HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA
MELOXICAM VÀ ACETAMINOPHEN
SAU PHẪU THUẬT RĂNG KHÔN HÀM
DƯỚI LỆCH
HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA MELOXICAM VÀ
ACETAMINOPHEN SAU PHẪU THUẬT RĂNG KHÔN
HÀM DƯỚI LỆCH
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau của
Meloxicam 15mg, Acetaminophen 1000mg sau phẫu thuật răng khôn hàm
dưới mọc lệch gần 90
0
.
Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng so sánh theo phương
pháp mù đôi. Cường độ đau sau phẫu thuật được đánh giá bằng thang VAS.
Có 70 bệnh nhân nhận thuốc ngẫu nhiên và ghi nhận cường độ đau sau khi
hết tê môi và liên tục trong 12 giờ sau đó.
Kết quả cho thấy đỉnh đau hậu phẫu đạt được tại thời điểm hết tê môi
(khoảng 3 – 3,5 giờ sau khi kết thúc phẫu thuật), Meloxicam 15mg có hiệu
quả giảm đau mạnh hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với Acetaminophen
1000mg.
Kết luận: chưa ghi nhận tác dụng phụ khi dùng Meloxicam và
Acetaminophen với liều đề nghị kiểm soát đau sau phẫu thuật răng khôn
hàm dưới lệch gần 90
0
.
Chính vì thế, nghiên cứu này nhằm các mục tiêu sau:
- Xác định diễn biến của cơn đau sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới
lệch gần 90
0
dưới tác dụng giảm đau của Meloxicam và Acetaminophen.
- Đánh giá hiệu quả giảm đau của Meloxicam 15mg và 7,5mg so với
Acetaminophen 1000mg và 500mg sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới lệch
gần 90
0
.
- Ghi nhận một số tác dụng phụ của Meloxicam và Acetaminophen
với liều lượng giảm đau cho sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới lệch.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- 70 bệnh nhân (18-40 tuổi) ở cả hai phái, có chỉ định và nhu cầu nhổ
răng khôn hàm dưới lệch gần 90
0
tại bộ môn Nhổ Răng-Tiểu Phẫu Thuật,
Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Tp. HCM.
- Không chọn vào nghiên cứu những bệnh nhân: Đang dùng một loại
thuốc giảm đau khác; đang điều trị với các thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc
chống đông máu; có tiền sử dị ứng thuốc hoặc dị ứng với các loại NSAIDs;
có tiền sử xuất huyết dạ dày, tá tràng; có tiền sử bệnh gan, thận, rối loạn
chuyển hóa; có thai hoặc đang cho con bú, đang có tình trạng nhiễm trùng
tại chỗ.
- Loại khỏi nghiên cứu những trường hợp bệnh nhân không cung cấp
đầy đủ các thông tin cần thiết hoặc cung cấp thông tin mơ hồ, thiếu chính
xác
Vật liệu nghiên cứu
Mobic (Meloxicam) viên nén 7,5 mg (Boehringer Ingelheim);
- Ít: rãnh sâu <5mm, rộng 1mm, khu trú tại mặt ngoài răng cần nhổ.
- Trung bình: rãnh sâu >5mm, rộng 1mm, từ góc ngoài-gần đến góc
ngoài-xa răng 8.
- Nhiều: rãnh sâu >5mm, rộng >1mm, đến tận mặt xa của răng cần
nhổ.
Sau can thiệp
Tất cả các bệnh nhân đều được dùng kháng sinh Amoxicilin 500mg, 1
viên x3 lần/ngàyx 5ngày.
Về nhà bệnh nhân tự ghi nhận
+ Thời điểm (giờ, phút) hết cảm giác tê môi và cảm nhận đau lúc đó
theo thang đánh giá đau tương đồng nhìn được (VAS) 100mm
+ Thời điểm uống thuốc và theo dõi sự thay đổi mức độ đau mỗi giờ
trong vòng 12 giờ tính từ lúc uống 2 viên thuốc đầu tiên (trong hộp thuốc
chính) bằng cách lần lượt đánh dấu vào 12 thước đo VAS trong phiếu đánh
giá đau. Sau liều đầu, nếu có nhu cầu, bệnh nhân sẽ uống tiếp viên thuốc còn
lại trong hộp thuốc chính. Tương tự nếu còn đau, bệnh nhân dùng tiếp hộp
thuốc dự trữ (mỗi lần 1 viên), ghi nhận thời điểm uống các viên thuốc này,
đánh giá mức độ đau trên các thước đo VAS còn lại cho đến hết 12 giờ. Sau
12 giờ, nếu còn đau bệnh nhân tiếp tục dùng thêm thuốc trong hộp thuốc dự
trữ nhưng không cần ghi nhận thêm thông tin. Nếu hết 5 liều mà vẫn còn
đau, bệnh nhân được dùng thuốc giảm đau cứu trợ. Khi hết đau hoàn toàn,
bệnh nhân tổng kết số viên thuốc đã dùng trong 2 hộp thuốc, đồng thời ghi
nhận tác dụng phụ (nếu có).
