MÔ HÌNH NUÔI GÀ – CÁ KẾT HỢP - Pdf 20

MÔ HÌNH NUÔI GÀ – CÁ KẾT HỢP
I. XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI CÁ - GÀ KẾT HỢP
I.1. Chọn vị trí xây dựng mô hình
Những điểm cần lưu ý để chọn vị trí xây dựng mô hình nuôi kết hặp cá - gà được xác định
tượng tự như hệ thống nuôi cá - vịt kết hợp hoặc cá - heo .
I.2. Xây dựng chuồng và ao cho hệ thống nuôi kết hợp
Hệ thống chuồng và ao cho mô hình nuôi kết hợp cá - gà nhìn chung có thể được thực hiện
tương tự như mô hình nuôi cá vịt. Điểm khác biệt giữa hai mô hình là phần sân thoáng
rộng, tạo điều kiện cho vị thoạt động hướng về phiá bờ ao, hoặc lại nuôi aó mô hình cá- gà
thì khu vợc này hòan về phía đất liền, đồng thợi sàn chuồng phải có đủ độ cao để bảo vệ
sức khỏe gà do ảnh hưởng tờ ẩm độ môi trường. Thông thường chuồng được xây dựng
theo qui cách 8 con/m
2
.
II. BIẾN PHÁP KỸ THUẬT NUÔI MÔ HÌNH CÁ - GÀ
II.1. Số lượng cá thả nuôi
Cũng như mô hình nuôi kết hợp cá - vịt hoặc cá - heo, số lượng cá thả ở mô hình nuôi cá -
gà tùy thuộc vào số lượng gà thả nuôi và diện tích mặt nước hiện có ở hệ thống. Thực tiễn
nghiên cứu và sản xuất cho thấy mật độ gà thả nuôi là 4500 - 5000 con/ha sẽ cung cấp đủ
lượng phân có thể làm nguồn thức ăn trực tiếp cho cá rô phi nuôi trong hệ thống với mật
độ thả là 1,6 - 2 con/m
2
.
II.2. Hỗn hợp các loài cá thả nuôi trong mô hình
Bên cạnh loài cá rô phi được khuyến cáo là đối tượng nuôi chính trong mô hình, với
phương thức nuôi ghép mà tập quán mà người dân ở vùng ĐBSCL ưa thích, loài và tỉ lệ
ghép giữa các loài nuôi có thể được khuyến cáo như sau
• Cá rô phi 70 %
• Cá lóc 20 %
• Cá chép hay cá hường 10 %
Hoặc

Hình 2: Mô hình nuôi Heo – Cá kết hợp
Để xây dựng mô hình nuôi gồm: ao và chuồng nuôi heo cần lưu ý một số điểm như sau:
2
- Đất thịt không bị nhiễm phèn, có khả năng sử dụng được nguồn nước giếng.
- Gần kênh rạch để tiện lợi cho việc cấp nước trong quá trình nuôi.
- Ao và chuồng không nên xây dưng gần những cây lớn, tán cây sẽ che bóng mát, thiếu ánh
sáng, nguồn thức ăn tự nhiên cho cá bị giảm, độ ẩm của môi trường nuôi cao ảnh hưởng
không tốt đến sức khỏe của heo. Măt khác lá cây rụng xuống cũng có thể làm thối nước
trong ao nuôi.
- Gần nhà để tiện lợi cho việc chăm sóc và bảo vệ.
I.2. Xây dựng chuồng và ao cho hệ thống nuôi kết hợp
a. Chuồng
Tùy theo điều kiện kinh tế gia đình, điều kiện về đất đai, chuồng heo có thể được xây dựng
bằng gạch xây ở bờ ao hoặc ván gỗ làm sàn trên ao, nền sàn chuồng phải được gia cố chắc
chắn, có thể chia làm nhiều ô nhỏ thành một dãy hoăc hai dãy chuồng theo qui cách 1,6m
2
cho 1 heo để có thể nuôi được nhiều lứa heo.
Tùy thuộc vào khả năng xử lý nguồn chất thải từ phần heo, kích thước chuồng và số lượng
heo nuôi được xác định cho phù hợp với nhu cầu cung cấp thức ăn trực tiếp và gián tiếp
cho cá nuôi. Chuồng phải có dụng cụ cho heo uống nước và máng ăn riêng lẻ. Phía sau mỗi
chuồng nên xây một bể chứa phân và nước rửa chuồng heo. Bể chứa sẽ giúp người nuôi
chủ động cung cấp thức ăn cho cá, kiểm soát được môi trường nuôi, nước ao không bị bẩn,
ô nhiễm, đồng thời người nuôi cũng sử dụng được nguồn phân hữu cơ này để cung cấp
dinh dưỡng cho cây trồng, rau cải khác được trồng ở bờ khi nguồn phân bị thừa.
b. Ao
Hình 3: Ao nuôi trong mô hình Heo – Cá kết hợp
- Ao có thể được đào lớn hay nhỏ tùy điều kiện của mỗi gia đình, nhưng kích thước tối
thiểu là 200m
2
mới có thể cung cấp nhu cầu về đạm cho một gia đình. Ao có dạng hình chữ

