nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha mẹ và con theo luật HNGĐ việt nam năm 2000 - Pdf 21

LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc nhất đến GV. TS Nguyễn Văn Cừ - Người đã giúp em hoàn thành
khóa luận này.
Tiếp theo, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong
trường Đại Học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo khoa Luật Dân sự đã
giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt bốn năm học tập tại trường.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện
và hết lòng chăm sóc, quan tâm, giúp đỡ để em có thể hoàn thành khóa luận này.
Khóa luận là thành quả sự nỗ lực của cá nhân tác giả trong thời gian qua.
Tuy nhiên, do kiến thức bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi
thiếu sót kính mong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô và sự đóng góp của
các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào, nền tảng vững chắc của xã hội. Chính từ nơi đây, nhân
cách của mỗi con người được hình thành, nuôi dưõng và phát triển. Mối quan hệ
giữa cha mẹ và con là mối quan hệ thiêng liêng nhất, quý giá nhất vì chính nhờ
vào tình thương của cha mẹ mà con cái được sinh ra và lớn khôn. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nhận định: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm
năm thì phải trồng người”
(1)
.
Quan hệ đó không chỉ phát sinh dựa trên quan hệ huyết thống mà còn
được phát sinh trên cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ nuôi đối với con.
Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em đã khẳng định: “Để phát triển
đầy đủ và hài hoà nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành trong môi
trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm ”.
Bên cạnh vấn đề tình cảm của cha mẹ đối với con thì vấn đề tình cảm của
con đối với cha mẹ cũng là một vấn đề cần phải hướng tới. Ngày nay, vấn đề
“trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ” là một vấn đề tế nhị. Trong xã hội nơi

6. Cơ cấu khóa luận:
Chương 1: Nội dung nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha mẹ và con
theo luật HN&GĐ năm 2000.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về nghĩa vụ và quyền nhân
thân giữa cha mẹ và con theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000.
CHƯƠNG 1
NỘI DUNG NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN NHÂN THÂN GIỮA CHA MẸ VÀ
CON THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM.
Thuật ngữ “nghĩa vụ” là khái niệm khoa học chỉ “việc phải làm theo bổn
phận của mình”
(1)
. Theo quy định của Điều 280 BLDS năm 2005 Việt Nam
định nghĩa: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau
đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả
tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện
công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi
chung là bên có quyền)”. Ở đây là mối quan hệ giữa cha mẹ và con.
Thuật ngữ “quyền” là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều
mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức được
hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế
(2)
.
Quyền của cá nhân bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Trong đó,
quyền nhân thân của cá nhân là một trong những quyền dân sự cơ bản của con
người được pháp luật bảo hộ. Điều 24 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền nhân
thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân,
không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác”.
Pháp luật quy định nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha mẹ và con vừa

hợp không những đối với các ngành luật khác mà còn phù hợp với việc nội luật
hóa các quy định của Công ước vào luật quốc gia. Bên cạnh đó, quy định về
nghĩa vụ và quyền nhân thân của cha mẹ đối với con trong Luật HN&GĐ năm
2000 dựa trên nguyên tắc cha mẹ có quyền bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa
vụ và quyền đối với con, điều này đảm bảo được quyền bình đẳng, không phân
biệt tư cách của cha và mẹ trong mối quan hệ với con. Không những thế, việc
quy định nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha mẹ và con còn liên quan đến
nhiều nội dung khác của Luật HN&GĐ như quan hệ cấp dưỡng, nuôi con nuôi
v.v.
Ý nghĩa về mặt xã hội: Có thể nói mối quan hệ cha mẹ và con là yếu tố
quan trọng tạo nên sự gắn kết và bền vững của gia đình. Vì vậy, việc quy định
nghĩa vụ và quyền giữa cha mẹ và con, tạo ra các quy tắc xử sự giữa các thành
viên trong gia đình là một biện pháp góp phần ổn định các mối quan hệ trong gia
đình. Gia đình ổn định, tạo nên sự ổn định bền vững của xã hội, bởi lẽ, gia đình
là tế bào của xã hội. Đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em, không ai có thể
phủ nhận được vai trò của gia đình, đặc biệt là cha me.
Trẻ em là tương lai của đất nước, bảo vệ tương lai của đất nước là điều vô
cùng quan trọng. Vì vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về nghĩa vụ và
quyền nhân thân của cha mẹ đối với con dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền trẻ
em, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con là cần thiết nhằm nâng cao ý thức
trách nhiệm của cha mẹ đối với con, tạo điều kiện cho việc đảm bảo các quyền
cơ bản của trẻ em.
Ngoài ra, những quy định về nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha mẹ và
con trong luật HN&GĐ năm 2000 còn có ý nghĩa trong việc xóa bỏ những tiêu
cực trong xã hội như: trọng nam khinh nữ, phân biệt đối xử giữa các con, bạo
lực gia đình v.v.
1.3. QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN NHÂN THÂN GIỮA CHA
MẸ VÀ CON QUA CÁC THỜI KỲ Ở VIỆT NAM.
Trong gia đình, mối quan hệ huyết thống, quá trình nuôi dưỡng, tình
thương và trách nhiệm gắn kết các thành viên với nhau, trong đó, mối quan hệ

