆN
Thứ nhất, con người được xem là trung tâm của sự phát triển
Ngoài số ít quan điểm không thấy được vị trí, vai trò trung tâm của nhân
tố con người (như quan điểm duy tâm cho con người chỉ là sản phẩm của tinh
thần…), thì hầu hết các quan điểm, nhất là những quan điểm hiện đại đều
thống nhất cho rằng con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội,
của cộng đồng, quốc gia và của toàn thể loài người. Điều đó đặt ra một vấn
đề rằng chúng ta phải tập trung nghiên cứu để áp dụng trong thực tiễn nhằm
thúc đẩy sự phát triển nhân tố con người.
Phát triển con người theo quan điểm của UNDP được cụ thể hóa thành chỉ
số phát triển người: HDI (thu nhập, giáo dục và tuổi thọ). Và UNDP cũng đã
cho rằng: Phát triển con người là quá trình mở rộng các sự lựa chọn của con
người nhằm đạt được những khả năng nhất định và tận dụng những khả năng
đó. Một số lựa chọn có tính quyết định nhất là có một cuộc sống lành mạnh và
lâu dài, là hiểu biết và có mức sống khá.
Thứ hai, về phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay
Khái niệm và nội hàm khái niệm phát triển con người toàn diện ở Việt
Nam đã được các học giả, các nhà nghiên cứu thể hiện rất phong phú và đa
dạng. Song về cơ bản, các học giả, các nhà nghiên cứu đều thể hiện trong nội
hàm khái niệm này những đặc thù, những phẩm chất thể hiện bản sắc độc đáo
của người Việt Nam, đó là những phẩm chất: có tinh thần yêu nước, yêu lao động,
sống tình nghĩa, có đạo đức trong sáng, yêu chuộng hòa bình, thông minh, có tinh
thần độc lập, tự chủ, tự cường.
Đứng trên lập trường duy vật của học thuyết Mác, kế thừa giá trị tư tưởng Hồ
Chí Minh, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát
triển con người toàn diện. Đồng thời tiếp thu những giá trị trong quan niệm của
các nhà nghiên cứu đi trước và xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, thực
tiễn phát triển con người Việt Nam, tác giả luận án cho rằng: Phát triển con

- Sự phát triển tâm lực con người Việt Nam còn được thể hiện ở: sự phát
triển của văn hóa, của nghệ thuật, của nền dân chủ trong xã hội, của đạo đức
truyền thống dân tộc, của việc đáp ứng thông tin và truyền thông;…ở cộng
đồng dân cư của dân tộc.
Như vậy, phát triển con người toàn diện là thể thống nhất của sự phát triển về
cả ba mặt thể lực, trí lực và tâm lực trong con người. Các mặt đó có mối quan hệ
biện chứng, liên hệ hữu cơ với nhau. Nếu như thể lực đóng vai trò nền tảng ban đầu
cho sự phát triển con người toàn diện, thì trí lực và tâm lực là yếu tố đóng vai trò cơ
bản và quyết định nhất đối với chất lượng con người.
12
Thứ ba, những nhân tố tác động đến phát triển con người toàn diện ở Việt
Nam hiện nay
Sự phát triển con người không đơn thuần chỉ là sự phát triển “tự nó”, là sự
phát triển “tự thân”, sự phát triển đó còn chịu tác động của những điều kiện
khách quan và chủ quan:
Về điều kiện khách quan:
Một là, phát triển con người toàn diện ở Việt Nam trước hết chịu tác động
của môi trường kinh tế và thành quả phát triển kinh tế của đất nước.
Hai là, giáo dục và đào tạo luôn có tác động rất lớn đến phát triển con
người, đặc biệt là nó tác động trực tiếp đến phát triển trí lực của con
người.
Ba là, công tác y - dược, chăm sóc sức khỏe nhân dân và môi trường sinh
thái cùng với công tác thể dục, thể thao có tác động trực tiếp đến phát triển thể
lực con người.
Bốn là, văn hóa, bao gồm cả đạo đức xã hội, có tác động trực tiếp đến phát
triển con người toàn diện, nhất là phát triển về tâm lực con người.
Năm là, xu thế hội nhập quốc tế có ảnh hưởng lớn đến phát triển con
người toàn diện ở Việt Nam.
Về nhân tố chủ quan:
Một là, nhân tố chủ quan trước tiên đó chính là sự nhận thức và năng lực

