phân tích các rủi ro tác động đến quá trình mua và quá trình bán sản phẩm laptop tại công ty cổ phần huetronics - Pdf 22

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và cạnh tranh ngày càng gay gắt, nền
kinh tế Việt Nam đang từng bước chuyển mình và phát triển một cách toàn diện trên
mọi lĩnh vực cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền
kinh tế, một trong những lĩnh vực đang phát triển nhanh nhất hiện nay là Công nghệ
thông tin. Với tốc độ lan truyền nhanh, sử dụng thuận tiện, là cầu nối trao đổi giữa các
thành phần của xã hội, của mọi vấn đề thì Công nghệ thông tin đang ngày càng phủ
sóng rộng khắp trên mạng lưới toàn cầu. Nắm bắt được xu thế đó, các công ty sản xuất
các sản phẩm công nghệ thông tin ra đời ngày càng nhiều như Tấn Lập, Thế giới di
động, Thăng Bình với đủ chủng loại các sản phẩm và kiểu dáng, đáp ứng nhu cầu đa
dạng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, đây cũng chính là thách thức cho các công ty khi
phải đối phó với các yếu tố cạnh tranh trong thị trường để thu hút khách hàng và chiếm
lĩnh thị trường, đồng thời còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố rủi ro phát sinh trong quá
trình phát triển của công ty. Chính vì đặc thù của nền kinh tế thị trường là luôn vận
động, biến đổi không ngừng nên các rủi ro trong môi trường kinh tế cũng luôn biến
động từng ngày và đòi hỏi một sự biến hoá khéo léo, xử lí linh hoạt trong công tác
quản trị rủi ro của một doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Huetronics cũng không ngoại lệ, được thành lập từ năm 1989,
là đơn vị hoạt động lâu năm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh các sản phẩm điện tử
và công nghệ thông tin tại Việt Nam. Trải qua gần 20 năm hoạt động, công ty luôn
được khách hàng trong cả nước đánh giá cao về sự tận tâm phục vụ cũng như chất
lượng sản phẩm cao với giá cả hợp lý. Với tư cách là nhà phân phối trực tiếp tại miền
Trung các sản phẩm của các tập đoàn CNTT lớn trên thế giới như: Intel, Samsung, HP,
Canon, Bitdefender,…cũng như quan hệ hợp tác lâu năm với rất nhiều nhà sản xuất và
nhà phân phối lớn tại Đài Loan, Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc; Huetronics đem
đến cho khách hàng sự an tâm về nguồn gốc hàng hóa từ chính hãng sản xuất, chất
lượng đảm bảo, và được hưởng các quyền lợi về chương trình bán hàng và dịch vụ của
hãng.
Không thể loại bỏ hết được các rủi ro nhưng công ty hoàn toàn có thể hạn chế
nó bằng chính sự hiểu biết về pháp luật và sự tỉnh táo trong khi thực hiện mỗi giao

khách hàng tại công ty cổ phần Huetronics?
 Những rủi ro đó tác động như thế nào đến quá trình bán và mua laptop của
khách hàng tại công ty cổ phần Huetronics ?
 Rủi ro nào ảnh hưởng lớn nhất/thấp nhất đến quá trình bán và mua laptop của
khách hàng tại công ty cổ phần Huetronics ?
 Những giải pháp nào cần được thực hiện nhằm kiểm soát những rủi ro để thu
hút khách hàng đến mua laptop và tăng doanh thu cho công ty cổ phần Huetronics ?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: bao gồm 2 khách thể:
• Khách hàng mua sản phẩm laptop tại công ty cổ phẩn Huetronics.
• Nhân viên công ty cổ phẩn Huetronics.
- Đối tượng nghiên cứu: Những rủi ro trong quá trình mua và bán laptop tại công
ty cổ phần Huetronics.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn thành phố Huế; Địa
điểm điều tra dữ liệu sơ cấp bao gồm: 243 Trần Hưng Đạo, 267 Trần Hưng Đạo và 13
Lý Thường Kiệt, thành phố Huế (cửa hàng Huetronics tại Huế), 15 Nguyễn Thị Minh
Khai (trung tâm bảo hành của Huetronis tại Huế).