chế định trong các Bộ dân luật cũ đối với các quan hệ HN&GĐ đang cản trở
bước tiến của xã hội; nhằm động viên sức người, sức của bảo đảm cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong
kiến trong các quan hệ HN&GĐ, dưới ánh sáng đường lối của Đảng, đối với
mối quan hệ giữa cha mẹ và con Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 97/SL
ngày 22 tháng 5 năm 1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật,
gồm 15 điều trong đó có 8 điều quy định về HN&GĐ với những nội dung:
Xóa bỏ tính cách phong kiến của quyền gia trưởng cũ quá ràng buộc và áp
bức cá nhân, trái với mục đích giải phóng con người của một nền pháp chế dân
chủ. Vì thế người con đã thành niên từ nay có quyền tự chỉ huy mình và quản trị
tài sản riêng. Con đã thành niên lấy vợ, lấy chồng, không cần phải có sự thỏa
thuận đồng ý của cha mẹ hoặc của một thân trưởng nào khác (Điều 2).
Xóa bỏ quyền “trừng giới” của cha mẹ đối với con, cha mẹ không có
quyền xin giam cầm con cái khi chúng phạm lỗi (Điều 8).
Ngoài ra, pháp luật còn cho phép người con hoang vô thừa nhận được
quyền thưa trước Tòa án để truy nhận cha, mẹ của mình (Điều 9).
- Quy định về nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha mẹ và con
trong giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975.
Chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã toàn thắng. Tuy
nhiên đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp nhảy vào miền Nam nước ta, thực hiện
mưu đồ xâm lược, chia cắt lâu dài đất nước ta, sự nghiệp cách mạng Việt Nam
thực hiện 2 nhiệm vụ: Miền Bắc hòa bình bước vào thời kì quá độ xây dựng
XHCN; Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đấu tranh thống
nhất nước nhà.
Ở Miền Bắc, năm 1957, cuộc cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành,
quan hệ sản xuất phong kiến – cơ sở của chế độ HN&GĐ phong kiến bị xóa bỏ.
Sau các cuộc điều tra khảo sát tình hình thực tế các quan hệ HN&GĐ (được tiến
hành từ năm 1951 đến năm 1958 ở 11 vùng kinh tế khác nhau), lấy ý kiến thảo
luận đóng góp, bổ sung của nhân dân; Dự Luật HN&GĐ đã được Quốc hội khóa
I, kỳ họp thứ 11 chính thức thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1959 và được Chủ

