Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật bệnh viêm mũi xoang mạn tính có polyp ở người lớn - Pdf 21

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm mũi xoang mạn tính là bệnh thường gặp ở nước ta, tỷ lệ mắc bệnh
khoảng 3% đến 5% [3], gây tốn kém nhiều tiền của bản thân và gia đình
[13]. Theo một số điều tra đã công bố: Miền Bắc là 3% -5% [3], miền Nam
là 5% [17].
Thống kê của Mỹ viêm mũi xoang chiếm 15%, bao gồm viêm mũi xoang
cấp và mạn Đức chiếm khoảng 5% dân số, [53], [55]. Nghiên cứu của Bệnh
viện Nhân dân Gia Định, bệnh nhân đến khám Tai Mũi Họng 10%, trong đó
viêm mũi xoang chiếm 1/3 [7], [38].
Những tiến bộ về sinh lý, chức năng mũi xoang, cơ chế bệnh sinh của
viêm mũi xoang do rối loạn thông khí và dẫn lưu mũi xoang, rối loạn thanh
thải, viêm niêm mạc - lông chuyển, tắc nghẽn phức hợp lỗ ngách - khe mũi
tạo nên một vòng xoắn bệnh lý [17], [62].
Mục tiêu điều trị, làm thông mũi xoang, làm sạch chất xuất tiết, chống
viêm, chống phù nề niêm mạc, tái lập chức năng sinh lý của mũi xoang, tự
làm sạch và như vậy mới có thể khỏi được căn bệnh viêm mũi xoang mạn
tính, có tính dai dẳng và khó chữa [56].
Trước đây quan niệm viêm mũi xoang chủ yếu là do nhiểm khuẩn, phẫu
thuật kinh điển để loại bỏ bệnh tích tại mũi xoang như Caldwell-Luc,
Delima… ngày nay đã dần được thay thế bởi phẫu thuật nội soi mũi xoang
với các trang thiết bị hiện đại, phẫu thuật mũi xoang đạt kết quả tốt cho bệnh
nhân với sự can thiệp tối thiểu. Bên cạnh đó, gây mê hồi sức đã tạo thuận lợi
cho hiệu quả phẫu thuật nội soi mũi xoang cao hơn [12], [76].
Niêm mạc mũi xoang viêm nhiễm lâu ngày, rối loạn dinh dưỡng, quá
phát cục bộ của niêm mạc, tổ chức đệm bị phù nề, căng phồng và mọng
nước tạo thành polyp. Polyp là hậu quả của quá trình phù nề kéo dài, nhiều
1
nguyên nhân gây ra, việc điều trị còn khó khăn [27], [28]. Trên lâm sàng
polyp mũi xoang được coi như là một khối u nhưng về mặt bệnh học thì
không phải là khối u thật sự, nó có thể bị teo nhỏ và cũng có thể mất đi bằng
điều trị xịt mũi Corticoide [64].

hành cắt cuốn giữa bán phần, để làm mốc cho phẫu thuật lần sau [5], [15].
Chân bám cuốn giữa gắn với mảnh sàng, động tác lấy bỏ cuốn giữa mạnh bạo
sẽ gây vỡ mảnh sàng và chảy dịch não tủy [20].
1.1.1.2. Thành ngoài
Thành ngoài là vách mũi xoang. Thành nầy có liên quan nhiều đến phẫu
thuật mũi xoang [1],19]. Cấu trúc giải phẫu chính của vách mũi xoang bao gồm:
1.1.1.3. Các cuốn mũi
Bao gồm ba cuốn mũi trên, giữa và dưới. Mỗi cuốn mũi được cấu tạo bởi
ở giữa là lõi xương, bên ngoài phủ lớp niêm mạc đường hô hấp, trong lớp
niêm mạc nầy rất giàu mạch máu [30], [36], [47].
