Phân tích và hoàn thiện chiến lược sản phẩm của viện vắc xin và sinh phẩm y tế - Pdf 22

-1-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Chuyên ngành: KINH TẾ

PHÂN TÍCH VÀ HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM CỦA
VIỆN VẮC XIN VÀ SINH PHẨM Y TẾ

Người thực hiện: Nguyễn Xuân Nghĩa
MS: 60.31.13
Người hướng dẫn: Nguyễn Đình Phan
Nha Trang 2008
-2-

trường ngày càng cao, Viện đã quan tâm đến yếu tố chất lượng sản phẩm và
xây dựng chiến lược sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thị
trường. Tuy nhiên các sản phẩm của Viện có đặc điểm là: yếu tố tư bản vốn
trong cấu thành sản phẩm thấp, hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản
phẩm đã được chú ý nhưng vẫn không cao, chủ yếu dựa vào yếu tố lao động
hoặc điều kiện tự nhiên, chất lượng sản phẩm chưa thực sự có ưu thế rõ rệt
trên thị trường trong nước và thế giới, năng suất lao động thấp. Tính độc đáo
của sản phẩm chưa cao, trừ số ít sản phẩm mới phát triển sau này các sản
phẩm khác còn lại hầu như luôn đi sau các nước khác về kiểu dáng, tính năng,
thậm chí nhiều sản phẩm còn lạc hậu so với thế giới nhiều thế hệ, giá trị gia
tăng sản phẩm trong tổng giá trị của sản phẩm nói chung còn thấp hơn nhiều
so với mức trung bình của thế giới. Trong giai đoạn hiện nay, Viện đang đứng
trước một sức ép từ các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước thì việc nghiên
cứu và phát triển chiến lược sản phẩm của Viện là rất cần thiết và vô cùng cấp
bách.
Với những vấn đề nêu trên, bằng những kiến thức đã được học nên tôi
chọn đề tài “Phân tích và hoàn thiện chiến lược sản phẩm của Viện Vắc xin
và Sinh phẩm Y tế” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao học.
-4-

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phân
tích chiến lược sản phẩm đối với hoạt động kinh doanh của Viện. Đề tài này
nghiên cứu nhằm mục đích chính sau đây:
(1) - Phân tích và nghiên cứu vài trò của chiến lược sản phẩm trong
VIỆN VẮC XIN VÀ SINH PHẨM Y TẾ và xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến việc xây dựng chiến lược sản phẩm của Viện .
(2) - Phân tích và nghiên cứu thực trạng chiến lược sản phẩm của Viện
trong thời gian qua, từ đó tìm ra những nguyên nhân hạn chế sự phát triển
chiến lược sản phẩm của Viện để đưa ra những giải pháp kịp thời.

- Phương pháp xữ lý số liệu: Các phương pháp xử lý được áp dụng là
phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê đơn giản.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Quản trị chiến lược là một môn khoa học kinh tế còn tương đối mới mẽ
ở nước ta, rất ít doanh nghiệp Việt nam xây dựng chiến lược phát triển một
cách nghiêm túc và khoa học. Đề tài này hy vọng như là một điển hình trong
việc ứng dụng kiến thức về quản trị chiến lược trong xây dựng chiến lược
phát triển của Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế nói riêng và ngành nói chung.
6. Bố cục của luận văn:
Bao gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận về sản phẩm và chiến lược sản phẩm.
Chương II: Thực trạng chiến lược sản phẩm của Viện Vắc xin và Sinh
phẩm Y tế.
Chương III: Một số giải pháp để hoàn thiện chiến lược sản phẩm của
Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế.
-6-