- Về Thời gian: Để đảm bảo tính cập nhật tài liệu thứ cấp được thu thập trong
phạm vi thời gian 05 năm trở lại đây từ 2008 đến 2012. Các dữ liệu sơ cấp được thu
thập trong vòng nữa tháng (từ 10/09/2013 đến ngày 25/09/2013).
4. Dàn ý nội dụng nghiên cứu:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Kết quả nghiên cứu
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm kiểm soát rủi ro cho công ty cổ phần
Huetronics và đảm bảo lợi ích khách hàng.
Phần III: Kết Luận

thành tựu đó lại làm nảy sinh các rủi ro đe dọa đời sống con người khi có sự mất khả
năng kiểm soát, chế ngự nhất thời. Bên cạnh đó, xã hội phát triển cùng với các mối
quan hệ nảy sinh càng ngày càng nhiều, càng phức tạp và không phải lúc nào cũng
diễn một cách thuận lợi. Các mâu thuẫn tất yếu sẽ phát sinh dẫn đến phá vỡ các mối
quan hệ xã hội, trở thành một trong những nguyên nhân của các tổn thất. Ví dụ: chiến
tranh, trộm cắp, đình công
1.1.2.2. Theo nguyên nhân của rủi ro
1.1.2.2.1. Nguyên nhân khách quan
Các nguyên nhân được coi là khách quan nếu nó độc lập với hoạt động của con
người. Có thể là:
- Trường hợp bất khả kháng gắn với tự nhiên, hoặc gắn với đời sống xã hội.
- Các trường hợp ngẫu nhiên: Gắn liền với hoạt động của con người nhưng
nguyên nhân không rõ ràng, không xác định được. Các trường hợp này không ai gây ra
các thiệt hại đã phát sinh, các sự cố xảy ra không có sự tham gia của con người.
1.1.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan
Biến cố xảy ra dưới sự tác động của con người. Có thể là:
- Trường hợp chính bản thân họ tự gây ra tổn thất cho mình. Họ không thể đòi ai
khác bồi thường cho mình.
- Trường hợp do người thứ 3 gây ra. Trong trường hợp này, bản thân họ có thể
yêu cầu người thứ 3 có trách nhiệm phải bồi thường, tuy nhiên, chỉ giới hạn trong khả
năng tài chính của người đó.
1.1.2.3. Theo bản chất của rủi ro
1.1.2.3.1. Rủi ro động
Là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt là trong nền kinh tế. Đó
là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn
thất.
1.1.2.3.2. Rủi ro tĩnh
Là những rủi ro, mà hậu quả của nó chỉ liên quan đến sự xuất hiện tổn thất hay
không, chứ không có khả năng sinh lời, và không chịu sự ảnh hưởng của những thay
đổi trong nền kinh tế. Những rủi ro tĩnh thường liên quan đến các đối tượng: tài sản,

định cho người bán.
1.1.4.2. Khái niệm về rủi ro trong mua hàng
Những rủi ro mà khách hàng gặp khi đi mua hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích
của họ. Những rủi ro này xuất phát từ chính doanh nghiệp và từ sự thiếu hiểu biết của
khách hàng.
Những rủi ro mà khách hàng gặp phải khi mua hàng: Hàng hóa mua về chất
lượng và số lượng không đảm bảo đúng yêu cầu, nhân viên bán hàng nhầm lẫn trong
thanh toán, sản phẩm mua về khó sử dụng,…
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Những nghiên cứu liên quan
Do đây là một đề tài nghiên cứu còn khá mới mẻ nên những công trình nghiên
cứu có cùng tên đề tài không có mà chỉ có những công trình nghiên cứu về những vấn
đề có liên quan đến đề tài như sau:
1.2.1.1. Nghiên cứu khoa học
“Bài học về kiểm soát rủi ro” – Trần Phú Minh- Báo người lao động online–
đăng ngày 17/9/2008.