Cuốn mũi giữa là một phần của xương sàng, hơi lồi vào trong và phía
trước, đầu và cổ cuốn giữa xuất phát từ đê mũi (Agger nasi), vài biến đổi của
cuốn giữa sẽ gây viêm xoang như: đảo ngược, bóng khí, phì đại…
3
Bóng khí cuốn mũi, khi có sự tạo bóng khí trong cuốn mũi giữa gọi là
Concha bullosa có thể làm tắc nghẽn phức hợp lỗ ngách gây nên viêm xoang
[14], [20], [41].
1.1.1.4. Các khe mũi
Có 3 khe mũi: Trên, giữa và dưới
Khe mũi giữa: Quan trọng về giải phẫu cũng như bệnh lý và trong phẫu
thuật mũi xoang, bao gồm 3 cấu trúc: mõm móc, bóng sàng và khe bán nguyệt.
- Mỏm móc: Mảnh xương hình lưỡi liềm cong lõm ra sau, mỏng. Che
khuất lỗ thông xoang hàm ở phía sau, mốc giải phẫu cơ bản để vào xoang
hàm qua khe giữa, có thể bất thường (quá phát, có túi khí, đảo chiều) nó sẽ
làm hẹp phễu sàng và cả khe giữa [38], chẳng hạn đầu trên của mỏm móc có
thể chia làm 3 chân, rẽ theo 3 hướng để gắn vào xương giấy, nền sọ và cuốn
giữa [11], [12], [34], [81].
- Bóng sàng: Là một tế bào sàng trung gian, là mốc giải phẫu ổn định nhất
là tế bào sàng trước lớn nhất, có khi chứa khí trong 8% trường hợp, thành trước
bám ngang vào mái trán-sàng, gần động mạch sàng trước, có cấu trúc dạng

- Thành trước: Ứng với vùng lông mày, không vượt quá khuyết trên ổ mắt.
- Thành sau: Mỏng và tương ứng với màng não của hố não trước.
- Thành trong: Là vách ngăn giữa 2 xoang trán
- Đáy xoang trán thu hẹp lại để xuyên qua hệ thống các hốc sàng ở phía
dưới và phía sau bằng ngách mũi trán, đổ vào khe giữa. Lỗ thông của xoang
hẹp và dễ bị tắc bởi tế bào Agger nasi, thông bào phát triển và cuốn giữa [4],
[19], [20].
5
Về phôi học, xoang trán được coi như là sự phát triển của hệ thống các
xoang sàng trước chui lên xương trán. Xoang trán chỉ được hình thành khi trẻ
lên 2 tuổi và đến 6 hoặc 8 tuổi thì chụp X quang mới thấy rõ xoang trán.
Xoang trán được phát triển hoàn toàn ở độ tuổi 15 - 20 tuổi.
1.1.2.3. Xoang sàng
Bao gồm xoang sàng trước và xoang sàng sau, có khoảng 10 tế bào sắp
xếp thành 2 lớp trước. Lỗ thông xoang sàng trước đổ vào khe giữa, lỗ thông
xoang sàng sau đổ vào khe trên [4], [19], [47].
Xoang sàng có liên quan với nền sọ, phía ngoài là ổ mắt, cách nhau bởi
xương giấy, khi bị chấn thương hay viêm nhiễm dễ gây biến chứng nội sọ,
viêm xoang sàng ở trẻ em thường có biến chứng viêm ổ mắt.
Về phôi học, các thông bào sàng đầu tiên xuất hiện vào khoảng tháng thứ
5, thứ 6. Ở trẻ sơ sinh, lúc đầu còn rất nhỏ, sau đó phát triển nhanh ngay từ
những tháng đâù của trẻ, nhất là nhóm thông bào sàng trước. Tới 2 - 3 tuổi,
thông bào sàng mới phát triển lên xương trán. Hệ thống thông bào sàng tới 13
- 14 tuổi mới phát triển hoàn chỉnh.