Số lượng cá thả nuôi trong mô hình tùy thuộc nhiều vào số lượng heo nuôi, diện tích mặt
nước hiện có. Thực tế nghiên cứu cho thấy với số heo nuôi 2 con/chuồng sẽ cung cấp
lượng phân đủ làm thức ăn cho 1 ao nuôi cá có diện tích 200m
2
và mật độ thả 2 con/m
2
.
Trong trường hợp, nông hộ có số heo nuôi nhiều, mật độ lên đến 150 heo/ha, có thể thả
nuôi cá với mật độ 5 – 7 con/m
2
.
b. Hỗn hợp cá nuôi trong mô hình.
Bên cạnh một số loại cá như cá hường, cá tra... được chọn làm đối tượng nuôi đăn hoặc
nuôi hỗn hợp, các loài cá sau đây cũng được nhiều người ứng dụng nuôi đạt kết quả tốt
như sau
- Cá rô phi 60% - Mè trắng hoặc cá hường 10%
- Cá chép 10% - Cá tra 10%
- Cá rô phi 5% - Cá Trôi Ấn 5%
Hoặc - Cá rô phi 60% - Cá sặc rằn 20%
- Cá hường 10% - Cá chép 10%
4
- Cá Rô phi 50 %
- Cá Sặc rằn 30 %
- Cá Hường 20 %
c. Thức ăn bổ sung cho mô hình nuôi
Mô hình nuôi kết hặp cá - heo trên nguyên tắc không cần phải sử dụng thức ăn tự bào chế
để cung cấp cho cá nuôi. Chất thải từ hệ thống chuồng heo làm nguyên dinh dưỡng chính
cho cá nuôi trong mô hình. Trường hợp số lượng cá thả nhiều hơn 2 con/m
2
, các phụ phế

- Gần kênh rạch để tiện cho việc cấp nước trong quá trong nuôi
- Hệ thống ao nuôi không nên xây dựng gần nhỡng cây cối tán lớn, tán cây sẽ che
bóng mát nước, thiếu ánh sáng, khả năng tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá như
thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy... sẽ bị hạn chế. Mặt khác lá cây
khi rơi rụng xuống ao cũng có thể làm thối nước trong ao nuôi.
- Gần nhà để tiện lợi cho việc chăm sóc và bảo vệ.
I.2. Xây dựng chuồng và ao cho hệ thống nuôi kết hợp
a. Chuồng
Tùy theo điều kiện kinh tế gia đình, điều kiện về đất đai, chuồng chăn nuôi vịt có thể được
xây dựng bằng tre, lá nền đất phủ rơm rạ thuần túy hay tre, lá và nền lót dal hay lát xi măng
có cửa và sân thông với ao nuôi cá. Một số nông hộ do điều kiện về diện tích đất đai bị hạn
chế, nhưng thừa về nguồn vật liệu tre, lá, chuồng vịt có thể được xây dựng dạng sàng ngay
trên ao nuôi cá theo qui cách 10 - 15 vịt/m
2
.
6
Hình 6: Ao và chuồng trong mô hình nuôi Cá - Vịt kết hợp
b. Ao nuôi cá
Xây dựng hệ thống ao nuôi vịt kết hợp với cá tương tự như hệ thống ao của mô hình cá -
heo. Tuy nhiên do điều kiện đặc thù của mô hình, giai đoạn ban đầu của chu kỳ nuôi vịt,
vịt nhỏ cần được bảo vệ cũng như hạn chế khả năng khuấy động làm tăng độ đục môi
trường nứơc bởi vịt, nguồn thức ăn tự nhiên trong ao bị giảm thấp... Ao nuôi cần phải được
ngăn 1/3 diện tích bằng lưới hoặc nẹp tre để giới hạn sự di chuyển của vịt trong ao nuôi.
II. BIỆN PHÁP KỸ THUẬT MÔ HÌNH CÁ - VỊT
Một số biện pháp kỹ thuật căn bản để ứng dụng vào mô hình nuôi kết hợp vịt - cá đạt hiệu
quả cũng được thực hiện tương tự như ở mô hình nuôi cá - heo như: giải pháp chuẩn bị và
cải tạo ao nuôi. Bên cạnh đó một số biện pháp kỹ thuật cần lưu tâm thực hiện như sau
II.1. Số lượng cá thả nuôi
Số lượng cá thả nuôi trong mô hình tùy thuộc vào số vịt thả nuôi và diện tích mặt nước
hiện có trong hệ thống. Kết quả nghiên cứu và thợc tiễn sản xuất cho thấy số lượng vịt thả