Tác giả đã đề cập tới sự kiện Ngân hàng Lehman Brothers nộp đơn nên tòa xin
bảo hộ phá sản (15-9) với khoản nợ lên tới 613 tỷ USD. Đây là một bài học lớn cho
các Ngân hàng ở Việt Nam về kiểm soát rủi ro. Tác giả cũng đã nêu lên được những
tồn tại của những ngân hàng tại Việt Nam. Đó là, một số ngân hàng nhỏ đã cho vay
quá mức nên lâm vào tình trạng thiếu thanh khoản, phải nhận sự hỗ trợ của Ngân hàng
Nhà nước. Và đã nêu ra được bài học nhằm kiểm soát rủi ro: Việc cho vay đầu tư vào
các dự án, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản hay chứng khoán, các ngân hàng cần phải
tuân thủ nghiêm khắc những nguyên tắc cơ bản của sự nghiệp tín dụng.
1.2.1.2. Luận văn
1. “Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động mua mặt hàng đá
Granite và đá Marble của Công ty TNHH Đầu tư xây dựng và thương mại An Thái” -
Luận văn tốt nghiệp - Phạm Thị Thanh Hòa - K42A6 - Khoa quản trị doanh nghiệp –
Đại học thương mại Hà Nội-2010.
Tác giả đã nêu rõ tồn tại yếu kém trọng hoạt động mua hàng cũng như nguyên

Trên cơ sở những ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại ở các nghiên cứu
trước. Đề tài “Phân tích rủi ro tác động đến quá trình mua và bán sản phẩm laptop
tại công ty cổ phần Huetronics” sẽ áp dụng công cụ mô phỏng rủi ro simulAr, mô
hình TAM kết hợp với các rủi ro thông qua điều tra định tính chuyên gia và khách
hàng để có được. Từ đó sẽ tiến hành đề xuất mô hình phù hợp. Đề tài tập trung
phân tích 2 vấn đề:
Thứ nhất, phân tích rủi ro tác động đến quá trình bán sản phẩm laptop tại công
ty cổ phần Huetronics.
Thứ hai, phân tích rủi ro tác động đến quá trình mua sản phẩm laptop tại công ty
cổ phần Huetronics.
Thông qua điều tra định tính khách hàng và chuyên gia sẽ thu được các chỉ
tiêu cần thiết nhằm phân tích vấn đề của đề tài với độ tin cậy cao hơn. Mặt khác, đề
tài còn sử dụng kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha để kiểm định mức độ tin cậy
của các thang đo, dùng phương pháp EFA để phân tích và rút trích các nhân tố ảnh
hưởng. Đồng thời đo lường mức độ tác động của từng chỉ tiêu rủi ro tác động lên
quá trình mua laptop của khách hàng và mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu đến ý
định trong tương lai của họ. Qua đó, đề tài sẽ có giá trị thực tiễn hơn. Từ đó giúp
cho những nhà quản lý xem xét, đồng thời hạn chế những rủi ro trong bán hàng
nhằm mang lại lợi nhuận cho công ty.
1.2.2. Những mô hình nghiên cứu liên quan:
Nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về các mô hình liên quan đến đo lường và đánh giá
các rủi ro ảnh hưởng đến quá trình mua, bán sản phẩm/dịch vụ đặc biệt là các mô hình
đánh giá rủi ro của khách hàng trong quá trình mua sản phẩm/dịch vụ như: thuyết nhận
thức rủi ro (theories of perceived – TPR), mô hình chấp nhận sử dụng thương mại điện
tử (E-Commerce Adoption Model – e-CAM), mô hình TAM…
1.2.2.1. Mô hình TAM
Mô hình TAM là một mô hình được giới thiệu lần đầu của Davis (1986). Cùng
với mô hình e-CAM đây cũng là một mô hình liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông
tin. Mô hình này đã được công nhận là công cụ hữu ích trong việc dự đoán thái độ của
người sử dụng. “Mục tiêu của TAM là cung cấp một sự giải thích các yếu tố xác định

gồm hai yếu tố: một là nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ (PRP), hai là
nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến (PRT). Cox and Rich (1964) đề cập
đến nhận thức rủi ro như tổng của nhận thức bất định bởi người tiêu dùng trong một
tình huống mua hàng đặc thù. Cunningham (1967) nhận thức rủi ro từ kết quả thực
hiện tồi, nguy hiểm, rủi ro sức khỏe và chi phí. Roselius (1971) nhận dạng 4 loại mất
mát liên quan đến các loại rủi ro: thời gian, sự may rủi, bản ngã, và tiền bạc. Jacoby và
Kaplan (1972) phân loại nhận thức rủi ro của người tiêu dùng thành 5 loại rủi ro sau:
vật lí, tâm lí học, xã hội, tài chính và kết quả thực hiện (chức năng) được liệt kê trong
bảng 1 dưới đây. Taylor (1974) đề nghị rằng sự bất định và nhận thức rủi ro có thể
sinh ra băn khoăn rằng các ảnh hưởng tiến trình ra quyết định tiêu dùng. Murphy và
Enis (1986) định nghĩa nhận thức rủi ro như sự đánh giá chủ quan của người tiêu dùng
về kết quả tạo ra một sai lầm mua hàng.