1.1.2.4. Xoang bướm
Là xoang nằm sâu nhất, nằm trong thân xương bướm, giữa đáy của nền
sọ, ở phần sau của hốc mũi, liên quan nhiều đến tuyến yên, phía trên và ngoài
có thành trong ổ mắt, xoang hang, dây thần kinh thị giác và dây thần kinh vận
động nhãn cầu, hai xoang bướm được ngăn với nhau bởi một vách xương
mỏng, lỗ thông xoang bướm ở cao nên sự dẫn lưu kém và đổ vào khe trên

Tóm lại:
- Tất cả các xoang ở mặt đều liên quan và thông với hố mũi, bệnh học tại
mũi và bệnh học xoang có mối liên hệ nhân quả [28].
- Các lỗ thông xoang tự nhiên đều không thuận lợi cho việc dẫn lưu, dễ ứ
đọng và tắc nghẽn khi bị viêm nhiễm rất dai dẵng, khó chữa [38], [41].
- Các xoang trước đổ vào khe giữa khi khám khe nầy thấy có mủ ứ đọng
là dấu hiệu chẩn đoán viêm xoang trước [32], [64].
- Vị trí liên hoàn của các xoang mặt và lỗ thông xoang, khi có sự viêm
nhiễm xoang nầy sẽ lan sang các xoang khác tạo nên viêm nhiều xoang.
- Liên quan các xoang với các cơ quan lân cận như: ổ mắt, răng hàm số 4, 5,
6, 7 hàm trên, có thể lan vào hốc mắt, viêm xoang do răng [28], [30], [38], [41].
1.2. SINH LÝ NIÊM MẠC MŨI XOANG
1.2.1. Hệ thống lông chuyển niêm dịch của niêm mạc mũi xoang
- Tế bào lông chuyển: Là những tế bào giữ vai trò cơ bản trong lớp tế
bào biểu mô niêm mạc mũi xoang. Là loại tế bào trụ mặt trên có lông có thể
cử động được.
8
- Tế bào nhung mao: Có nhiệm vụ cân bằng dịch quanh các lông chuyển.
- Tế bào thay thế: Khi các tế bào lông bị bong ra, các tế bào này đi lên
bề mặt niêm mạc chuyển thành tế bào trụ có lông chuyển để thay thế.
- Dịch nhầy: Có 3 loại tuyến tiết để tiết dịch nhầy ở mũi xoang: Tuyến
tiết dịch, tuyến tiết nhầy, tuyến tiết hổn hợp (cả dịch + nhầy).
Tuyến tiết dịch hoạt động dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh phó
giao cảm. Sự mất cân bằng của hệ thống thần kinh sẽ đưa đến bệnh lý mũi
xoang [27], [32].
1.2.2. Chức năng sinh lý của hệ thống lông- nhầy
- Lọc khí: Nhờ có lớp nhầy bao phủ bề mặt niêm mạc mũi đa số các hạt
bụi bị giữ lại khi vào mũi. Các cuốn mũi tạo thành khoang rộng hẹp khác
nhau trong hốc mũi và làm tăng diện tích của niêm mạc mũi.
- Dẫn lưu: Tống ra khỏi mũi xoang các chất bẩn, bụi và các dịch tiết.

đường mũi họng.
Paulus Aegina (625 - 690 AD) cho rằng tế bào sàng là nguồn gốc của
polyp mũi, ông cắt polyp mũi và sau đó nhét bấc vào mũi, sau phẫu thuật bơm
nước vào mũi nếu nước chảy xuống họng là thành công.
Khoảng thập niên 1920 - 1930, các nhà phẫu thuật tai mũi họng (TMH)
đã thực hiện phẫu thuật (PT) xoang để điều trị (ĐT) các viêm xoang mà đã
điều trị nội khoa thất bại, chủ yếu là phẫu thuật Cadwell - Luc [32], [38]. Năm
1928.Vilar- Fiol đã báo cáo công trình về phẫu thuật nạo sàng hàm qua tam
giác tấn công. Năm 1936, E. Delima đã mở rộng phẫu thuật nầy lên xoang
hàm, sàng, trán và xoang bướm [56], [61].