của chúng ở ao nuôi, đặc biệt vào lúc sáng sớm khi điều kiện oxy trong ao nuôi giảm, cá
thường nổi đầu nhưng khi có ánh sáng mát trời, không còn hiện tượng nổi đầu, ngơặc lại
nếu cá tiếp tục nổi đầu, cần có biện pháp cấp nước để cải thiện hàm lượng oxygen trong ao
nuôi.
II.5. Thu hoạch
Sau 6 - 7 tháng nuôi, cá đạt kích thước cá thương phẩm, có thể tiến hành thu hoạch. Tuy
nhiên, trong quá trình nuôi, bên cạnh giải pháp thu hoạch toàn bộ sản phẩm ăó cuối chu kỳ
nuôi, có thể tiến hành thu tỉa thả bù sau khi mô hình thực hiện được ít nhất 6 tháng. Số
lượng cá thả bù vào mô hình nuôi phải phù hợp với số lượng cá đã thu hoạch, như thế hiệu
quả của mô hình nuôi mới được đảm bảo.
KỸ THUẬT NUÔI CÁ BA SA THƯƠNG PHẨM
(PANGASIUS BOCOURTI)
I. GIỚI THIỆU
Cá Basa (Pangasius bocourti) là loài cá nuôi phổ biến và đặc trưng nhất của nghề nuôi cá
bè vùng thượng nguồn sông Cửu Long thuộc 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp. Hàng năm,
hàng ngàn tấn cá Basa được bán ra thị trường trong nước và ngoài nước. Thêm vào đó là
hàng ngàn tấn nguyên liệu làm thức ăn gia súc gia cầm. Ở các giai đoạn nuôi cá luôn đươc
chú ý đầu tư đầy đủ về các mặt nhất là khâu thức ăn. Có thể nói đây là loài được nuôi ở
mức độ thâm canh hoá cao trên qui mô lớn Đồng Bằng Sông Cửu Long.
II. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CẤU TẠO VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ BA SA
Cá Basa phân bố ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và Đồng Bằng Sông Cửu
Long Việt Nam. Dựa trên đặc điểm phân loại của tác giả Tyson R. Roberts và Chavarit
Vidohayanon cho các loài cá thuộc họ Pangasiidae và giống Pangasius ở khu vực Thái Lan
và Đông Dương cho thấy cá basa ở Việt Nam có tên khoa học là Pangasius bocourti
Sauvage, 1880.
Cá Basa được mô tả như sau
Đầu dẹp, trán rộng. Miệng cận dưới không co duỗi được, răng nhỏ, mịn. Răng khẩu cái
hình tam giác. Râu mép dưới kéo dài tới hốc quá gốc vi ngực, râu hàm dưới nhỏ, mịn, kéo
8
dài đến khoảng giữa và điểm cuối nắp mang. Mắt to. Bụng to tròn, phần sau thân dẹp bên,

3
+ Nuôi thịt: Kích cở giống: 100 - 150 g/con. Mật độ thả: 80 - 150 con/m
3
Có thể nuôi ghép cá he với cá basa tỉ lệ không quá 5 – 10 %
10
IV.3. Vận chuyển cá
Vận chuyển bằng túi nylon bơm oxygen. Thường dùng để vận chuyển cá con. Kích cở bao
vận chuyển tùy thuộc vào kích cở cá, số lượng vận chuyển. Bao chứa 1 phần nước, 2 phần
oxygen. Mật độ cá vận chuyển như sau
Kích thước cá Mật độ
Trọng lượng (g/con) Dài (cm) (con/lít)
0,3 - 1,2 2 - 4 50 - 180
2 - 5 5 - 7 15 - 30
7 - 22 8 - 12 5 - 12
Vận chuyển bằng ghe thông nước ghe đục. Ghe có khoang có hai cửa trống bên lườn để
thông nước với sông và có lưới chắn. Phương pháp này rất thuận tiện cho việc vận chuyển
cá lớn và cá lớn với số lượng lớn. Cũng có thể dùng ghe đục (rọng) tre cặp hai bên hông
ghe, xuồng để vận chuyển cá. Mật độ vận chuyển như sau
Kích thước cá (g/con) Mật độ (kg/m
3
)
4 - 5 80 - 100
10 - 15 110 - 120
700 150 - 200
Trong lúc vận chuyển, tốc độ đi của ghe, xuồng không nên quá 5 km/giờ. Sau khi vận
chuyển 10 - 12 giờ nên cho cá nghỉ 20 - 30 phút nhưng phải đậu ghe nơi có nướcc chảy
nhẹ, nước thoáng mát, trong sạch.
• Cách thả giống
Cần ngâm bao cá khoảng 15 phút trước khi thả cá vào bè. Khi thả nên đặt miệng bao chìm
xuống nước và cho cá lội ra từ từ. Nếu vận chuyển bằng ghe thì thao tác nhẹ nhàng, dụng