Bảng 1.1. Các loại rủi ro
Risk type Defination
Financial Risk Rủi ro mà sản phẩm không đáng giá tài chính
Psychological Risk Rủi ro mà sản phẩm sẽ thấp hơn hình ảnh tự khách hàng hình
dung
Physical Risk Rủi ro về sự an toàn của người mua hay những người khác
trong việc sử dụng sản phẩm
Functional Risk Rủi ro mà sản phẩm sẽ không thực hiện như kì vọng
Social Risk Rủi ro mà một sự lựa chọn sản phẩm có thể mang lại kết quả
bối rối trước bạn bè/gia đình/nhóm làm việc của người ta
Time Risk Rủi ro về tốn thời gian chuẩn bị bản liệt kê mua hàng, di
chuyển, tìm thông tin, mua sắm và chờ đợi giao sản phẩm
Mất chức năng và mất tài chính được các tác giả nhận định như các loại rủi ro
liên quan đến sản phẩm/dịch vụ hạn chế người tiêu dùng thực hiện các giao dịch trực
tuyến. Khi chúng ta không thể thấy hay chạm trực tiếp các sản phẩm/dịch vụ trong thị
trường điện tử (nghĩa là các đặc tính vô hình), người tiêu dùng có thể cảm thấy băn
khoăn hay không chắc chắn khi họ có giao dịch với những người bán hàng trực tuyến.
Ví dụ, sản phẩm/dịch vụ được giao cho người tiêu dùng có thể không thực hiện được

Swaminathan et al, (1999) khẳng định rằng người tiêu dùng đánh giá những
người bán hàng trực tuyến trước khi họ thực hiện giao dịch trực tuyến và do đó các đặc
tính của người bán hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xúc tiến giao dịch.
Rose et al, (1999) nhận dạng các trở ngại kỹ thuật và chi phí liên quan của chúng
và những giới hạn đặc thù đối với TMĐT B2C, bao gồm trì hoãn download, giới hạn
của gia diện, các vấn đề để dò tìm, đo lường thành công ứng dụng Web không thích
hợp, an toàn yếu, và thiếu các tiêu chuẩn Internet. Do đó, họ phát biểu rằng nếu người
ta thực hiện những giao dịch kinh doanh với các thương gia không thành thật hoặc nếu
những thông tin nhạy được lưu trong những cơ sở dữ liệu không an toàn, sự đe dọa an
toàn tồn tại ngay cả khi dữ liệu được bảo vệ hoàn hảo trong giao dịch.
Do đó, các tác giả định nghĩa nhận thức rủi ro trong phạm vi giao dịch trực tuyến
như một rủi ro giao dịch khả dĩ mà người tiêu dùng có thể đối đầu khi bộc lộ những
phương tiện điện tử của việc thực hiện thương mại. Bốn loại PRT được nhận định như
sau: sự bí mật (privacy), sự an toàn - chứng thực(security- authentication), không
khước từ (nonrepudiation), và nhận thức rủi ro toàn bộ về giao dịch trực tuyến (overall
perceived risk on online transaction).
Hình 1.2. Mô hình thuyết nhận thức rủi ro bằng Tiếng Việt
Thành phần nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ (PRP): các
dạng nhận thức rủi ro: mất tính năng, mất tài chính, tốn thời gian, mất cơ hội và nhận
thức rủi ro toàn bộ với sản phẩm/dịch vụ (tổng của nhận thức bất định hoặc băn khoăn
của người tiêu dùng khi mua sản phẩm).