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM VÀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM
1.1. KHÁI NIỆM VỀ SẢN PHẨM VÀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM .
1.1.1. Khái niệm về sản phẩm.
1.1.1.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra để trao đổi trên thị
trường. Mỗi sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất
định của người tiêu dùng.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ và
những tiến bộ kinh tế - xã hội, nhu cầu của con người về các loại sản phẩm
ngày càng lớn về số lượng, đa dạng về chủng loại, mẫu mã và yêu cầu cao
hơn về chất lượng. Ngày nay sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra không chỉ
đáp ứng những yêu cầu về giá trị sử dụng vật chất mà cả yếu tố về tinh thần,

tác giả và là cố vấn huấn luyện bán hàng, nói rằng: “Không bán miếng thịt bò,
mà là bán tiếng xèo xèo”. Một cơ quan du lịch không nên bán một vé đi du
lịch trên biển 2 tuần, mà nên bán sự lãng mạn, sự quyến rủ, sự nghỉ ngơi, một
cơ hội để gặp gỡ người khác, và là cơ hội để học tập.
Như vậy sản phẩm – hàng hóa là tất cả những cái, những yếu tố có thể
thoã mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích
cho họ và khả năng đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự
chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.
Vậy một sản phẩm hàng hoá doang nghiệp sản xuất ra không phải để
trưng bày mà còn nhằm mục đích như làm công cụ để thoã mãn nhu cầu
khách hàng và là phương tiện kinh doanh của doanh nghiệp.
Phần cứng: Hữu hình
* Vật thể bộ phận
* Sản phẩm được lắp ráp
* Nguyên vật liệu SẢN PHẨM
Phần mềm: Vô hình
* Các dịch vụ
* Các khái niệm
* Thông tin

-8-

Khi tạo ra một sản phẩm mới người ta thường xếp các yếu tố đặc tính
và các thông tin theo ba cấp độ: sản phẩm cốt lõi, sản phẩm cụ thể hay hiện
thực và sản phẩm phụ gia hay bổ sung.
1.1.1.2. Các mức độ của sản phẩm.
Với bất cứ một sản phẩm nào cùng đều được cấu thành ở bốn mức độ,

Hình: 1.2. Các nhân tố cấu thành sản phẩm (2, tr. 107)
1.1.1.3. Phân loại sản phẩm.
Muốn xác định chiến lược cho một sản phẩm thì trước hết cần phải hiểu
sản phẩm đó thuộc loại gì, bởi vì một loại sản phẩm khác nhau đòi hỏi có một
chiến lược khác nhau. Tùy theo tiêu thức phân loại khác nhau có các loại sản
phẩm khác nhau như sau:
1.1.1.3.1. Căn cứ vào đặc tính sử dụng.
Hàng tư liệu tiêu dùng là những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu cá nhân
hay gia đình, có thể bao gồm hàng mua thường ngày, hàng mua có đắn đo,
hàng đặc hiệu và hàng không thiết yếu
Hàng tư liệu sản xuất là những mặt hàng phục vụ cho sản xuất và chế
biến của doanh nghiệp, bao gồm nguyên liệu và phụ liệu, các trang thiết bị cơ
bản và các vật tư cung ứng, dịch vụ bảo trì, sửa chữa, tư vấn phục vụ cho việc
kinh doanh.
Trang b


Bảo hành
D
ịch vụ
sau khi
mua
Sản phẩm
tiềm ẩn

bán phải đảm bảo nhiều hơn cho sản phẩm của mình.
Hàng không lâu bền: Hàng không lâu bền là những hàng hóa hữu hình
thường bị tiêu hao sau một hay vài lần sử dụng. Ví dụ như vacxin, dược
phẩm Do những mặt hàng này bị tiêu hao nhanh và phải mua sắm thường
xuyên nên muốn đạt hiệu quả cao, người bán phải đảm bảo một hệ thống tiêu
thụ rộng rãi và tính lãi cho mỗi đơn vị sản phẩm nhỏ.
1.1.1.3.3. Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo của sản phẩm:
Sản phẩm hữu hình là sản phẩm mà người ta có thể thấy, nếm, sờ, nghe
hoặc ngửi được trước khi mua.
Dịch vụ là những hoạt động, ích lợi hay những cách thỏa mãn nhu cầu
khác được đưa ra chào bán. Các dịch vụ thì không thể, không đồng nhất,
không tách bạch ra được giữa sản xuất và tiêu dùng và không thể dự trữ được.
1. 1.1.3.4. Căn cứ theo tính chất phức tạp của sản phẩm:
Hàng giản đơn là những hàng hóa không đa dạng như một số mặt hàng
nông sản phẩm.
Hàng hóa phức tạp là những hàng hóa có nhiều chủng loại, kiểu, cỡ,
màu sắc khác nhau như những mặt hàng công nghệ thực phẩm. (2, tr.108,109)
Ngoài ra khi phân loại sản phẩm, người ta còn căn cứ vào mức độ phát
triển của sản phẩm, đó là sản phẩm mới sản phẩm bình thường. Đứng trên góc
độ doanh nghiệp để xem xét, người ta chia sản phẩm mới thành hai loại: sản
phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt đối. Chiến lược marketing đối với
-11-
sản phẩm mới tuyệt đối này thường phải được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đòi
hỏi những thông tin chi tiết hơn về khách hàng và thị trường.
Sản phẩm mới tương đối:
Sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường, nhưng
không mới đối với doanh nghiệp khác và đối với thị trường. Chúng cho phép
doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm cho những cơ hội kinh doanh mới. Chi
phí để phát triển loại sản phẩm này thường thấp, nhưng khó định vị sản phẩm
trên thị trường vì người tiêu dùng vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh

Theo quan niệm mới, nội dung khái niệm chiến lược có thể bao gồm
5P: Plan (kế hoạch), Ploy (mưu lược), Pattern (mô thức, dạng thức), Position
(vị thế), Perspective (triển vọng) mà doanh nghiệp có được hoặc muốn đạt
được trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Một cách đơn giản hơn, ta có thể hiểu chiến lược là những kế hoạch
được thiết lập hoặc những hành động được thực hiện trong nỗ lực nhằm đạt
tới mục tiêu của tổ chức.
1.1.2.1.2. Khái niệm chiến lược sản phẩm:
Chiến lược sản phẩm là một nghệ thuật kết hợp các nguồn lực của
doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh và cách thức cạnh tranh dài hạn
cho từng sản phẩm trong môi trường biến đổi cạnh tranh.
Chiến lược sản phẩm là sự cố kết gắn bó của sự lựa chọn và của những
biện pháp phải sử dụng để xác định một tập hợp sản phẩm bao gồm các dòng
sản phẩm và các món hàng sao cho phù hợp với từng thị trường và phù hợp
với từng giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống của sản phẩm đó.
Trong khuôn khổ của marketing Mix, những biến số khác của
marketing như giá cả, phân phối, xúc tiến cần phải được xác định phù hợp với
-13-
chiến lược sản phẩm bởi vì sự lựa chọn thực hiện các biến số này phải căn cứ
trực tiếp vào hình ảnh của sản phẩm. Như vậy, chiến lược sản phẩm của một
doanh nghiệp nằm trong cái khung rộng lớn của chiến lược Marketing của
doanh nghiệp đó và trở thành yếu tố hàng đầu để thực hiện các mục tiêu của
Marketing.(2, tr. 116)
Vị trí và vài trò chiến lược sản phẩm trong chiến lược Marketing chung
của công ty, đó là tạo cho sản phẩm có chổ đứng vững chắc trên thị trường
trước đối thủ canh tranh nhờ sự phối hợp điều hoà của hệ thống Marketing-
Mix; Chiến lược sản phẩm giúp hoàn thành mục tiêu của công ty và chiến
lược sản phẩm thể hiện vai trò dẫn đường đồi với các chiến lược chức năng.
Chiến lược sản phẩm đòi hỏi giải quyết ba vấn đề: đó là mục tiêu cần
đạt là gì cho doanh nghiệp? phải xác định đối thủ cạnh tranh của doanh

phẩm giúp hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp là chiến lược sản phẩm thể
hiện đầy đủ hơn vai trò dẫn đường đồi với các chiến lược chức năng.
1.2. NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM.
1.2.1. Chiến lược chủng loại sản phẩm .
1.2.1.1. Chiến lược thiết lập chủng loại .
Tiếp tục bảo đảm giữ gìn vị trí đã chiếm được trên thị trường. Thực
hiện các biện pháp củng cố uy tín, lòng tin của khách hàng thông qua những
sản phẩm có ưu thế về kỹ thuật, bao gói, khách hàng sẽ ít chịu tác động của
thị trường.
1.2.1.2. Chiến lược hạn chế chủng loại.
Dựa vào thông tin phản hồi từ thị trường mà công ty sẽ ra quyết định
hạn chế những sản phẩm không có sức mạnh trên thị trường. Loại trừ những
sản phẩm không có hiệu quả để tập trung vào phát triển các sản phẩm khác.