+ Cách chế biến: Trước kia người nuôi thường cắt nhỏ nguyên liệu, nấu chín, để hơi
ấm, nhào trộn và vò viên cho cá ăn. Những năm gần đây, do nhận thức được sợ cần
thiết phải cơ khí hóa từng bước, nhiều bè lớn đã sử dụng một số máy như máy cắt,
máy trộn và máy ép viên làm cho khâu chuẩn bị thức ăn nhanh chóng, dễ dàng và
hiệu quả hơn nhiều, lại ít tốn nhân công.
Thức ăn công nghiệp
Sử dụng thức ăn viên các loại có hàm lượng protein dao động từ 18 – 28 % qua thời gian
nuôi.
• Cách cho ăn và chăm sóc
- Hàng ngày chia thức ăn làm hai phần và cho ăn vào lúc nước ròng. Để kích thích cá
ăn tốt, nên cho cá ăn chỉ 6 ngày mỗi tuần. Khi cho ăn nên rải thức ăn từ từ và nhiều
điểm trong bè để cá có thể bắt thức ăn dễ dàng. Quan sát khi cá no không ăn nữa thì
ngừng cho ăn để tránh lãng phí thức ăn.
- Khi thay đổi khẩu phần, phải thay từ từ, tránh làm cá bị thay đổi đột ngột.
- Cá thường giảm ăn khi chất lượng nước thay đổi nhất là lúc giao mùa và vào lúc bị
bệnh, vì thế trong trường hợp này phải kiểm tra lại cá trong bè.
- Hàng ngày phải vệ sinh lồng, kiểm tra bè kỹ lưỡng tránh làm thất thoát cá do hư
bè.
12
IV.4. Thu hoạch
Cá nuôi sau 6 – 8 tháng, người nuôi có thể tiến hành thu họach, năng suất dao động bình
quân từ 80 – 120 kg/m
3
. Trong quá trình thu họach, dùng lưới kéo và thu tòan bộ trong 1
đợt thu.
KỸ THUẬT NUÔI CÁ BÔNG TƯỢNG
(Oxyeleotris marmoratus Bleeker)
I. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ
I.1. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân loại
• Lớp Osteichthyes

khai thác, đánh bắt tự nhiên. Sản lượng khai thác tự nhiên hàng năm khá lớn. Theo thống
kê, sản lượng khai thác ở các tỉnh Nam bộ, Nam trung bộ và Tây nguyên khoảng 40
tấn/năm (Nguyễn Anh Tuấn và ctv, 1994).
Gần đây, do nhu cầu về cá cho xuất khẩu rất lớn đã kích thích nghề thu gom, dưỡng cá và
nuôi cá bè. Nghề nuôi cá bè trên các sông, kênh, hồ đã phát triển khắp các tỉnh ĐBSCL
nhất là An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và vùng hồ Trị An. Theo
Sầm Hoàng Văn - Sở Nông nghiệp tỉnh Đồng tháp, hiện tại tỉnh có hơn 500 bè nuôi cá
bống tượng và khoảng 40 - 50 hộ nuôi cá trong ao. Ở Trị An, mặc dù chỉ mới phát triển
nhưng nghề nuôi cá Bống tượng trong bè đã phát triển rất nhanh. Chỉ riêng khu vực tỉnh
Đồng nai đã có hơn 500 bè, đặc biệt là ở khúc sông La Ngà có tới 400 bè (Nguyễn Mạnh
Hùng, 1995).
Cá Bống tượng được chào hàng sang Hồng Kông, Singapore vào những năm 1980, sau đó
do không có thị trường, thiếu đầu tư khoa học kỹ thuật nên phong trào lắng xuống. Đến
những năm 1991, 1992 thị trường cá bống tượng lại mở ra khá hấp dẫn, giá cá loại I cao
gấp hai lần tôm cùng loại. Vào thời điểm 1993, giá cá loại I (> 400 gam) thu mua tại An
giang, Đồng tháp, Tiền giang là 80.000 - 100.000 đ/kg. Nhưng đến thời điểm 5/1994 giá
cá loại I từ 120.000 - 130.000 đ/kg. Đến 1995, do cá xuất khẩu bị chậm lại nên giá cá loại I
giảm xuống còn 60.000 - 80.000 đ/kg. Tuy nhiên, do thịt cá bống tượng thơm, ngon nên
giá trên thị trường ở Malaysia, Singapore vào khoảng 14 USD/kg.
II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
II.1. Đặc điểm môi trường
Cá Bống tượng sống trong các thủy vực nước ngọt như: sông ngòi, kinh rạch, ao hồ. Cá có
thể chịu đựng được với môi trường nước phèn pH dao động từ 5 - 6 và có thể sống trong
nước lợ có nồng độ muối 15 ‰. Nhờ có cơ quan hô hấp phụ, cá có thể chịu được trong
điều kiện oxy thấp và ngay cả chui rúc trong bùn trong nhiều giờ. Cá có thể sống trong
khoảng nhiệt độ 15 - 41.5
o
C. Nhiệt độ thích hợp nhất là từ 26 - 32
o
C.