triển con người toàn diện được thể hiện ở các phương diện: Phát triển con
người toàn diện với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
Việt Nam; phát triển con người toàn diện là phát triển con người về các
phương diện thể lực, trí lực và tâm lực.
Học thuyết Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về phát
triển con người toàn diện là cơ sở lý luận và phương pháp luận quan trọng để
luận án đưa ra những nhận thức chung về sự phát triển con người toàn diện nói
chung và phát triển con người toàn diện ở Việt Nam nói riêng. Việc nhận thức
lý luận sâu sắc về vấn đề phát triển con người toàn diện nói chung và phát triển
con người toàn diện ở Việt Nam nói riêng là tiền đề hết sức quan trọng để
chúng ta tiến hành nghiên cứu thực trạng phát triển con người toàn diện ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay; đồng thời cũng là tiền đề lý luận quan trọng để
chúng ta xác định những định hướng cơ bản và tìm ra những giải pháp thiết
thực nhất và hiệu quả nhất để nhằm xây dựng con người Việt Nam mới – con
người phát triển toàn diện đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
Chương 3
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY –
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
14
3.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM
3.1.1. Phát triển con người Việt Nam về mặt thể lực
3.1.1.1. Những thành tựu cơ bản trong phát triển con người Việt Nam về
mặt thể lực
Những thành quả đạt được trong lĩnh vực kinh tế, xóa đói giảm nghèo,
công tác y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phát triển thể dục, thể thao cũng
như cải tạo môi trường sinh thái, đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi
thúc đẩy con người Việt Nam có điều kiện phát triển về mặt thể lực. Vì vậy, tỷ
lệ chết ở bà mẹ và trẻ em giảm; tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng giảm; chiều cao
và cân nặng tăng; người Việt Nam đã có nhiều thành tích trong thi đấu thể

đối với phát triển trí lực người Việt Nam.
3.1.3. Phát triển con người Việt Nam về mặt tâm lực
3.1.3.1. Những thành tựu trong phát triển con người Việt Nam về tâm lực
Thành tựu trong phát triển con người Việt Nam về mặt tâm lực được thể
hiện ở những phương diện sau:
Thứ nhất, những giá trị truyền thống tốt đẹp trong con người Việt Nam
được phát huy trong tình hình mới.
Thứ hai, con người Việt Nam ngày càng có tinh thần tự lập, tự trọng, sáng
tạo, quyết tâm vượt qua hoàn cảnh của mỗi cá nhân.
Thứ ba, con người Việt Nam có ý thức pháp luật ngày càng cao, có bản
lĩnh trong đấu tranh đòi hỏi sự công bằng và lẽ phải, biết hướng tới những cái
đúng, cái tốt, cái đẹp.
Thứ tư, nhiều thành tựu trong phát triển văn hóa, nghệ thuật đã đem đến
đời sống tinh thần hết sức phong phú cho nhân dân.
3.1.3.2. Những hạn chế trong phát triển con người Việt Nam về tâm lực.
Bên cạnh những giá trị tiến bộ trong phát triển tâm lực con người Việt Nam
nêu trên, việc phát triển tâm lực con người Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều
hạn chế và nhiều bất cập. Điều đó được thể hiện:
Thứ nhất, sự suy thoái về chính trị, tư tưởng
Thứ hai, sự xuống cấp về đạo đức, văn hóa và suy thoái về lối sống
3.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mặc dù chúng ta đạt được nhiều thành tựu trong phát triển con người. Song,
trên thực tế, sự phát triển con người Việt Nam hiện nay có nhiều mâu thuẫn đòi hỏi
chúng ta phải giải quyết trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, cơ bản có các mâu
thuẫn sau đây:
3.2.1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu khách quan của sự phát triển nhanh về con
người toàn diện với thực tế phát triển con người toàn diện ở nước ta còn chậm
Nhiệm vụ lớn lao của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là phải
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế

những hậu quả chiến tranh còn nặng nề làm cho sự nghiệp phát triển con
người Việt Nam chậm chạp.
Thứ hai, tác động của những mặt trái trong kinh tế thị trường làm xói
mòn những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam, trở thành rào cản cho
phát triển con người toàn diện ở nước ta.
Thứ ba, những bất cập, yếu kém trong giáo dục - đào tạo ảnh hưởng trực
tiếp đến phát triển về chất lượng của con người Việt Nam.
Thứ tư, một số chính sách xã hội còn chưa kịp thời và chưa thực sự có hiệu
quả, đã gây trở lực cho phát triển con người toàn diện ở Việt Nam.
Thứ năm, vấn đề phát triển con người toàn diện ở Việt Nam còn bị cản trở
bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu thực hiện chiến lược
“diễn biến hòa bình” của chúng.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
17
Trong những năm qua, nhất là trong gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi
mới vừa qua, Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta đã làm tất cả những gì
cần làm để nhằm xây dựng và phát triển con người Việt Nam mới - con người
phát triển toàn diện. Chúng ta đã từng bước tạo lập và xây dựng những điều
kiện cho phát triển con người Việt Nam trên nhiều phương diện, từ phát triển
kinh tế, đến phát triển trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, cải tạo môi
trường tự nhiên nhằm tạo môi trường tốt nhất có thể để con người Việt Nam
phát huy hết khả năng của mình và phát triển toàn diện cho mọi cá nhân cả về
thể lực, trí lực lẫn tâm lực.
Thành quả của sự phát triển toàn diện cá nhân con người Việt Nam luôn
đặt trong tổng thể thành quả của sự phát triển con người - xã hội, đó là sự phát
triển những cộng đồng người Việt Nam về đời sống vật chất và đời sống tinh
thần. Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được trong các lĩnh vực xoá đói giảm
nghèo, phát triển giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và cải thiện đời sống
vật chất, tinh thần cho nhân dân là rất đáng tự hào. Song, trên thực tế, trong
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, và sự nghiệp phát triển con

phát triển kinh tế - xã hội
Định hướng này đòi hỏi chiến lược phát triển con người phải trong quan
hệ khăng khít với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (Gồm các chiến lược
như: chiến lược kinh tế, giáo dục, y tế; thể dục, thể thao; văn hóa, chiến lược
xóa đói, giảm nghèo…).
4.1.3. Phát triển con người toàn diện là sự nghiệp của toàn dân, của cả
hệ thống chính trị và mọi tổ chức xã hội
Sự phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay không chỉ là phát
triển những giá trị tốt đẹp của cá nhân con người, mà hơn thế, còn là sự phát triển
con người xã hội, bao gồm toàn thể cộng đồng - nhân dân (gồm các giai cấp,
tầng lớp, bộ phận dân cư, lứa tuổi, giới tính…). Vì vậy, sự nghiệp phát triển con
người toàn diện ở Việt Nam đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn xã hội.
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.2.1. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả chiến lược phát
triển con người Việt Nam theo những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Xây dựng chiến lược phát triển con người toàn diện là một trong những
vấn đề hết sức cơ bản trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Xây dựng chiến lược này cần phải xác định rõ mục tiêu, phương hướng và
những giải pháp cơ bản cho việc xây dựng con người đáp ứng yêu cầu đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của sự phát triển kinh tế tri thức và hội
nhập quốc tế.
4.2.2. Kết hợp nâng cao đời sống vật chất với đời sống tinh thần của
con người Việt Nam
19
Vấn đề nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người
Việt Nam là một nội dung quan trọng trong sự phát triển con người toàn diện ở
Việt Nam. Nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân là nền tảng vững chắc nhất
để nhân dân có điều kiện phát triển toàn diện cả về thể chất, lẫn phát triển về trí

lượng giáo dục - đào tạo” [89, tr.216]. Trên tinh thần đó, chúng tôi xin đề xuất
một số biện pháp sau đây:
Thứ nhất, quán triệt quan điểm “giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu”.
20
Thứ hai, thực hiện xã hội hóa giáo dục kết hợp với xây dựng mô hình giáo
dục chất lượng cao; kết hợp nâng cao dân trí với bồi dưỡng và sử dụng nhân tài.
Thứ ba, đổi mới công tác quản lý giáo dục.
Thứ tư, nội dung và phương pháp dạy và học phải hướng đến sự phát triển
con người toàn diện.
Thứ năm, chăm lo đến đội ngũ nhà giáo gắn với hiện đại hóa cơ sở vật
chất phục vụ giáo dục - đào tạo.
Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo.
4.2.5. Tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống
tốt đẹp gắn với tăng cường xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng trong
con người Việt Nam
Đạo đức luôn giữ một vị trí hàng đầu trong bậc thang giá trị của con người
Việt Nam. Nền tảng đạo đức của xã hội Việt Nam là một trong những yếu tố cơ
bản cấu thành và làm nên cốt cách, bản sắc tinh thần phong phú, tốt đẹp của con
người Việt Nam. Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp trong
con người Việt Nam mới đồng nghĩa với việc phải thường xuyên đấu tranh loại
trừ ra khỏi đời sống xã hội và con người Việt Nam những hiện tượng đạo đức
hủ bại, kết hợp với việc chống lại những đạo đức và văn hóa mới phản tiến bộ,
trái với các chuẩn mực của xã hội và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Cùng với kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, việc
tăng cường giáo dục niềm tin và lý tưởng cách mạng trong con người Việt
Nam mới là điều hết sức cần thiết. Phải làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin cùng
với tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần trong đời sống xã
hội và của mọi người dân Việt Nam.
Để thực hiện tốt việc kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của
dân tộc gắn với tăng cường xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng trong con