Năm 1901, Hirschman đã dùng ống soi bàng quang 4 mm đưa vào trong
hốc mũi và vòm để khám viêm mũi xoang và phát hiện polyp mũi. Năm 1925,
Maltz mô tả kỷ thuật nội soi xoang hàm qua khe dưới và hố nanh để chẩn
đoán và đề xuất danh từ: Nội soi xoang [43].
10
Năm 1970, các tác giả ở Thụy Sĩ, Áo, Đức đã phẫu thuật nội soi chức
năng mũi xoang (PT NSCNMX) giải quyết các bệnh lý mũi xoang trên
nguyên tắc bảo tồn chức năng của chúng. Đến năm 1978, Messerklinger và
Terrier cùng độc lập công báo các công trình của mình về PT nội soi mũi
xoang dưới sự dẫn đường của ống nội soi thì phẫu thuật nội soi chức năng
mũi xoang mới thực sự ra đời và phát triển nhanh chóng cho đến ngày nay
[34], [68].
Ở Việt Nam, phẫu thuật nội soi mũi xoang đã được áp dụng từ năm 1991
tại Tp Hồ Chí Minh. Năm 1995,Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương Hà Nội,
2003 Bệnh viện Trung ương Huế, 2008 Bệnh viện Trường Đại học Y-Huế,
đến nay phẫu thuật nầy được áp dụng rộng rải tại các Bệnh viện tuyến Tỉnh
[12], [31], [61].
1.5.2. Viêm mũi xoang mạn tính có polyp
Viêm mũi xoang mạn tính là tình trạng viêm của niêm mạc mũi và các
xoang cạnh mũi kéo dài trên 3 tháng, đã điều trị đúng liệu trình mà không

12
1.5.5. Phân loại polyp mũi
Theo Stammberger, polyp mũi có 5 loại [86]:
* Polyp mũi sau.
* Polyp mũi đơn độc.
* Polyp mũi kèm theo viêm mũi xoang mạn tính, không tăng bạch cầu ái
toan, không liên quan đến những hội chứng đường hô hấp tăng phản ứng.
* Polyp mũi kèm theo viêm mũi xoang mạn tính có tăng bạch cầu ái toan.
* Polyp mũi đi kèm với các bệnh đặc biệt (xơ nang, nấm, không dị ứng).
1.6. TỔN THƯƠNG GIẢI PHẪU BỆNH CỦA POLYP MŨI
Về giải phẫu bệnh, Hellguist H.B. phân loại polyp thành 4 típ [66], [67].
- Típ I: Chiếm 90 %. Có các đặc điểm là phù nề, tăng sinh sợi, giảm
mạch máu tuần hoàn, giảm số lượng các tuyến và đầu tận thần kinh ở vùng
biểu mô tổn thương, nhiều bạch cầu ái toan, lớp đệm phù nề, tăng sản tế bào
ly, tăng sản tương bào, tăng sản tế bào lympho T xâm nhập, màng đáy bị
hyaline hoá và dày.
- Típ II: Chiếm < 10%. Polyp viêm mạn tính, phù nề, không tăng sinh tế
bào ly.
- Típ III: Hiếm và chiếm 5%. Polyp tăng sinh tuyến thanh nhầy và nhiều
cấu trúc ống tuyến, polyp nầy thường chẩn đoán nhầm với adnoma.
- Típ IV: Polyp với hình dạng mô đệm (stroma) không đặc hiệu dễ nhầm
với bướu. Tiêu chuẩn chính phân biệt chúng với ung thư là không có mitoses
1.7. ĐẶC TRƯNG CỦA POLYP MŨI XOANG
- Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển, màng đáy dày, ít mạch máu và
thần kinh.