2
. Ao có dạng hình chữ nhật, chiều dài gấp
3-4 lần chiều ngang, độ sâu của ao từ 1.2-1.5m. Ao phải có nguồn cấp, thoát nước chủ
động. Nguồn nước phải trong sạch, không bị ô nhiễm. Đất không bị nhiễm phèn, nhiễm
mặn. Trước khi thả cá, ao phải được tát cạn, tẩy dọn sạch sẽ, vét hết bùn đáy, lấp và trét
hết các hang hốc, lổ cua, lổ mọi, lổ chuột đào, đắp lại chổ sạt lở, trang bằng đáy. Nếu ao
không tát cạn được thì tiến hành thuốc cá bằng rễ dây thuốc cá với liều lượng 0.5 kg/100
m2. Sau đó tiến hành bón vôi với liều lượng 7 - 10 kg/100m
2
, ở những vùng bị nhiễm phèn
lượng vôi có thể tăng lên gấp đôi. Sau khi bón vôi nên tiến hành phơi đáy ao 2 - 3 ngày
trước khi thả cá.
Sau khi cải tạo xong thì tiến hành lấy nước vào ao. Cống phải bịt lưới hai đầu và kích
thước mắt lưới nhỏ để ngăn cá tạp và địch hại xâm nhập vào ao cũng như không cho cá
thoát ra ngoài.
III.2. Cá bố mẹ
Cá bống tượng có thể nuôi vỗ thành thục dễ dàng trong ao đất. Khi chưa thành thục rất khó
phân biệt đực, cái. Khi cá đã thành thục thì phân biệt đực, cái dễ dàng.
15
- Cá cái: gai sinh dục dài gần đến gốc vi hậu môn, có màu đõ ửng và tươi, đầu gai
sinh dục tròn, bụng cá to tròn. Trong một số trường hợp cá thành thục sinh dục có thể thấy
được buồng trứng hai bên bụng.
- Cá đực: gai sinh dục ngắn, đầu mút nhọn có hình tam giác.
Việc chọn cá bố nuôi vỗ phải tốt, khỏe mạnh không dị tật, không xây xát và đảm bảo các
tiêu chuẩn sau:
- Cá trên 1 năm tuổi.
- Trọng lượng từ 0.25 - 1.5 kg.
- Kích cở cá đều, mập, khỏe.
+ Thời gian nuôi vỗ. Tùy từng điều kiện cụ thể mà thời gian nuôi vỗ thành thục
sinh sản khác nhau. Thời gian nuôi vỗ được trình bày qua bảng sau.

2
.
+ Chế độ nuôi vỗ. Nuôi vỗ cá bống tượng bằng các loại thức ăn như: cá vụn, tép,
ốc, cua... Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào buổi sáng hay buổi chiều. Lượng thức ăn chiếm 3 – 5
% trọng lượng cơ thể. Thức ăn nên được đặt trong máng hoặc sàng và đặt nơi cố định
16
trong ao. Hàng ngày nên kiểm tra sàn ăn, nếu thừa thì loại bỏ thức ăn, còn nếu thiếu thì bổ
sung thêm thức ăn (Trần Mạnh Hùng, 1995). Một nghiên cứu khác của Panu
Tavatmaneekul, 1989 ở Thái lan thì lượng thức ăn nuôi vỗ hàng ngày chiếm 5 – 10 %
trọng lượng thân. Trong gian đoạn đầu, tỉ lệ các thành phần thức ăn trong hỗn hợp là: cá
tạp 95 %, cám 4 % và 1 % vitamin, khoáng.
Bảng : Ảnh hưởng của thức ăn nuôi vỗ lên sợ thành thục cá bống tượng (Ngô Bá Thành và
ctv, 1988)
Lô thí
nghiệm
Thức ăn nuôi vỗ Số cá thí nghiệm Số lần thành
thục
Tỉ lệ thành thục
I Giun đất 15 45 300%
II Cá, tép sống 13 35 269%
III Cá, tép chết 12 29 242%
Các thức ăn có nguồn gốc động vật đều cho kết quả thành thục tốt, điều này phù hợp với
tính ăn của cá trong tự nhiên. Cá bống tượng là loài đẻ nhiều lần trong năm, thời gian tái
phát dục 3 - 4 lần/năm.
III.3. Sinh sản
+ Vật liệu cho đẻ. Cá bống tượng là loài đẻ trứng dính và có tập tính đẻ ở tầng đáy. Vì
vậy khi cho cá đẻ ta cần chuẩn bị tốt các giá thể. Giá thể thường là mê bồ hay gạch tàu.
Nhược điểm của mê bồ là để lâu gây thối nước ảnh hưởng đến trứng cá. Hiện nay giá thể
thường sử dụng phổ biến là gạch tàu. Trước khi đặt giá thể cần phải rửa sạch và đặt
nghiêng một góc 45