-15-
1.2.1.3 Chiến lược biến đổi chủng loại.
Dựa trên sản phẩm hiện có công ty sẽ cải tiến, thay đổi, làm khác đi ít
nhiều so với trước để tạo ra được chủng loại mặt hàng mới.
1.2.2. Chiến lược hoàn thiện và nâng cao các đặc tính kỹ thuật của
sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Chiến lược hoàn thiện và nâng cao các đặc tính kỷ thuật của sản phẩm
với nội dung là hoàn thiện về cấu trúc kỹ thuật của sản phẩm, nâng cao thông
số độ bền vận hành, độ an toàn, khả năng chịu đựng dưới môi trường tự
nhiên, thay đổi kiểu dáng, màu sắc sản phẩm, cũng như quan tâm đến hương
vị, màu sắc của sản phẩm và thay đổi các vật liệu chế tạo, có thể thay đổi chất
liệu bao bì.
1.2.3. Chiến lược về bao bì nhãn mác.
1.2.3.1. Chiến lược bao bì.
Chiến lược bao bì sản phẩm là có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược
sản phẩm. Ngày nay bao bì sản phẩm được khách hàng chú trọng nhiều hơn,

này khác đáng kể với những sản phẩm đang tồn tại. Ví dụ, vacxin tái tổ hợp
thay thế những loại vacxin cổ điển. Những nhà sản xuất vacxin nghiên cứu
giới thiệu những loại vacxin thế hệ mới và thường bỏ những vacxin cổ điển
đang tồn tại không còn đáp ứng được những mong đợi về doanh số và lợi
nhuận nữa.
Những sản phẩm bắt chước hay mô phỏng (imitative products) những
sản phẩm này mới đối với một công ty nào đó, nhưng không mới đối với thị
trường, doanh nghiệp chỉ muốn giữ lấy thị phần hiện có của mình khi đưa ra
thị trường những sản phẩm như thế này.
Có lẻ, tiêu chuẩn chủ yếu để xem xét một sản phẩm được xem là mới
hay không là cách mà thị trường mục tiêu nhận định về nó. Nếu người mua
-17-
nhận thức rằng một sản phẩm được đưa ra thị trường, khác đáng kể và tạo sức
hấp dẫn hơn đối với sản phẩm đang tồn tại ở một số đặc điểm, thì lúc đó nó sẽ
là sản phẩm mới. (2, tr. 126, 129)
1.2.4.1. Nội dung của chiến lược sản phẩm mới:
Chiến lược sản phẩm mới với mục đích là làm cho sản phẩm mới phải
thoã mãn những yêu cầu về mốt, thị hiếu người tiêu dùng. Sản phẩm phải
hướng vào những “lỗ hổng” thị trường. Sản phẩm mới phải đáp ứng được
mục đích, mục tiêu của công ty là đem lại lợi nhuận, có khả năng cạnh tranh
cao.
Để có chiến lược sản phẩm mới tốt thì các công đoạn sau phải thực
hiện tốt đó là: Hình thành ý tưởng, lựa chọn ý tưởng, soạn thảo và thẩm định
ý tưởng.?
1.2.4.2. Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới.
Qui trình nghiên cứu sản phẩm mới được thực hiện trên hai cấp độ sau:
1.2.4.2.1 Cấp độ doanh nghiệp:
Bao gồm các bước sau: Xây dựng ý tưởng, chọn lọc ý tưởng, phát triển
các quan niệm về sản phẩm, đánh giá quan niệm về sản phẩm, tiến tới là đánh
giá sản phẩm hoàn chỉnh trên cơ sở đó xây dựng chiến lược Marketing và

từ khi nó xuất hiện trên thị trường cho tới khi nó rút khỏi thị trường. Việc
nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm giúp doanh nghiệp hoạnh định một
chiến lược sản phẩm đứng đắn, đồng thời còn giúp doanh nghiệp trong việc
hệ thống hoá công tác kế hoạnh mặt hàng và nghiên cưú sản phẩm thích hợp
với từng giai đoạn và điều quan trọng hơn cả là để soạn thảo một cách chi tiết
các biện pháp hữu hiệu nhằm khai thác tốt nhất các giai đoạn có triển vọng
của chu kỳ sản phẩm. (2, tr. 122, 125)