- Mô đệm phù nề do thoát huyết tương. Mô đệm nhiều bạch cầu ái toan,
trung tính, tân bào, đơn nhân, plasma cells, mast cells và đại thực bào.
- Mạch máu ít, không có phân bố thần kinh gây co mạch, nhưng có đầu
tận cùng nơi cuống polyp. Số lượng mast cells gấp đôi trong niêm mạc hô hấp
bình thường và hạt mast cells nhỏ.

những cấu trúc nằm ở sâu, giúp phẫu thuật viên phát hiện những hình ảnh giải
phẫu bất thường và đánh giá tình trạng bệnh lý các vùng bị bít tắc [42], [69].
Thông thường người ta sử dụng 2 tư thế:
- Coupe coronal (cắt đứng ngang theo bình diện trán): Nó cho thấy các
bình diện cắt theo chiều từ trước ra sau, từ xoang trán đến thành sau xoang
bướm [8].
- Coupe axial (bình diện nằm ngang) diện cắt đi từ mào huyệt răng, đáy
xoang hàm lên đến trần của xoang trán [79].
CTScan thường được chỉ định trong những trường hợp sau:
1. Chỉ định chụp CTScan để xác định bệnh lý mà ta không thể phát hiện
được qua thăm khám lâm sàng, bằng nội soi, các polyp nhỏ, ở các xoang sâu,
các u ở vùng đầu mặt cổ.
2. CTScan mũi xoang là một chỉ định cần thiết để đánh giá bệnh lý của các
xoang đã điều trị nội khoa, đúng phát đồ, đúng liệu trình mà không có kết quả.
3. Chỉ định chụp CTScan sau phẫu thuật nội soi mũi xoang, nó cho
chúng ta thấy các bất thường, tái bít tắc lỗ thông xoang.
4. Ngoài ra CTScan giúp chúng ta chẩn đoán trường hợp khó, mạn tính,
đồng thời loại ra một số bệnh lý không thuộc Tai Mũi Họng.
Số BA: 3969 Số BA: 4570
Hình 1.5. Hình ảnh polyp ở mũi xoang
15
1.8.4.3. Nội soi mũi xoang
Phần lớn các cơ quan Tai mũi họng nằm sâu trong các hốc xương sọ mặt
nên việc chẩn đoán rất khó. Nội soi mũi đánh giá tình trạng phức hợp lỗ thông
xoang ghi nhận sự bít tắc và dịch, mủ, có polyp ở các khe, đánh giá và phân
độ polyp [40].
Khi soi vào hốc mũi, chúng ta gặp là vách ngăn, cuốn mũi dưới, vẹo
vách ngăn gây nghẹt mũi, cản trở phẫu thuật, vào sâu hơn ta sẽ thấy cuốn mũi
giữa, đây là cấu trúc rất quan trọng khi phẫu thuật nội soi mũi xoang.
Mỏm móc là cấu trúc quan trọng kế tiếp. Xương này có hình chữ L và tạo

- Cận lâm sàng có giá trị là CTscan [54].
- Giải phẫu bệnh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán
chính xác polyp mũi [34], [67].
1.10. ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH CÓ POLYP
1.10.1 Chiến lược điều trị:
Hiện nay, viêm mũi xoang mạn tính có polyp không điều trị bảo tồn, chủ
yếu là điều trị bằng phẫu thuật. Nhằm loại bỏ polyp, nguyên nhân cơ học gây
viêm mũi xoang [72], phối hợp điều trị nội khoa, phòng tái phát của bệnh [7].
Bảo đảm sự thông thoáng hố mũi xoang
Chống dị ứng và các nguyên nhân khác
Giải quyết các bất thường và các nguyên nhân cơ học tại mũi xoang
1.10.2. Điều trị nội khoa kết hợp
Mục đích điều trị viêm mũi xoang mạn tính có polyp là loại trừ polyp, tái
lập chức năng sinh lý, phục hồi hệ thống thanh thải nhầy, chống sự tái phát dù
trên thực tế không thể loại trừ bệnh lý viêm mũi xoang [17], [53].