định nghĩa vụ phải chăm sóc nuôi dưỡng nhau giữa những người thân trong gia
đình. Trước đây Luật HN&GĐ năm 1959 coi đây là nghĩa vụ đương nhiên dựa
trên truyền thống đạo đức trong gia đình Việt Nam nhưng lại không quy định
trong luật, dẫn tới việc giải thích, áp dụng gặp nhiều trở ngại, thiếu cơ sở pháp
lý.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định tiến bộ của Luật
HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã đề cao vai trò của gia đình
trong đời sống xã hội, xây dựng và củng cố gia đình theo truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, tránh ảnh hưởng tiêu cực theo lối sống thực dụng và những tác động
xấu của mặt trái cơ chế thị trường đối với quan hệ HN&GĐ. So với Luật
HN&GĐ năm 1986 nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha mẹ và con đã được bổ
sung thêm tại Luật HN&GĐ năm 2000: quy định về nghĩa vụ và quyền chăm
sóc, nuôi dưỡng (Điều 36), nghĩa vụ và quyền giáo dục con (Điều 37). Đồng
thời, những quy định của chương này đã cụ thể hóa các nghĩa vụ và quyền nhân
thân của cha mẹ và con đối với nhau. Trong Luật HN&GĐ năm 2000, quy định
về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con vẫn được xây dựng dựa trên
nguyên tắc cha mẹ bình đẳng với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền
đối với con. Tuy nhiên tại các điều 34,35,36 và 37 đã thay cụm từ “nghĩa vụ”
bằng cụm từ “nghĩa vụ và quyền” tại tên và trong nội dung các điều. Ngoài ra
Luật HN&GĐ năm 2000 còn bổ sung quy định mới về nghĩa vụ và quyền của bố
dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng (Điều 38).
1.4. SỰ KIỆN PHÁP LÝ LÀM PHÁT SINH QUAN HỆ PHÁP LUẬT
GIỮA CHA MẸ VÀ CON.
1.4.1. Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự
kiện sinh đẻ.
Việc đứa trẻ ra đời từ người cha, người mẹ nhất định được xác nhận dù
giữa hai bên có tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp hay không sẽ làm phát sinh
quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con. Như vậy, cơ sở pháp lý của quan hệ trên
là sự kiện sinh đẻ, mối quan hệ huyết hệ tự nhiên. Tuy nhiên việc xác định cha
mẹ, con về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng còn có một số trường hợp khá phức

- Để đảm bảo lợi ích cho đứa trẻ, pháp luật quy định con sinh ra trước
ngày đăng ký kết hôn (ngày tổ chức đăng ký kết hôn) nhưng được cả vợ chồng
thừa nhận là con chung của vợ chồng.
Trong trường hợp cha mẹ không thừa nhận con thì pháp luật quy định:
“Trong trường hợp cha mẹ không thừa nhận là con thì phải có chứng cứ và phải
được Tòa án xác định” (khoản 1 Điều 63) và “Người không được nhận là cha
mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người
được nhận là cha mẹ một người có thể yêu cầu tòa án xác định người đó không
phải là con mình”.
Trong thực tế nhiều trường hợp quan hệ hôn nhân đang tồn tại, nhưng một
bên chồng nghi ngờ người vợ không chung thủy do ngoại tình và đứa con đó
không phải là con mình thì phải đưa các chứng cứ chứng minh trước tòa án, nếu
người chồng không chứng minh được thì được xác định là con chung của vợ
chồng và người vợ không có nghĩa vụ chứng minh. Trong trường hợp cần thiết
thì phải giám định gen.
Hiện nay khoa học phát triển nhiều trường hợp đứa trẻ sinh ra không trên
cơ sở huyết thống (sự kiện sinh đẻ) mà nhờ vào sự can thiệp của y học: thụ tinh
trong ống nghiệm, mang thai hộ vấn đề này Chính phủ phải quy định cụ thể
trong từng trường hợp cụ thể.
Điều 65 của Lụật HN&GĐ năm 2000 quy định quyền xin nhận cha mẹ:
“1. Con có quyền xin nhận cha mẹ của mình kể cả trường hợp cha, mẹ đã chết.
2. Con đã thành niên xin nhận cha không đòi hỏi có sự đồng ý của mẹ,
xin nhận mẹ không đòi hỏi có sự đồng ý của cha”.
Việc xin xác định cha mẹ cho con thường xảy ra đối với những trường
hợp người phụ nữ chưa có chồng nhưng lại sinh con do nhiều nguyên nhân khác
nhau mà người đàn ông không nhận đó là con mình thì tòa án có thẩm quyền
phải căn cứ vào chứng cứ thu thập được để xác định cha cho người đó.
1.4.2. Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự
kiện nuôi dưỡng (nuôi con nuôi).
Theo khoản 1 Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2000: “nuôi con nuôi là việc