Thành phần nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến (PRT):
các rủi ro có thể xảy ra khi người tiêu dùng thực hiện giao dịch thương mại điện tử
trên các phương tiện – thiết bị điện tử liên quan đến: sự bí mật (privacy), sự an toàn -
chứng thực (security- authentication), không khước từ (nonrepudiation), và nhận thức
rủi ro toàn bộ về giao dịch trực tuyến.
1.2.2.3. Mô hình nghiên cứu e – CAM
Trong lúc Thương mại điện tử trở thành một phát minh quan trọng của sự phát
triển Internet thì đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan sự chấp nhận của người dùng
Internet, mô hình e-CAM là một trong những mô hình được xây dựng nhằm khám phá

quyết định của người tiêu dùng khi khai thác thông tin, tiến hành mua bán trên mạng.
Nếu coi việc mua bán trên internet là mua bán trực tuyến thì các yếu tố được sử dụng
để đánh giá khả năng tham gia của khách hàng vào mua bán trên internet được xem là
các rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến. Như vậy, đối với sản phẩm laptop của
công ty Cổ phần Huetronics là một hình thức mua bán các sản phẩm/dịch vụ nó sẽ
chịu tác động của các yếu tố rủi ro đối với sản phẩm/dịch vụ. Dựa vào thuyết nhận
thức rủi ro và mô hình TAM nhóm đưa ra mô hình đề xuất:
Hình 1.4. Mô hình nghiên cứu
Như vậy từ mô hình ta có thể nhận thấy 4 biến chính tác động đến ý định mua
laptop trong tương lai của khách hàng tại Huetronics, đó là:
1. Nhận thức rủi ro về sự hữu ích: người sử dụng nhận thấy việc sử dụng các sản
phẩm có thể sẽ làm giảm hiệu quả làm việc của họ.
• Khách hàng lo lắng laptop mua về sẽ không đáp ứng nhu cầu sử dụng
• Khách hàng lo rằng laptop mua về sẽ có kích thước lớn và nặng khó khăn
trong việc di chuyển
2. Nhận thức rủi ro về tính dễ sử dụng: người sử dụng cảm thấy khó khăn, không
dễ dàng trong việc sử dụng sản phẩm.
• Không nắm bắt hết các tính năng của sản phẩm
• Nhân viên bán hàng tư vấn không cụ thể và rõ ràng về sản phẩm
• Laptop mua về khó sử dụng
3. Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ:
• Chất lượng (chất lượng của máy không đúng như thực tế công ty giới thiệu,
quảng cáo; máy nhanh bị hư hỏng…)
• Giá cả (cao hơn so với sản phẩm cùng loại của công ty khác)
• Bảo hành (thời gian bảo hành ngắn, chất lượng bảo hành không đảm bảo, nhân
viên bảo hành không trung thực, )
4. Nhận thức rủi ro về tính thuận tiện trong thanh toán:
• Nhân viên thu ngân nhầm lẫn trong quá trình thanh toán
• Lãi suất trả góp laptop cao
• Thủ tục thanh toán phức tạp

1.2.4.2. Nghiên cứu định lượng
1.2.4.2.1. Sử dụng công cụ mô phỏng rủi ro SimilAr
SimilAr là một phần mềm mô phỏng Monnte Carlo được phát triển ở Argentina
thiết kế để phân tích và đánh giá các tình huống kinh doanh và quyết định lấy theo một
bối cảnh rủi ro. Phân tích rủi ro là một kỹ thuật được sử dụng để giúp các nhà hoạch
định quyết định để đánh giá một vấn đề trong điều kiện không chắc chắn. SimulAr là
một chương trình được phát triển như là một bổ sung của Microsoft Excel (Add-in) và
nó được đặc trưng bởi sự đơn giản và tính linh hoạt của họ cho phép người sử dụng để
xử lý trong một môi trường.
SimulAr tập trung trong các phương pháp bằng "Mô phỏng Monte Carlo" để thực
hiện một phân tích rủi ro. Phương pháp này bao gồm giao phân bố xác suất cho các
biến mô hình có liên quan đến rủi ro và sau đó tạo ra các số ngẫu nhiên dựa trên các
phân phối để mô phỏng các hành vi vấn đề mô hình sẽ có trong tương lai. Bằng cách
này, nó có thể để có được hiện thực hơn và các kết quả đáng tin cậy khi ra quyết định.