-19-
Chu kỳ sống của sản phẩm bao giồm các giai đoạn sau:
a. Giai đoạn triển khai đưa sản phẩm ra bán trên thị trường.
Trong giai đoạn này, khối lượng hàng hoá tiêu thụ một cách chậm
chạp vì sản phẩm vẫn chưa được người tiêu dùng biết đến, họ còn đang
"lưỡng lự" vì chưa biết chúng, chưa có nhiều đối chứng về việc tiêu thụ sản
phẩm đó. Doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí rất lớn để hoàn thiện sản
phẩm và nghiên cứu cái tiến. Việc thử nghiệm thị trường đang được xúc tiến
cùng với những thử nghiệm về chất lượng sản phẩm. Vì vậy lợi nhuận thu
được rất thấp, thậm chí chưa có.
Nhiệm vụ của doanh nghiệp trong giai đoạn này là phải làm cho sản
phẩm có sức hấp dẫn cao, thu hút được sự quan tâm của khách hàng. Biện
pháp chính để thực hiện nhiệm vụ này là tăng cường hoạt động quảng cáo,
tuyên truyền Song song với việc này doanh nghiệp cần đảm bảo khối lượng
sản phẩm dự trữ để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thị trường.
b. Giai đoạn tăng trưởng.
Giai đoạn này có đặc trưng là:
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ nhanh do thị trường đã chấp nhận sản
phẩm mới.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giảm đáng kể và do đó doanh
nghiệp thu được lợi nhuận cao .
Việc mở rộng hay tấn công vào những thị trường mới là tương đối

các kế hoạch, chiến lược khác của doanh nghiệp.
Chiến lược sản phẩm là nền tảng, là xương sống của chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp. Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh trên thị
trường càng quyết liệt thì vai trò của chiến lược sản phẩm càng trở nên quan
trọng. Chỉ khi hình thành được chiến lược sản phẩm thì doanh nghiệp mới có
-21-
phương hướng để đầu tư, nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và kinh doanh . Nếu
chiến lược sản phẩm không đảm bảo một sự tiêu dùng chắc chắn về sản phẩm
thì các hoạt động của doanh nghiêp trở nên rất mạo hiểm và có thể dẫn đến
những thất bại nặng nề.
Chỉ khi thực hiện tốt chiến lược sản phẩm thì chiến lược thị trường của
doanh nghiệp mới bắt đầu phát huy tác dụng. Nếu không có chiến lược sản
phẩm thì chiến lược thị trường mới chỉ dừng lại trên ý định, trên lý thuyết và
hoàn toàn không có tác dụng. Hơn nữa việc xây dựng một chiến lược sản
phẩm sai lầm, tức là đưa ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ không có nhu
cầu hoặc nhu cầu rất nhỏ bé thì dù giá cả có rẽ đến đâu, quảng cáo tiếp thị có
hay đến mấy thì sản phẩm đó cũng không tiêu thụ được. Vì vậy, việc xây
dựng chiến lược đứng đắn có vai trò quan trong đối với sự tồn tại của doanh
nghiệp trên thị trường. Thể hiện qua các mặt sau:
Thứ nhất là đảm bảo cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh
nghiệp được diễn ra liên tục; thứ hai là đảm bảo sự chấp nhận của người tiêu
dùng đối với hàng hóa của doanh nghiệp; tiếp đến là đảm bảo việc phát triển
và mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua việc tăng khối lượng sản phẩm tiêu
thụ và đưa sản phẩm mới vào thị trường; Cuối cùng là đảm bảo sự cạnh tranh
được đối với sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Chiến lược sản phẩm còn đảm bảo sự gắn bó chặt chẽ giữa các khâu
của quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp, nhằm thực hiện các mục
tiêu của chiến lược tổng thể. Như:
Mục tiêu lợi nhuận: chiến lược sản phẩm quyết định số lượng và chủng
loại sản phẩm, chất lượng và tính năng tác dụng của sản phẩm là những yếu

việc tiêu thụ sản phẩm, phải dự báo được những khó khăn, ách tắc có thể xẩy
ra trong quá trình tiêu thụ sản phẩm để có biện pháp giải quyết kịp thời.