cha mẹ và con mang tính chất lâu dài và bền vững.
- Cha mẹ khi thực hiện nghĩa vụ và quyền của mình không được làm tổn
hại đến sức khỏe, sự phát triển tinh thần và đạo đức của các con. Pháp luật
không thể hướng dẫn chi tiết, cụ thể bắt buộc cha mẹ giáo dục con như thế nào,
nhưng pháp luật nói chung nghiêm cấm sự lạm dụng quyền của cha mẹ và xử lý
nghiêm khắc trong trường hợp cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm
của mình.
- Quyền gắn liền với nghĩa vụ. Quyền của cha mẹ trong xã hội hiện đại
được thừa nhận chủ yếu nhằm tạo điều kiện để cha mẹ thực hiện các nghĩa vụ
của mình đối với con. Suy cho cùng, trong các quyền của cha mẹ đều có yếu tố
nghĩa vụ và ngược lại, các nghĩa vụ của cha mẹ đều thể hiện quyền cha mẹ. Bởi
vậy, Luật HN&GĐ năm 2000, khi mô tả quyền cha mẹ, thường sử dụng cụm từ
“nghĩa vụ và quyền”. Cụm từ “nghĩa vụ” đi trước, có lẽ nhằm nhấn mạnh sự
thay đổi triệt để về quan điểm của người làm luật hiện đại đối với quyền cha mẹ
so với người làm luật thời cổ. Tính chất “nghĩa vụ và quyền” của quyền cha mẹ
cũng được khẳng định trong Công ước New York ngày 26/01/1990 về quyền trẻ
em mà Việt Nam là một thành viên.
- Phải tuân theo nguyên tắc bình đẳng giữa các con. Khi xây dựng chế
định quyền của cha mẹ, luật chỉ dựa vào sự tồn tại của quan hệ cha mẹ - con.
Luật không phân biệt tính chất của quan hệ đó tùy theo tính chất của mối quan
hệ giữa cha và mẹ, cũng như tính chất của mối quan hệ giữa cha mẹ và con. Bởi
vậy, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân hợp pháp, từ quan hệ hôn nhân trái pháp
luật, từ quan hệ chung sống như vợ chồng, thậm chí, từ các mối quan hệ “qua
đường” giữa cha và mẹ, đều được đối xử ngang nhau. Tuy nhiên, về phương
diện thực hiện quyền cha mẹ, sự bình đẳng phải được hiểu theo nghĩa tương đối:
con không sống chung với cha mẹ dưới một mái nhà không thể đặt dưới sự kiểm
soát, giám sát của cha mẹ cũng như không thể thụ hưởng việc chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục của cha mẹ trong cùng những điều kiện như con sống chung
với cha mẹ.
- Nguyên tắc thực hiện trực tiếp, cha mẹ phải là chủ thể năng động, tích

1.6. NỘI DUNG.
1.6.1. Nghĩa vụ và quyền nhân thân của cha mẹ đối với con.
Cha mẹ chỉ có quyền quyết định chế độ pháp lý về nhân thân của con
chưa thành niên theo quy định của pháp luật, khi con đã thành niên, có đầy đủ
năng lực dân sự thì cha mẹ không có quyền quyết định chế độ pháp lý về nhân
thân của con nữa. Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật HN&GĐ năm 1986,
Luật HN&GĐ năm 2000 phát triển cụ thể hóa các quy định các nghĩa vụ và
quyền về nhân thân của cha mẹ đối với con để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã
hội hiện nay.
Với tư cách là cha mẹ, con thì: được thực hiện quyền và phải thực hiện
nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ pháp luật cha mẹ - con theo quy định của
pháp luật.
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền khai sinh, đặt họ tên, tôn giáo, dân tộc,
quốc tịch cho con.
Một trong những quyền cơ bản của con người là quyền được khai sinh
theo quy định tại Điều 29 BLDS năm 2005 : “Cá nhân sinh ra có quyền được
khai sinh”. Khai sinh là việc xác lập sự tồn tại của mỗi người với tư cách là công
dân và sẽ được Nhà nước công nhận về mặt pháp lý. Từ đó, các quyền khác mới
được bảo đảm thực hiện. Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định rõ khai sinh
cho con là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ, tuy nhiên các nhà làm luật cũng đã
gián tiếp quy định thông qua việc quy định các nghĩa vụ và quyền khác của cha
mẹ đối với con như: cha mẹ có nghĩa vụ và quyền chăm lo, tạo điều kiện cho
con học tập, chắc chắn một điều rằng cha mẹ không thể đăng kí cho con đi học
nếu không có giấy khai sinh v.v. Vì vậy, mặc dù Luật HN&GĐ năm 2000 không
quy định về vấn đề này, song trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con về nghĩa vụ
và quyền nhân thân thì cần đề cập đến. Theo đó, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền
khai sinh cho con đúng thời hạn và được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Thông thường, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân mang họ cha; con sinh ra
từ quan hệ chung sống như vợ chồng cũng thường mang họ cha. Cá biệt, có
trường hợp những người có quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc chung sống như vợ