SimilAr cho phép người dùng không chỉ dự đoán được những rủi ro mang tính cực
đoan, mà còn dự đoán được những rủi ro mang tính lạc quan. Ví dụ, ước tính xác suất
mà một dự án đầu tư có giá trị hiện tại thuần lớn hơn không.
Với những ưu điểm trên mà công cụ SimilAr mang lại cho người dùng, SimulAr
đã được sử dụng khá phổ biến nhằm mục tiêu là để mô phỏng "phân tán" và kỹ thuật
phân tích rủi ro trong học tập và môi trường kinh doanh.
Sau khi tiến hành cài đặt phần mềm “
Monte Carlo Simulation in Excel” ta sẽ
nhận được thanh công cụ Excel cho phép
truy cập phần mềm chạy mô hình mô phỏng
rủi ro.
SimulAr có lợi thế là thân thiện khi phát triển một mô hình mô phỏng. Thông qua
năm bước đơn giản, bạn sẽ có trong điều kiện thu thập thông tin để đưa ra quyết định.
Các bước để thực hiện một mô phỏng là:
1. Xác định các biến đầu vào.
2. Xác định các biến đầu ra.

đỉnh điểm giá trị có khả năng nhất. Không có giá trị dưới mức tối thiểu hoặc cao hơn
tối đa là có thể.
Trong một phân phối bình thường, các thông số trung bình và độ lệch chuẩn.
Đây là đường cong hình chuông truyền thống. Trung bình là giá trị trung bình hoặc có
khả năng nhất. Độ lệch chuẩn là một biện pháp biến đổi xung quanh trung bình. Phân
phối bình thường là đối xứng, điều đó có nghĩa là các giá trị trên trung bình cũng có
khả năng như các giá trị dưới trung bình.
Các thông số của các phân phối này sẽ được thu thập từ các dữ liệu phỏng vấn
định tính đối với chuyên gia và khách hàng.
 Xác định các biến đầu ra
Khi đã xác định tất cả các biến đầu vào của mô hình ta phải xác định đầu ra mô
phỏng biến. Một biến đầu ra mô phỏng là một biến mà bạn muốn nghiên cứu hành vi
của nó. Một biến đầu ra là không thể thiếu để có được thông tin phục vụ như hỗ trợ để
đưa ra quyết định. Giá trị hiện tại ròng (NPV) ở các dự án đầu tư là một ví dụ rõ ràng
về loại biến này.
SimilAr sẽ không cho bạn biết chính xác hoặc giá trị nhất định cho các kết quả
đầu ra. Điều này là không thể bởi vì tương lai không thể được dự đoán một cách chắc
chắn. Tuy nhiên, trong bước Kết quả, SimilAr có thể báo cáo xác suất của các giá trị
khác nhau xảy ra cho mỗi đầu ra, và thông tin đó có thể giúp bạn đưa ra quyết định
nhiều thông tin hơn.
 Thay đổi số lần lặp lại
Sau khi đã chỉ định các biến đầu ra và nhập phân bố xác suất các biến đầu vào
việc chạy mô phỏng gần như đã được sẵn sàng. Tuy nhiên, trước khi làm như vậy,
chúng ta nên thay đổi ít nhất một thiết lập mô phỏng: số lần lặp lại. Số lần lặp lại chỉ ra
có bao nhiêu kịch bản ngẫu nhiên bạn muốn SimilAr tạo ra. Các lần lặp lại mà bạn sử
dụng, chính xác hơn kết quả của bạn sẽ được. Nhược điểm duy nhất là lặp đi lặp lại
nhiều đòi hỏi thời gian tính toán, có thể là một vấn đề với các mô hình phức tạp. Đối
với hầu hết các mô hình, nó đủ để sử dụng 1000 đến 5000 lặp đi lặp lại.