phép) thì thời gian nở càng nhanh. Ngoài ra phương thức ấp trứng cũng ảnh hưởng đến
thời gian nỡ. Thời gian nở của phương pháp nước tĩnh bắt đầu từ 36 giờ và kéo dài đến 82
giờ trong khi thời gian nở theo phương pháp nước chảy và nước tĩnh có sục khí cũng bắt
đầu từ 36 giờ nhưng tập trung nhất vào khoảng 48 - 56 giờ sau khi thụ tinh. Qua kinh
nghiệm thực tiễn thì ấp trứng theo phương pháp nước tĩnh có sục khí là tốt nhất vì kích
thước cá bột rất nhỏ và rất yếu dể mẫn cảm với điều kiện môi trường (Ngô Bá Thành,
1988).
Phát triển phôi cá bống tượng
- Cá mới nở: có chiều dài 2.40 - 2.85 mm. Mắt chưa có sắc tố, cá nằm dưới đáy, bơi co giật
một đoạn ngắn.
- Ngày thứ I bắt đầu xuất hiện bóng hơi, cá bơi một đoạn dài hơn.
- Ngày thứ II chiều dài 2.65 - 3 mm. Cá bơi lên mặt nước rồi chìm xuống đáy theo chiều
thẳng đứng. Noãn hoàng còn to.
- Ngày thứ III cá bắt đầu bơi ngang một đoạn ngắn, tim và mao quản thấy có màu hồng đỏ.
Mắt có sắc tố.
- Ngày thứ IV chiều dài cá 3 - 3.2 mm. Cá bắt đầu mở miệng hớp mồi, thấy xuất biện
những mấu răng bên trong hàm, một vài sắc tố xuất hiện trên đuôi cá bột.
- Ngày thứ V vi ngực bắt đầu hơi nhú noãn hoàng tiêu hết.
- Ngày thứ VI chiều dài cá 3.2 - 3.6 mm. Cá bơi lưng chừng mặt nước, miệng mở rộng.
- Ngày thứ VII. Cá chết nhiều nếu không có thức ăn thích hợp.
- Ngày thứ VIII. chiều dài 3.9 - 4.2 mm. Đốt sống cuối cùng cong ngược lên phía lưng.
- Ngày thứ X. chiều dài 5-7mm. Các vi hình thành với đầy đủ các tia vi, sắc tố đen xuất
hiện ngang hông với các vi hậu môn. Cá bơi nhanh nhẹn.
- Ngày thứ XX. Cá có chiều dài 10-11 mm. Cá hình thành đầy đủ các cơ quan và có hình
dáng như cá trưởng thành. Cá có tập tính nằm sát đáy, ít di chuyển.
IV.2. Ương nuôi cá bột
Có hai cách ương cá bột bống tượng là ương trong ao đất và uơng trong bể xi măng.
a. Ương trong ao đất
+ Ao ương
- Ao ương có thể là ao tự nhiên sẳn có, nếu đào mới, ao nên có hình chử nhật, xuôi chiều

+ Kỹ thuật ương: ao ương cá bống tượng không cần bón phân trước nhưng cần có một ao
gây nuôi tảo và trùng bánh xe riêng biệt. Trong giai đoạn này, cho cá ăn 50-70 g bột đậu
nành và 10 lòng đỏ trứng bóp nhuyễn cho 100.000 cá bột. Thức ăn được hòa với nước rãi
đều khắp ao. Hàng ngày nên cho ăn 4-5 lần. Lượng thức ăn mỗi ngày tăng dần lên 5 - 10
%. Thêm vào đó, mỗi ngày vớt tảo và trùng bánh xe cho cá ăn. Sau 20 ngày tuổi, cá ăn
được thức ăn tự nhiên có kích thước lớn như giáp xác chân chèo, giáp xác râu ngành. Lúc
này cần quan sát màu nước ao. Nếu ao không lên màu thì tiến hành bón phân với liều
lượng 25-30 kg/100m
2
đối với phân hữu cơ và 3-4 g phân DAP.
b. Ương trong bể xi măng
+ Mật độ ương trên bể xi măng thường là 1000 - 2000 con/m
2
giai đoạn đầu và 150-250
con/m
2
ở giai đoạn sau
+ Kỹ thuật ương. Có thể ương cá thành 2 giai đoạn: từ 3 - 10 ngày tuổi và 10 - 60 ngày
tuổi.
- Cá bột từ 3-10 ngày tuổi được ương trong bể xi măng với các loại thức ăn khác nhau
như lòng đỏ trứng (1 trứng/2 vạn cá), bột đậu nành xay nhuyễn (1 muỗng cà phê/5000 cá)
và thức ăn tự nhiên với thành phần chủ yếu là nguyên sinh động vật - Protozoa, trùng
bánh xe - Rotifera, tảo đơn bào Chlorella.
- Sau 10 ngày ương, cá có thể ăn được các loại sinh vật thức ăn có kích thước thấy được
bằng mắt thường như giáp xác chân chèo, giáp xác râu ngành. Trong giai đoạn này, cá
được cho ăn thêm Moina và lòng đỏ trứng trộn với đậu nành số lượng giảm đi một nữa.
Khi cá được 15 ngày tuổi thì không cần cung cấp trứng và bột đậu nành. Sau 25 ngày cá
đã hình thành đầy đủ sắc tố và bám vào thành bể bằng vi bụng hay nằm ở đáy bể. Sau 30
ngày tuổi cá có thể ăn ấu trùng muổi, giáp xác nhỏ... Sau 60 ngày cá đạt 3 - 4 cm thì tiến
hành đem nuôi thịt.