thân của cha mẹ đối với con:
“1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con;
chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ
và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã
hội.
2. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ,
xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên;
không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã
hội.”
Như vậy, thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc vừa là quyền vừa
là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Là quyền bởi không ai trong bất cứ hoàn
cảnh nào có thể ngăn trở hoặc tước đi quyền được yêu thương, chăm sóc đối với
con cái từ phía người cha, người mẹ, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, vì lợi
ích của con mà quyền này bị hạn chế theo một quyết định hoặc một bản án của
Tòa án. Là nghĩa vụ bởi lẽ, không một người cha, người mẹ nào có quyền ruồng
rẫy, ngược đãi hoặc từ chối trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái do mình
sinh ra. Vì lợi ích, vì sự phát triển lành mạnh của con trẻ, đạo đức xã hội cũng
như pháp luật đặt ra những trách nhiệm, nghĩa vụ tối thiểu của cha, mẹ đối với
con mình.
- Nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con.
Sinh ra con, cha mẹ có trách nhiệm bảo đảm những nhu cầu thiết yếu trong cuộc
sống hàng ngày, cho sự phát triển của con trong phạm vi khả năng cho phép của
mình như: ăn, mặc, ở, chữa bệnh v.v. Con được trông nom phải là con chưa
thành niên. Đối với con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trách nhiệm
trông nom thuộc về người giám hộ và việc trông nom được thực hiện trong
khuôn khổ nghĩa vụ và quyền giám hộ của cha mẹ. Sự trông nom của cha mẹ đối
với con không chỉ được hiểu như là sự trông giữ vật chất mà trước hết là tập hợp
các biện pháp mà cha mẹ có quyền và có nghĩa vụ thực hiện nhằm đặt con dưới
sự kiểm soát của mình và sự kiểm soát đó cần thiết cho việc nuôi dạy con có

trách nhiệm tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ cho con mình, điều này là
phù hợp với thực tế và đạo lý xã hội. Ngay cả khi cha mẹ bị Tòa án hạn chế
quyền đối với con chưa thành niên, có thể vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và quyền
chăm sóc, nuôi dưỡng con theo quy định tại khoản 3 Điều 43 Luật HN&GĐ
năm 2000: “…Cha, mẹ đã bị Toà án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên
vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con…”. Quy định này nhằm bảo vệ
quyền lợi chính đáng của trẻ em.
- Trong trường hợp con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự,
nếu con chưa có vợ, chồng, con hoặc có nhưng những người này đều không có
đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ có đủ điều kiện phải là người giám
hộ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2005: “Khi một người do bị
bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành
vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra
quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức
giám định ”. Khi đó, mặc dù con đã thành niên nhưng do bị tàn tật (bị khiếm
khuyết về thể chất), mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động
và không có tài sản để tự nuôi mình thì cha mẹ phải là những người cùng chăm
sóc, nuôi dưỡng.
Theo quy định tại Điều 67 BLDS năm 2005 cha mẹ có nghĩa vụ: “Chăm
sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho con; Đại diện cho con trong các giao dịch
dân sự; Quản lý tài sản của con; Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con”. Theo
đó, cha mẹ phải thực hiện nghĩa vụ và quyền của người giám hộ.
- Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi hành hạ
xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên;
không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật và trái với đạo
đức xã hội.
Việc phân biệt đối xử giữa các con (con trai và con gái, con trong giá thú
và con ngoài giá thú, con nuôi và con đẻ) là một trong những tập quán khá phổ
biến ở các nước từng trải qua chế độ phong kiến, nhất là các nước châu Á.
Nhiều trẻ em là nạn nhân của “nạn” phân biệt đối xử trong gia đình đã có những