 Chạy mô phỏng
Sau khi đưa vào đầu vào, đầu ra và các biến tương quan, mô hình sẽ được thiết

Xác định kích thước mẫu và phương pháp thu thập số liệu:
 Về kích thước mẫu:
Nhằm đảm bảo tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu, đề tài xác định cỡ mẫu
nghiên cứu thông qua công thức tính kích cỡ mẫu theo trung bình:
Z
2
σ
2
σ
2
: phương sai
n = σ: độ lệch chuẩn
e
2
n: kích cỡ mẫu
e: sai số mẫu cho phép
Với đặc tính của một nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, độ tin cậy mà nghiên cứu
lựa chọn là 95%, thông qua tra bảng: Z=1,96.
Về sai số mẫu cho phép, với độ tin cậy 95% và do dữ liệu sơ cấp được thu thập
bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nên sai số mẫu cho phép sẽ là 0,05.
Về độ lệch chuẩn, sau khi tiến hành điều tra thử với mẫu 30 bảng hỏi nghiên cứu
tiến hành xử lý SPSS để tính ra độ lệch chuẩn. Kết quả thu được giá trị σ = 0,274.
Z
2
σ
2
(1,96)
2
*(0,274)
2

Số mẫu dự kiến tại mỗi địa
điểm bán hàng
243 Trần Hưng Đạo 6 khách hàng 30 11 khách hàng
267 Trần Hưng Đạo 10 khách hàng 50 19 khách hàng
13 Lý Thường Kiệt 20 khách hàng 100 38 khách hàng
15 Nguyễn Thị Minh Khai 25 khách hàng 125 47 khách hàng
Trước tiên, để đảm bảo tính khách quan, cũng như đảm bảo tính đại diện của mẫu
cho tổng thể. Nghiên cứu được tiến hành trên 3 địa điểm bán hàng tại 243 Trần Hưng
Đạo, 267 Trần Hưng Đạo và 13 Lý Thường Kiệt. Thông qua phỏng vấn chuyên gia để
xác định số lượng khách hàng bình quân đến mua hàng tại từng địa điểm mỗi ngày.
Bước 2: Xác định bước nhảy K; thời gian và địa điểm điều tra
- Xác định bước nhảy K:
Với thời gian điều tra dự kiến 5 ngày (24/09/2013 - 28/09/2013) thì tổng số khách
hàng trong thời gian này ở các địa điểm giao dịch sẽ gấp 5 lần khách hàng dự kiến mỗi
ngày. Khi đó:
K= tổng lượng KH 5 ngày/ Số mẫu dự kiến tại mỗi địa điểm bán hàng
= 305/115
= 2,652
Điều tra viên sẽ đứng tại cửa ra vào của trung tâm, sau khi khách hàng mua hàng
xong thì sẽ chọn khách hàng theo số K thứ tự. Tức là, cứ cách 2 khách hàng đi ra điều
tra viên chọn một khách hàng để phỏng vấn (thời gian phỏng vấn sẽ là 10 phút/bảng
hỏi). Nếu trường hợp khách hàng được chọn không đồng ý phỏng vấn hoặc một lý do
khác khiến điều tra viên không thu thập được thông tin từ khách hàng đó, thì điều tra
viên chọn ngay khách hàng tiếp theo sau đó để tiến hành thu thập thông tin dữ liệu.
Trường hợp thứ 2, khách hàng là mẫu đã được điều tra trước đó, điều tra viên sẽ bỏ
qua và chọn tiếp đối tượng khách hàng tiếp theo sau đó để tiến hành phỏng vấn.
Địa điểm điều tra: được sắp xếp theo lịch trình chuẩn bị trước, nhằm đảm bảo
tính khách quan và độ tin cậy đối với dữ liệu thu thập được.
Bước 3: Tiến hành điều tra
Được tiến hành với hai giai đoạn: Giai đoạn điều tra thử và Giai đoạn điều tra

tin, công ty đã nhanh chóng chuyển đổi dần cơ cấu ngành hàng hoạt động của mình để
hội nhập cùng phát triển.
Với tư cách là nhà phân phối trực tiếp tại miền Trung, các sản phẩm của các tập
đoàn CNTT lớn trên thế giới như: Intel, Samsung, HP, Canon,…cũng như quan hệ hợp
tác lâu năm với rất nhiều ngành sản xuất với phân phối lớn tại Đài Loan, Singapo,
Hồng Kông, Trung Quốc, Huetronics đem đến cho khách hàng sự an tâm về nguồn
gốc hàng hóa từ chính hãng sản xuất, chất lượng đảm bảo và được hưởng các quyền
lợi về chương trình bán hàng và dịch vụ của hãng.