- Chăm sóc, quản lý. Thức ăn chủ yếu cho cá là tép, cá nhỏ, cua, ốc, trùn... Tùy điều kiện
từng nơi, thức ăn có thể mua ở chợ hay tự kiếm nhưng phải đảm bảo thức ăn còn tươi.
Lượng thức ăn hàng ngày từ 5 – 7 % trọng lượng thân. Sau 8-10 tháng nuôi cá đạt 500-600
g/con thì thu hoạch. Năng suất thường là 15-20 tấn/ha/vụ.
V.2. Nuôi trong lồng, bè
a. Chọn vị trí nuôi.
Vị trí lý tưởng cho việc nuôi cá lồng, bè cần phải đặt những nơi kênh, rạch, sông, hồ có
dòng nước chảy nhẹ, thoáng và sạch. Nguồn nước không bị nhiễm bẩn, nhiễm phèn. Nên
chọn những nơi nước sâu để đảm bảo lượng nước trong bè 1.4-1.6m.
b. Bè và cách đóng bè
20
- Vật liệu: Bè có thể làm bằng tre, gổ hay tre, gổ kết hợp. Để giữ cho bè nổi lên trên mặt
nước, người ta dùng hệ thống phao. Phao thường được làm bằng thùng phuy, thùng nhựa
hay bằng tre. Số lượng thùng phuy sử dụng tùy thuộc vào kích thước bè. Trung bình cớ 8 -
9 thùng cho bè 15m
3
. Đối với bè nhỏ người ta có thể sử dụng phao làm bằng tre. Tre, nứa
nguyên cây đem phơi khô sau đó bó lại thành bó 10-15 cây cặp hai bên bè.
- Thiết kế bè. Bè thường có hình hộp chử nhật với kích thước khác nhau. Kích thước một
số bè như sau 3 x 2 x 1.5 m hay 4 x 3 x 1.75 m. Bè nên đặt có một phần nổi trên mặt nước
cách mặt nước 0.2-0.5 m. Hiện nay bè nuôi cá Bống tượng có hai dạng chính là bè cố định
và bè nổi. Ngoài ra một số nơi như Đồng tháp, người ta đào ven kênh, rạch rồi dùng cây,
ván bao xung quanh và nuôi cá trong đó. Bè nên đặt cách nhau 2 m đủ để một xuồng nhỏ
qua lại và gió có thể thông được bè.
- Thả giống. Nuôi cá trong bè tốt nhất nên chọn đều cở, trọng lượng từ 10-12 con/kg. Cá
phải khỏe mạnh nhiều nhớt, không bị xây xát, đuôi xòe rộng. Nếu phát hiện thấy cá có vết
lở loét hoặc ghẻ lở nên loại bỏ. Còn nếu thấy có trùng mỏ neo, rận... thì có thể tắm nước
muối 2% trong 5 phút. Mật độ cá thả 60 - 90 con/m
3
.

- Cá cũng sống được ở ao nước tĩnh có hàm lượng oxy thấp hay ở sông nơi có nước chảy
thường xuyên.
I.3. Sự phát triển, sinh trưởng và tính ăn
- Sau khi nở 3 - 4 ngày, cá dài 6 - 7,2 mm, bóng hơi chứa đầy khí, cá phân bố ở lớp nước
mặt là chính. Cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài. Thức ăn phù hợp là động vật phù du cở nhỏ
như luân trùng (Rotifera), giáp xác râu ngành (Cladocera), cá cũng ăn các tắưc ăn khác
như: bột đậu nành, bột huyết, lòng đỏ trứng nghiền nát...
- Sau khi nở 4 - 6 ngày, cá dài 7,2 - 7,5 mm, ăn sinh vật phù du ở lớp nước giữa là chính.
- Sau khi nở 8 - 10 ngày, cá dài 9,6 - 10,5mm, phân bố ở tầng đáy nhiều, ăn thức ăn lắng ở
đáy, sinh vật phù du, ấu trùng côn trùng...
- Sau khi nở 15 - 20 ngày, cá dài 14,3 - 19 mm, các vây bắt đầu hoàn chỉnh, cá bắt đầu có
vẩy và râu, thức ăn chủ yếu là động vật đáy cở nhỏ.
- Sau khi nở 20 - 28 ngày, cá dài 19 - 28mm, vây đầy đủ, sống ở đáy, ăn sinh vật đáy, mùn
bã hữu cơ và một số sinh vật phù du.
- Khi trưởng thành cá chép ăn chủ yếu sinh vật đáy như nhuyễn thể, giun, ấu trùng côn
trùng, mùn bã hữu cơ, mầm non và củ thực vật... Cá cũng ăn được nhiều loại thức ăn do
người cung cấp như: bột ngũ cốc các loại, bột cá, bột tôm, rau, bèo, phân động vật, đồ thừa
nhà bếp, phụ phẩm lò mổ...
- Cá chép nuôi trong ao có thể đạt trọng lượng như sau:
+ 1 năm: 0,5 - 0,8 kg
+ 2 năm:: 0.8 - 1,2 kg
+ 3 năm: 1,2 - 1,8 kg
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cá chép nuôi ruộng ngập nước vào mùa mưa sau 8 - 10
tháng có thể đạt trọng lượng 0,5 - 0,8 kg/con, có con nặng hơn 1 kg.
I.4. Sự sinh sản
22
- Tuổi thành thục: cá chép nuôi ở nước ta thành thục sinh dục sau 1 năm (nếu thức ăn đầy
đủ cá thành thục sau 8 - 10 tháng)
- Cá đẻ tự nhiên trong môi trường mà nó sinh sống nếu đủ các điều kiện sau:
+ Có cá đực và cá cái thành thục