1999).
+ Hiện nay, dưới sự tác động của nhiều yếu tố tiêu cực trong xã hội,
không ít những bậc cha mẹ với lối sống thực dụng, vụ lợi, vô trách nhiệm đã
quên đi lợi ích tương lai của con mình mà có hành vi lạm dụng sức lao động của
con như: bắt con nhỏ đi ăn xin hoặc bỏ học đi làm thuê kiếm tiền hay xúi giục,
ép buộc con làm những việc phi pháp, trái đạo đức xã hội, nhằm phục vụ cho
mục đích của mình như ép buộc con gái bán dâm, trộm cắp, buôn bán, vận
chuyển ma túy.
Để bảo vệ sự phát triển lành mạnh của trẻ em, Luật HN&GĐ năm 2000
nghiêm cấm cha, mẹ lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không
được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 37 Luật HN&GĐ năm 2000 quy đinh:
“1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện
cho con học tập.
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm
ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà
trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.
2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền
tham gia hoạt động xã hội của con…”
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện học
tập cho con, hướng dẫn con chọn nghề, tôn trọng quyền chọn nghề, tham gia
hoạt động xã hội của con, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của con về trí tuệ, tài
năng và nhân cách.
+ Một trong những quyền cơ bản nhất của trẻ em là quyền được học tập.
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em cũng như trong pháp luật Việt Nam, học tập
không những được quy định là quyền của trẻ em mà còn là bổn phận của cha
mẹ, xã hội. Chính vì vậy, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và
tạo điều kiện cho con được học tập. Việc giáo dục con không thể phó mặc cho
một người (cha hoặc mẹ) mà cả hai người đều có quyền ngang nhau trong giáo
dục con cái. Cha mẹ có quyền và có nghĩa vụ lựa chọn trường nơi con theo học

theo dõi của cha mẹ. Người học nghề ở cơ sở dạy nghề ít nhất phải đủ 13 tuổi,
trừ một số nghề do BLĐTBXH quy định và phải có đủ sức khỏe phù hợp với
yêu cầu của nghề theo học. Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cha mẹ bình đẳng
trong việc hướng dẫn con cái thực hiện quyền chọn nghề. Hơn ai hết cha mẹ là
những người theo dõi sát sao sự lớn lên và trưởng thành của con trẻ, thông qua
tính cách, hành vi của con trẻ, họ sẽ nắm bắt được những điểm mạnh, điểm yếu
cũng như năng khiếu, sở trường của trẻ, từ đó cha mẹ giúp đỡ con cái, đưa ra
những lời chỉ bảo khuyên răn cần thiết trong việc định hướng cho con trẻ phát
huy theo khả năng đó khi lựa chọn ngành nghề cho tương lai. Việc lựa chọn
ngành nghề nào cũng như việc tham gia hoạt động xã hội nào là do trẻ quyết
định, cha mẹ không có quyền dùng ảnh hưởng của mình để ép buộc con phải
chọn ngành nghề và tham gia các hoạt động xã hội không phù hợp với sự phát
triển năng lực của trẻ. Quy định này của Luật HN&GĐ năm 2000 là điểm tiến
bộ so với Luật HN&GĐ năm 1986. Về vấn đề này, Luật HN&GĐ năm 1986 quy
định: “ Con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ có quyền lựa chọn nghề
nghiệp, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”, điều này đồng
nghĩa chỉ con đã thành niên mới có quyền lựa chọn ngành nghề. Trong khi Luật
HN&GĐ năm 2000 quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền hướng dẫn con chọn
nghề, tôn trọng việc lựa chọn ngành nghề của con , quy định này một mặt mở
rộng quyền của trẻ em, một mặt khắc phục được tình trạng cha mẹ lợi dụng
quyền này áp đặt con cái.
Có thể nói Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên thực hiện có
hiệu quả quy định của Công ước về quyền trẻ em trong việc: “bảo đảm cho trẻ
có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng, được quyền tự do phát biểu những
quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có ảnh hưởng đến trẻ em và những quan
điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng
thành của trẻ em” (Điều 12).
Quyền và nghĩa vụ giáo dục, trong chừng mực nào đó, thể hiện dưới hình
thức quyền và nghĩa vụ giám sát. Cha mẹ, theo tục lệ, có quyền cho phép hoặc
không cho phép con chưa thành niên lui tới những nơi nào đó, giao tiếp với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status