Nhằm hỗ trợ việc kiểm soát nguồn hàng và điều phối các đơn hàng nhập khẩu,
Huetronics đã thành lập hệ thống văn phòng tại Trung Quốc. Bên cạnh đó, công ty
cũng đã đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất nguồn laptop và lắp ráp laptop tại Việt
Nam nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong từng sản phẩm, chủ động trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, giảm giá thành sản phẩm, đặc biệt là góp phần tiêu thụ các linh
kiện điện tử được sản xuất trong nước, phối hợp cùng nhau đưa công ty sản xuất linh
kiện tại Việt Nam phát triển.
Ngoài ra, công ty chú trọng đến việc đầu tư mạnh mẽ vào con người, công nghệ,
hệ thống dịch vụ và quản lí nhằm đưa ra các sản phẩm, giải pháp, dịch vụ của mình
đến với mọi khách hàng một cách hiệu quả và phù hợp nhất.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần Huetronics tiền thân của nó là công ty điện tử Huế được thành
lập trên cơ sở liên doanh của một đơn vị kinh tế trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố
Huế và công ty xuất nhập khẩu điện tử Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số
598/QĐ-UB ngày 6/11/1989. Đến ngày 23/2/1993 theo quyết định số 197/QĐ-UB của
UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế, công ty được đăng ký thành lập doanh nghiệp nhà nước,
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 101747 cấp ngày 6/3/1993 của trọng tài kinh
tế Tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 3/11/2004 công ty điện tử Huế được chính thức trở
thành công ty cổ phần Huetronics theo quyết định số 3479 của UBND Tỉnh Thừa
Thiên Huế. Vốn điều lệ của công ty cổ phần là 5 tỷ đồng được chia thành 5.000 cổ
phần, giá trị mỗi cổ phần thống nhất là 100.000 đồng. Trong đó vốn nhà nước tham gia
là 1.500 cổ phần với tổng giá trị là 1,5 tỷ đồng chiếm 30% vốn điều lệ; người lao động

tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất - kinh doanh.
Đi cùng với sản xuất laptop - thiết bị văn phòng và hàng điện tử truyền thống,
công ty thành lập Trung tâm bảo hành thanh niên làm dịch vụ bảo hành, sửa chữa các
sản phẩm cho khách hàng, thu hút sự góp mặt của 16 hãng liên doanh và hãng sản xuất
điện tử nổi tiếng trong và ngoài nước. Bên cạnh đó nhằm phục vụ nhu cầu cho mọi đối
tượng khách hàng, công ty thiết lập hình thức trả góp cho người có thu nhập thấp, góp
phần tăng doanh số bán hàng cho công ty.
Xuất phát từ ý tưởng được hình thành trong quá trình tổ chức gia công, lắp ráp,
sản xuất - kinh doanh laptop, cùng với mục tiêu bắt kịp sự phát triển của thời đại, công
ty nhận thấy thời điểm đầu tư trung tâm sản xuất và phát triển phần mềm tin học đã
thực sự chín muồi. Đầu tư sản xuất phần mềm nhằm mục đích khép kín quy trình
cung ứng sản phẩm công nghệ thông tin cho thị trường là cần thiết. Trung tâm sản xuất
phần mềm của công ty đi vào hoạt động đã thu hút một phần đội ngũ lập trình viên
giỏi trên địa bàn. Trung tâm đã chính thức đưa các sản phẩm phần mềm ra thị trường,
nhận gia công cho các đối tác trong và ngoài nước.
Sự trưởng thành của công ty luôn gắn với quá trình nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra
nhiều sản phẩm và dịch vụ khác nhau nhằm đa dạng hóa các hoạt động sản xuất - kinh
doanh. Mỗi sản phẩm đều ghi nhận tài năng và trí tuệ của tập thể cán bộ công nhân
viên của công ty, có như thế mà ngày nay chất lượng sản phẩm của công ty ngày càng
cao và dần khẳng định được uy tín trên thị trường. Do đó thị trường tiêu thụ ngày càng
được mở rộng ra các tỉnh như: Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Trị.
2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status