- Kháng sinh:Việc dùng kháng sinh ở đây là chống bội nhiễm và dự
phòng bội nhiễm.
- Corticoide tại chỗ và toàn thân:
17
Chống chỉ định: Bệnh nhân đục thuỷ tinh thể, tiểu đường, lao nguyên
phát. Ngoài ra còn chống chỉ định tương đối: bệnh nhân có cao huyết áp và
loét dạ dày.
Cần phối hợp điều trị theo công thức: corticoide - phẫu thuật - corticoide
Dùng corticoide tại chổ sau phâũ thuật sẽ làm giảm sự tái phát
- Rửa mũi xoang hằng ngày bằng nước muối sinh lý.
- Điều trị đối với các nguyên nhân khác [57], [63], [74], [84].
1.10.3. Phẫu thuật kinh điển
- Phẫu thuật mở lỗ thông mũi xoang: Đục qua vách mũi xoang ngang
tầm với khe dưới
- Phẫu thuật cắt polyp mũi đơn thuần: Nhằm trả lại sự thông thoáng cho

- Tắc ống lệ đạo
- U nhầy của xoang
- U nang
- Nấm xoang
- Nhức đầu mạn tính do điểm tiếp xúc
19
- Những biến chứng ổ mắt do viêm xoang
- Bệnh lý vách ngăn
- Bệnh lý ở loa vòi
- Bít tắc lỗ thông xoang sau phẫu thuật xoang kinh điển
- Điều trị kết hợp trong viêm mũi dị ứng
- Hội chứng xoang phế nang
- Viêm họng tái diễn
- Một số trường hợp ngủ ngáy
- Thoát vị màng não, dò dịch não tuỷ
- U tuyến yên
- Mổ giảm áp hốc mắt, dây thần kinh thị
+ Chống chỉ định
- Viêm xoang cấp
- Những trường hợp phải mở rộng rãi các xoang hoặc phải mở sát đến
nền sọ
- Những trường hợp tổn thương xương lan rộng như u xương
- Xơ dính do viêm nhiễm có lan vào xương ở vùng lỗ thông xoang trán
- Ngách xoang trán và lỗ thông xoang trán không xác định được bằng
đường nội soi mũi
- Hai trường hợp đặc biệt phải áp dụng kỹ thuật mở xoang hàm kinh điển
* Viêm xoang hàm do nấm khi khối nấm lấp đầy toàn bộ xoang hàm
* Khi ngách xoang hàm bị xơ dính và bị ngăn thành những ngăn nhỏ
không thể đưa dụng cụ phẫu thuật vào bằng đường nội soi [40], [87].
1.10.6. Kỹ thuật

Tổn thương mạch máu nội sọ là một biến chứng rất nặng nề, song may
mắn là biến chứng này hiếm gặp. Tổn thương động mạch sàng trước có thể
chảy máu vào trong hốc mắt gây tụ máu chèn ép nhãn cầu, đây là biến chứng
21
khá nguy hiểm. Khi có biến chứng thì nên nhét meche mũi, không tiếp tục
tiến hành phẫu thuật [21], [34].
1.10.7.3. Tai biến ổ mắt
Xương giấy rất mỏng, khi tổn thương dễ gây phòi mỡ ổ mắt hay xuất
huyểt trong ổ mắt. Trường hợp nhẹ có thể tự khỏi, nhưng nếu nặng có thể gây
nhìn đôi, giảm thị lực tạm thời hoặc vĩnh viễn.
1.10.7.4. Tai biến về cấu trúc
Dính niêm mạc các thành phần trong hốc mũi với vách ngăn, ảnh hưởng
nhiều đến sự thông thoáng hốc mũi sau phẫu thuật làm tái phát tình trạng tắc
nghẽn dẫn lưu và thông khí các xoang. Dính đầu cuốn mũi giữa vào thành bên
mũi là vị trí dính thường làm tái phát viêm mũi xoang cần phải tách dính.