- Có thể nuôi chung cá đợc và cá cái trong cùng một ao nhưng tốt nhất là nên thả riêng cho
mỗi loại. Cách tốt nhất là chọn cá có nguồn gốc khác nhau (hay còn gọi là dòng khác
nhau). Mỗi cơ sở sản xuất giống nên có ít nhất 2 dòng khác nhau để khi sinh sản có thể cho
23
cá đực của dòng này lai với cá cái của dòng khác và ngược lại. Đây là cách tốt nhầt để sản
xuất cá con có sức sống tốt, lớn nhanh, kháng bệnh tốt...
- Nên chọn cá hơn 2 năm tuổi với trọng lượng trên 1 kg để làm cá bố mẹ.
- Thời gian nuôi vỗ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long thường vào tháng 10 - 11.
- Mật độ cá nuôi vỗ dao động từ 0,1 - 0,2 kg/m
2
và nên nuôi ghép thêm khoảng 1 kg cá mè
trắng trên 15m
2
ao.
- Sau khi nuôi vỗ cá còn phải loại số cá không đạt yêu cầu thành thục (thường là 1/3 số
lượng cá nuôi). Do đó, số lượng cá bố mẹ nuôi vỗ phải gấp 1,5 lần số cá cần cho đẻ.
- Cá sau khi đẻ xong được thả riêng nuôi vỗ ở một ao khác. Thời gian nuôi vỗ tái phát từ 2
tháng thì cá có thể sinh sản được.
- Khi nuôi vỗ phải cung cấp thức ăn cho cá đầy đủ, có thể áp dụng phươg pháp sau:
+ Mỗi tuần bón khoảng 5 - 10 kg phân chuồng (heo gà, vịt...) cho 100m2 ao.
+ Thức ăn tinh được cung cấp mỗi ngày bằng 3 – 5 % trọng lượng cá trong ao (bằng
5% vào tháng 9 - 10 và thời gian nuôi tái phát, sau đó giảm dần còn 3%). Có thể sử
dụng công thức thúc ăn gồm 30 % bột cá, 40 % cám gạo, 20% bột bắp, 10% mầm
thóc. Hai thành phần bột cá, bột bắp phải nấu chín sau đó trộn chung với cám và
mầm thóc rồi cho cá ăn trong các sàng để rải rác ở nhiều nơi trong ao.
- Trong thời gian nuôi vỗ phải chú ý theo dõi tình trạng sức khoẻ của cá, màu sắc nước ao.
Nếu ao nước có màu xanh đậm, cá nổi đầu thường xuyên từ 5 - 8 giờ sáng mỗi ngày phải
bơm nước thêm cho ao đến khi cá bớt nổi đầu. Thông thường nuôi vỗ khoảng 2 - 3 tháng
thì cá có thể cho đẻ được.
II.3. Kỹ thuật cho cá đẻ

- Nên cho cá đẻ vào buổi chiều. Tiến hành kích thích nước cho cá bằng cách làm mưa nhân
tạo, kết hợp với sục khí làm tăng oxy nơi đặt giá thể. Cá sẽ đẻ vào lúc sáng sớm hôm sau.
Trường hợp cá không đẻ thì tiếp tục kích thích nước chờ qua đêm sau.
- Trường hợp cá thành thục không tốt, muốn cho cá đẻ dễ cần chích cho mỗi cá cái vài não
thùy thể cá.
- Sau khi cá đẻ xong, tiến hành thu giá thể đem ấp ở nơi khác, đồng thời tháo nước bắt cá
bố mẹ trả lại ao nuôi tiếp.
II.4. Ấp trứng cá chép.
Các điều kiện cần thiết cho ấp trứng cá chép
- Đầy đủ hàm lượng oxygen.
- Nhiệt độ thích hợp 20 – 28
o
C.
- Luôn đầy đủ nước cho trứng ẩm.
- pH nước 7 – 8.
- Không có sinh vật hại trứng.
Có thể áp dụng theo phương pháp ấp trứng trên cạn (ấp khô). Phương pháp này hiện nay
được áp dụng phổ biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cách tiến hành như sau:
+ Làm một cái sàng bằng tre hoặc gỗ, xếp bèo có dính trứng thành lớp mỏng, thoáng
trên sàn. Sàn được đặt nơi thoáng mát và phải có mái che để tránh mưa, nắng. Cứ
sau 2 - 3 giờ tưới nước cho trứng một lần để giử cho trứng luôn ẩm ướt. Khi thấy
trứng xuất hiện rõ hai mắt (hai chấm đen) thì đưa trứng xuống bể ấp hay ao ương cá
đã chuẩn bị sẳn cho trứng nở. Trứng đã nở hết, cá bột rời giá thể thì vớt bỏ giá thể.
+ Theo dõi ương trứng trong bể hay dưới ao đất. Trứng được đem ấp ở bể có nước
chảy thường xuyên kết hợp với sục khí (có thể dùng bể vòng ấp trứng cá mè, trôi để
ấp trứng cá chép). Sau khi cá bột nở hết, vớt bỏ giá thể nhưng chú ý nhẹ nhàng giũ
từng cây bèo để cá bột rời khỏi giá thể. Cá bột tiếp tục được gữư lại trong bể khoảng
3 ngày sau đó mới chuyển sang ương ở ao đất. Ở những nơi không có điều kiện ấp
trứng trong bể thì chuyển trứng cho nở ở ao đất (ao đã chuẩn bị sẳn từ trước). Theo
cách này cần tính toán số lượng cá bột nở ra vừa đủ để ương trong ao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status