Đánh giá kết quả:
Đánh giá hiệu quả giảm đau của thuốc:
Đánh giá cường độ đau trước và sau khi uống thuốc dựa trên: * Thang
đánh giá cường độ đau tương đồng nhìn được (VAS) 100mm.
Những chỉ số sau:
D
0
đồ 1
Bảng 1: Tuổi và cân nặng trung bình của bệnh nhân
X Acetaminophen
Meloxicam
p
Tuổi 25,5 ± 5,31 26,0 ± 5,06
0,671
Nam
59,36 ± 7,64
61,79 ±
10,46
0,42
8
Cân
nặng
Nữ
47,88 ± 4,97
46,58 ±
5,19
0,50
2
Biểu đồ 1: Tỷ lệ Nam và nữ tham gia vào hai nhóm thuốc
Số liệu về phẫu thuật
Liều lượng thuốc tê cho tất cả các ca nghiên cứu đều là 3,6 ml.
Bảng 2: Thời gian tê và thời gian phẫu thuật trung bình (phút)
u
2 1
Trun
g bình
31 27
Mứ
c đ
ộ chảy
máu
Ít 2 3
0,45
4
Mứ
c đ
ộ chấn
Nhiề
u
12 13 0,69
3
Trun
g bình
23 18
thương
Ít 0 0
Số bệnh nhân dùng thuốc ở mỗi liều
Bảng 4: Số bệnh nhân tham gia vào mỗi liều: n (%)
Acetaminophen
Meloxicam
Acetaminophen
Meloxicam
p
D
0
41,29 ± 21,92
50,98 ±
19,46
0,063
D
1
28,45 ± 25,38
38,71 ±
20,45
0,078
D
2
25,63 ± 24,76
30,95 ±
21,77
0,361
D
3
20,35 ± 18,27
D
7
22,83 ± 21,07
10,24 ±
10,24
0,003
**
D
8
22,07 ± 20,02 8,07 ± 8,07
0,000
**
D
9
21,59 ± 20,48 8,67 ± 8,67
0,003
**
D
10
19,58 ± 18,85 8,89 ± 8,89
0,014
*
D
0,042
Li
ều
2
51,96 67,65 0,134
Thời gian dùng liều thuốc thứ 2
Nhóm Acetaminophen, 66,67% bệnh nhân dùng liều 2 trong vòng 6
giờ sau khi hết tê và sau 6 giờ có 33,33% bệnh nhân uống thêm thuốc. Nhóm
Meloxicam, có 35,71% bệnh nhân dùng thêm liều 2 trong vòng 5 giờ đầu và
64,29% dùng liều 2 kể giờ thứ 6 trở đi.
Liều thuốc trung bình
12 giờ sau khi hết tê: dùng trung bình 2,45 viên thuốc Mobic hoặc
2,94 viên Paracetamol. Lượng thuốc dự trữ đã dùng để giảm đau hoàn toàn:
nhóm Meloxicam, dùng thêm trung bình 0,33 viên và nhóm Acetaminophen
là 0,65 viên.
Tác dụng phụ
Nhóm dùng Meloxicam một bệnh nhân có cảm giác buồn ngủ sau khi
dùng thuốc, một bệnh nhân có cảm giác nóng lạnh tại giờ thứ 11 sau khi
dùng liều đầu tiên, một bệnh nhân có triệu chứng quặn bụng, tiêu chảy sau
khi dùng liều đầu, một bệnh nhân thấy xuất hiện mẩn đỏ trên hai tay sau khi
dùng liều thuốc thứ 2. Nhóm dùng Acetaminophen có hai bệnh nhân bị sốt nhẹ
(38
0
C) sau khi dùng liều thuốc thứ 2, một bệnh nhân thấy xuất hiện mụn nước
rải rác ở tay, chân gây cảm giác ngứa sau khi dùng liều đầu, một bệnh nhân có
cảm giác nhức đầu trong quá trình dùng thuốc.
BÀN LUẬN
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đau sau nhổ răng
Yếu tố tâm lý và phái tính
Đa số các tác giả cho rằng yếu tố phái tính ảnh hưởng đến cường độ
0
nhằm giảm sự phân tán về độ khó của phẫu thuật và cường
độ đau hậu phẫu ở hai nhóm nghiên cứu. Hơn nữa, theo đánh giá của Pell và
Gregory Winter, phẫu thuật răng khôn hàm dưới lệch gần 90
0
là một phẫu
thuật đạt mức “khó” đến “rất khó” và thường gây ra cơn đau hậu phẫu trầm
trọng. Do đó, tiêu chuẩn chọn mẫu này giúp chúng tôi quan sát diễn biến cơn
đau và cung cấp chính xác thông tin về hiệu quả giảm đau của Meloxicam và
của Acetaminophen sau phẫu thuật răng khôn có độ khó cao. Không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian phẫu thuật giữa hai nhóm (p >
0,05) (bảng 2).