-23-
1.3. QUÁ TRÌNH QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC.
Cũng giống như quá trình quản trị chiến lược nói chung, quá trình
quản trị chiến lược sản phẩm gồm bảy bước được mô tả qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quản trị chiến lược
1.3.1. Xác định sứ mệnh của doanh nghiệp.
1.3.1.1. Khái niệm.
Sứ mệnh của doanh nghiệp là một khái niệm dùng để chỉ mục đích
của doanh nghiệp, lý do và ý nghĩa của sự ra đời của nó. Sứ mạng của doanh
nghiệp chính là bản tuyên ngôn của doanh nghiệp đối với xã hội, nó chứng
minh tính hữu ích doanh nghiệp đối với xã hội. Xét về thực chất bản tuyên
ngôn về sứ mệnh của doanh nghiệp tập tung làm sáng tỏ một vấn đề hết sức
quan trọng là: “Công việc sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục
đích gì?”. (3, tr. 132)
1.3.1.2. Nội dung của bản tuyên ngôn sứ mệnh của doanh nghiệp
Bản tuyên ngôn về sứ mệnh của doanh nghiệp được cấu thành từ chín
yếu tố sau:
Khách hàng: Xác định ai là người tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp?
Sản phẩm: sản phẩm chính của doanh nghiệp là gì?
Xác định

nhân viên của mình như thế nào? (3, tr. 133, 134)
1.3.1.3. Tác dụng của việc xác định sứ mệnh của doanh nghiệp.
Xác định sứ mệnh của doanh nghiệp có tác dụng:
Đảm bảo sự đồng tâm và nhất trí về mục đích trong nội bộ của doanh
nghiệp; Tạo cơ sở để huy động và phân phối các nguồn lực của doanh nghiệp;
Hình thành khung cảnh và bầu không khí kinh doanh thuận lợi trong doanh
nghiệp; Tạo điều kiện để chuyển hoá các mục tiêu của doanh nghiệp thành
các chiến lược và các giải pháp cụ thể.
1.3.1.4. Quá trình xác định sứ mệnh.
Quá trình xác định sứ mệnh của doanh nghiệp là quá trình thường
xuyên, liên tục. Bao gồm các bước sau: (sơ đồ 1.2) Bước 1
Hình
thành ý
tưởng
ban đầu
về sứ
mạng
của
doanh
nghi
ệp

Bước 2
Khảo

cho
doanh
nghi
ệp.

Bước 5
Xem
xét
việc
thực
hiện
bản sứ
mệnh
Bước 6
Xem
xét và
điều
chỉnh
bản sứ
mệnh.
-25-
1.3.1.5. Những yêu cầu đối với bản tuyên ngôn sứ mệnh
Phạm vi của sứ mệnh không được quá rộng hay quá hẹp. Nếu quá rộng
sẽ trở nên mơ hồ không tạo mục tiêu và động lực cho doanh nghiệp trong quá
trình phát triển. Nếu quá hẹp nó sẽ trói buộc các hoạt động của doanh nghiệp
và có thể bỏ qua những cơ hội kinh doanh do môi trường mang lại. Do đó,
bản tuyên bố về sứ mệnh phải có giới hạn vừa đủ để loại trừ các rủi ro mạo
hiểm và phải đủ rộng để tạo điều kiện cho tăng trưởng, sáng tạo.
Nội dung của bản tuyên ngôn về sứ mệnh phải tương đối rõ ràng để tất
cả mọi người trong doanh nghiệp đều có thể hiểu và nắm rõ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status