[21], [32], [39].
1.11. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.11.1. Nghiên cứu trong nước
* Theo tác giả Phạm Kiên Hữu (2004) [21], “Kỹ thuật nội soi phẫu thuật
nạo sàng hàm qua tam giác tấn công qua 300 case thực hiện tại BV Nhân Dân
Gia Định” đã nhận thấy:
- Hạn chế được tai biến trong khi phẫu thuật, giảm được thời gian phẫu thuật.
- Lấy bỏ nhều bệnh tích nên thích hợp với các viêm xoang sàng mạn có polyp.
- Polyp mũi gặp với tỷ lệ cao, gặp mọi lứa tuổi, các phẫu thuật phối hợp
kèm theo chiếm 70%, tỷ lệ giảm và khỏi các triệu chứng đạt từ 82% - 95%, tái
phát polyp 1%.
* Phạm Thế Hiển (2004) [18],“Nghiên cứu bệnh viêm mũi xoang và các
yếu tố liên quan tại Tỉnh Cà Mau” cho thấy:
- Tỷ lệ viêm mũi xoang ở cộng đồng là 11,8%.
- Vùng nông thôn là 13,7%, Thành thị là 12,1%, Vùng tràm U Minh là 8,4%.

- Các yếu tố nguy cơ như: Suyễn, dị ứng, bất dung nạp Aspirin, viêm
23
xoang do nấm, thuốc lá, suy giảm miễn dịch, bệnh hệ thống, U hạt ác tính
giữa mặt, bệnh nhân bị trào ngược dạ dày thực quản.
- Polyp mũi xoang độ 4, khi phẫu thuật dễ sót, tái phát nhanh, lỗ thông
xoang dễ bị hẹp,
- Phát hiện và hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ trước phẫu thuật, kỷ
thuật đúng, chăm sóc tốt.
* “Điều trị viêm mũi xoang mạn tính có polyp mũi bằng phẫu thuật nội
soi triệt để,” [33], Nguyễn Ngọc Minh (2004), cho thấy:
- Tác giả áp dụng kỷ thuật RESS để giải quyết các bệnh tích ở xoang
trán-sàng-hàm -bướm 2 bên cùng lúc.
- Xem polyp mũi như là bệnh toàn thân nên phải điều trị nội khoa trước.
- Tỷ lệ thành công rất cao 100% sau 2 năm theo dõi, các triệu chứng lâm
sàng có tái phát nhưng điều trị nội khoa ổn định.
1.11.2. Nghiên cứu ngoài nước
* Cheng.A (2006) [64],“Nasal polyps Surgical Treatment.”
- Tác giả bàn luận về phương pháp phẫu thuật, tuỳ theo độ của polyp, độ
càng lớn tái phát càng cao.
- Cần điều trị nội khoa sau phẫu thuật bằng Corticoide.
- Cần theo dõi định kỳ sau phẫu thuật: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm.
- Kết quả sau phẫu thuật đạt tỷ lệ Tốt: 97%, khá: 2%, xấu: 1%.
* C. Bachert, K. Homann, R.Mosges, G. Rasp, H. Riechelmann, R.
Muller, H. Luckhaupt, B.A. Stuck, C. Rudack Allergy (2003) [56], “Update
on the diagnosis and treatment of sinusitis and polyposis”.
- Cần sử dụng kháng sinh và corticoide trước phẫu thuật 1 tuần.
- Khảo sát kỷ lâm sàng và CT trước khi đưa ra phương pháp phẫu thuật.
- Tôn trọng các mốc giải phẫu và sinh lý mũi xoang
- Kết quả sau phẫu thuật 3 tháng đạt: Tốt 96%, Khá 3%, Xấu 1%.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status