Mức độ chảy máu và mức độ chấn thương
Các thủ thuật xâm lấn như rạch niêm mạc, khoan xương, cắt xương là
nơi khởi đầu của chuỗi phản ứng sinh hóa dẫn đến phản ứng viêm. Đối với
phẫu thuật nhổ răng khôn dưới lệch, mức độ chấn thương tuỳ thuộc vào
phần xương được cắt bỏ khi phẫu thuật, cấu trúc giải phẫu cũng như độ lệch
của răng được nhổ
(2)
. Trong nghiên cứu này, độ lệch của răng đã được xác
định, đồng thời tất cả các ca nghiên cứu đều được một phẫu thuật viên thực
hiện với cùng một trình tự phẫu thuật; việc đánh giá mức độ chảy máu và
chấn thương của tất cả các ca nghiên cứu cũng đều dựa vào kinh nghiệm
chuyên môn của phẫu thuật viên. Kết quả ở bảng 3 cho thấy không có sự
khác biệt về mức độ chảy máu và mức độ chấn thương giữa hai nhóm bệnh
nhân (p > 0,05).
Phương pháp đánh giá đau
Cách kê toa và theo dõi sự thay đổi cường độ đau
* Chọn cách hướng dẫn bệnh nhân dùng thuốc theo nhu cầu giảm đau
vì cách kê toa này giúp ghi nhận chính xác tác dụng của thuốc lên cảm nhận
Acetaminophen và Nimesulid). So sánh với nghiên cứu của Huỳnh Anh Lan,
Trần Ngọc Liên (nghiên cứu thang đánh giá đau diễn tả bằng lời với 4 điểm
tương ứng với bốn mức độ: không đau, đau ít, đau vừa, đau nhiều và chọn
cách kê toa cho một liều giảm đau dự phòng trước phẫu thuật), chúng tôi
nhận thấy cho dù không có tác động của liều thuốc giảm đau dự phòng,
cường độ đau cao nhất sau phẫu thuật răng khôn vẫn chỉ ở mức đau vừa.
Điều này phù hợp với nhận định của Peterson về tính chất đau sau phẫu
thuật nhổ răng (thường chỉ ở mức đau nhẹ đến trung bình) và phù hợp vơí
kết quả nghiên cưú của Gustafsson, Nystrom và Quiding cho rằng việc kê
toa thuốc giảm đau trước phẫu thuật không có tiện ích về mặt lâm sàng cho
bệnh nhân.
Sự thay đổi cường độ đau hậu phẫu dưới tác dụng của thuốc giảm
đau:
- Đường biểu diễn sự thay đổi cường độ đau hậu phẫu trong vòng 12 giờ
ở nhóm Acetaminophen (biểu đồ 3.2) cho thấy cường độ đau giảm mạnh trong
vòng 1 giờ sau liều đầu. Từ giờ thứ 2 đến giờ thứ 5, cường độ đau chỉ giảm từ
nhẹ đến rất nhẹ (giờ thứ 2-3) và gần như không tiếp tục giảm (giờ thứ 4-5). Tại
giờ thứ 6 sau liều đầu, cường độ đau tăng trở lại và chỉ giảm nhẹ sau giờ thứ 8.
Từ giờ thứ 11 trở đi đường biểu diễn đau có dạng bình nguyên (cường độ đau
hằng định ở khoảng 15 mm). Thời điểm bệnh nhân dùng thêm liều thứ 2 ở
nhóm Acetaminophen trùng với các thời điểm cường độ đau đang giảm mạnh
trở nên giảm nhẹ, hoặc đang giảm nhẹ đột ngột chựng lại hoặc tăng lên. Đó là
các giờ thứ 2, 4, 6. Điều này phù hợp với động học của thuốc. Thuốc đạt nồng
độ đỉnh trong huyết tương sau 30 – 60 phút tạo ra “dốc giảm đau” sau 1 giờ
trên đường biểu diễn; sau đó nồng độ thuốc trong huyết tương giảm nhanh và
gần như hết hẳn sau 4 – 6 giờ (thời gian bán hủy: 2-4 giờ).
- Đường biểu diễn sự thay đổi cường độ đau hậu phẫu trong vòng 12 giờ
ở nhóm Meloxicam (biểu đồ 2) cho thấy cường độ đau giảm mạnh liên tục
trong vòng 5 giờ sau liều đầu, tăng rất nhẹ tại giờ thứ 6 (15,01mm15,25mm)
và tiếp tục giảm sau đó. Đường biểu diễn trên phản ánh rõ động học của