Thứ hai, gắn chiến lược phát triển con người toàn diện với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba, phát triển con người toàn diện là sự nghiệp của toàn dân, của cả
hệ thống chính trị và mọi tổ chức xã hội.
Trên cơ sở những định hướng cơ bản đó, cần phải có một hệ thống các giải
pháp và biện pháp thiết thực, hiệu quả, khả thi để có thể nhanh chóng áp dụng
trong thực tiễn, nhằm thúc đẩy nhanh sự nghiệp phát triển con người toàn diện
ở Việt Nam. Trước hết, chúng ta cần thực hiện các giải pháp sau:
1. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển con
người Việt Nam theo những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
2. Kết hợp nâng cao đời sống vật chất với đời sống tinh thần của con
người Việt Nam.
3. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; gắn tăng trưởng kinh tế với
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
22
4. Tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo nhằm phát
triển chất lượng con người Việt Nam.
5. Tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp
gắn với tăng cường xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng trong con người
Việt Nam.
6. Xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát hiệu quả hệ thống chính sách
xã hội nhằm mục tiêu phát triển con người toàn diện.
Sự thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả những định hướng và giải pháp
trên là điều kiện đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp phát triển con người toàn diện
ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
KẾT LUẬN
1. Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, vấn đề con người đều được nhiều
nhà khoa học, cũng như nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu. Và dù ở

Việt Nam.
4. Từ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển con
người Việt Nam mới - con người phát triển toàn diện, trong những năm đổi
mới vừa qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển con
người Việt Nam. Mặc dù nền kinh tế nước ta còn ở trình độ phát triển chưa cao,
song con người Việt Nam đã có sự phát triển nhất định cả về thể lực, trí lực và
tâm lực. Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được trong các lĩnh vực xoá đói
giảm nghèo, phát triển giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần cho nhân dân là rất đáng tự hào, thể hiện sự đúng đắn
trong đường lối, chủ trương của Đảng và trong chính sách của Nhà nước ta.
Đồng thời đó cũng là kết quả phản ánh sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, cũng
như toàn thể nhân dân ta trong suốt những năm đổi mới vừa qua. Tuy nhiên, sự
phát triển của con người Việt Nam hiện nay còn chưa tương xứng với nhu cầu
của sự phát triển, và còn chậm so với các nước phát triển trong khu vực và trên
thế giới. Hơn thế, một số vấn đề yếu kém, tiêu cực trong đời sống, trong kinh
tế, chính trị, xã hội vẫn chậm được khắc phục và đang là trở lực lớn đối với sự
phát triển con người toàn diện ở Việt Nam.
5. Trong bối cảnh của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
trong xu thế hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức ngày càng cao như
hiện nay, vấn đề phát triển con người toàn diện ở Việt Nam càng phải được ưu
tiên hàng đầu. Trước hết, trên cơ sở thực trạng phát triển con người Việt Nam
hiện nay, nhất là những vấn đề mang tính cấp thiết đang đặt ra đối với sự phát
triển con người toàn diện ở Việt Nam, chúng ta phải có những định hướng phát
triển con người đúng đắn, mang tính chiến lược; đồng thời, hệ thống giải pháp
đưa ra phải xác thực, khả thi, có tính hiệu quả cao và được thực hiện một cách
đồng bộ. Có như vậy, chúng ta mới có thể xây dựng và phát triển con người
Việt Nam mới – con người phát triển toàn diện, tạo nền tảng để xây dựng nước
Việt Nam, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status