Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1:
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN VÀ CÁC BIỆN PHÁP CƠ BẢN
ĐỂ TĂNG LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.1. Lợi nhuận, ý nghĩa và vai trò của lợi nhuận trong doanh nghiệp
1.1.1.1. Lợi nhuận
Theo luật doanh nghiệp 2005 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, doanh nghiệp được định nghĩa là:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực
hiện hoạt động kinh doanh.”
Kinh doanh được định nghĩa là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả
các giai đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp năm 2005, có các loại hình doanh
nghiệp chủ yếu sau:
1. Doanh nghiệp tư nhân.
1. Công ty cổ phần.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn.
3. Công ty hợp danh.
Đứng trên góc độ doanh nghiệp, thì lợi nhuận được xác định là kết quả
tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (hay các
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
1
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
Công ty) là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp
đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp mang
lại.
tư. Do đó, việc huy động thêm vốn để sản xuất kinh doanh sẽ thuận lợi hơn.
Đồng thời lợi nhuận cũng là nguồn tích lũy quan trọng để doanh nghiệp bổ
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
3
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
sung vốn kinh doanh, tạo điều kiện để doanh nghiệp tái sản xuất giản đơn và
tái sản xuất mở rộng. Vì nguồn cho các quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng
tài chính…được lấy từ lợi nhuận. Các quỹ này doanh nghiệp có thể bổ sung
cho vốn lưu động, vốn cố định phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đối với người lao động:
Lao động là một trong ba yếu tố không thể thiếu và giữ vai trò quyết
định của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy để quá trình đó được tiến hành
một cách liên tục và có hiệu quả ngày càng cao thì doanh nghiệp phải quan
tâm đến người lao động một cách thỏa đáng. Ngoài tiền lương thì lợi nhuận là
một trong những nguồn mà doanh nghiệp thể hiện sự quan tâm của mình. Lợi
nhuận sau thuế, sau khi trích lập một số quỹ bắt buộc như quỹ dự phòng tài
chính, quỹ đầu tư phát triển…sẽ được trích lập các quỹ như: quỹ dự phòng trợ
cấp mất việc làm, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng. Thông qua việc tạo lập và
sử dụng các quỹ này, doanh nghiệp có điều kiện nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho người lao động. Từ đó góp phần nâng cao sức lao động cũng
như tinh thần của người lao động và là đòn bẩy để nâng cao hiệu quả làm
việc.
1.1.2. Sự hình thành lợi nhuận trong doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hiện nay, một doanh nghiệp không chỉ kinh doanh
trên lĩnh vực hoạt động chính của mình mà còn tham gia vào nhiều lĩnh vực
khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận và khai thác những tiềm năng từ những lĩnh
vực khác. Do đó, lợi nhuận trong doanh nghiệp cũng được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau. Hiện tại trong doanh nghiệp chia lợi nhuận thành
những lĩnh vực sau:
1.1.2.1. Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh:
lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chi phí bán hàng là những khoản chi phí phát sinh có liên quan đến
hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ trong kỳ.
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
5
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí có liên quan đến
toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp mà không tách riêng cho bất kỳ hoạt
động nào.
Lợi nhuận gộp sau khi bù đắp hai loại chi phí trên gọi là lợi nhuận trước
thuế của hoạt động kinh doanh.
Như vậy, ta có Công thức xác định lợi nhuận hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp là:
Lợi
nhuận
HĐKD
=
Doanh
thu
thuần
-
Giá vốn
hàng
bán
-
Chi phí
bán
hàng
-
Chi phí quản
cho thuê tài sản, thu nhập về các hoạt động kinh doanh khác như kinh doanh
bất động sản, thu lãi tiền gửi…
Chi phí hoạt động tài chính là các chi phí cho các hoạt động đầu tư tài
chính và các chi phí liên quan đến hoạt động về vốn gồm: chi phí về liên
doanh không tính vào trị giá vốn góp, lỗ liên doanh, lỗ do bán chứng khoán
ngắn hạn, chi phí cho đầu tư tài chính, chi phí liên quan đến cho vay vốn, chi
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
6
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
phí trả lãi vay vốn kinh doanh, chi phí liên quan đến mua bán ngoại tệ, lỗ do
bán ngoại tệ, chiết khấu thanh toán,…
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định như sau:
Lợi nhuận hoạt
động tài chính
=
Doanh thu hoạt
động tài chính
-
Chi phí hoạt
động tài chính
-
Thuế gián
thu
1.1.2.3. Lợi nhuận khác
Lợi nhuận khác là số chênh lêch giữa thu nhập khác trừ đi chi phí khác
và thuế phải nộp (nếu có). Trong đó:
Thu nhập khác là những khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính
trước hoặc những khoản thu bất thường không xảy ra một cách đều đặn và
thường xuyên. Những khoản thu nhập bất thường gồm: thu nhập về nhượng
bán, thanh lý tài sản cố định, thu tiền được phạt do vi phạm hợp đồng, thu các
+
Lợi nhuận
khác
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
7
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
Lợi nhuận sau
thuế TNDN
=
Lợi nhuận trước
thuế TNDN
- Thuế TNDN
Đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thuần túy thì lợi
nhuận hoạt động khác không xảy ra thường xuyên và đều đặn nên không phải
là mục tiêu chính của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất
kinh doanh đều phải lựa chọn cho mình một ngành nghề phù hợp với điều
kiện về trình độ kĩ thuật, lực lượng lao động, quy mô vốn… Đó là sản xuất
kinh doanh chủ yếu nhằm sản xuất và tiêu thụ một hoặc một nhóm mặt hàng
nhất định trong đó có những mặt hàng doanh nghiệp có thể phát huy được thế
mạnh của mình. Vì vậy, trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thì lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất quyết định đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ hạch toán. Do vậy, trong bài luận
văn này em xin chỉ đề cập tới lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3. Các chỉ tiêu lợi nhuận.
1.1.3.1. Chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối
Chỉ tiêu lợi nhuận gộp
Chỉ tiêu này được xác định bằng số chênh lệch giữa doanh thu thuần và
giá vốn hàng bán.
Công thức tính:
Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán
Chi phí
quản lý
doanh
nghiệp
+
Lợi
nhuận
khác
Trên lý thuyết, chỉ tiêu này phản ánh tốt nhất hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Vì chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp không phân biệt nguồn vốn đó được lấy từ đâu, đi vay hay của chủ sở
hữu.
Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế (EBT).
Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa lợi nhuận trước lãi vay và thuế
so với chi phí lãi vay. Công thức xác định:
Lợi nhuận trước
thuế (EBT)
=
Lợi nhuận trước lãi
vay và thuế (EBIT)
- Chi phí lãi vay
Xem xét chỉ tiêu này có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp, cũng như đánh giá được lãi vay đóng góp bao nhiêu
phần trăm trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời là căn cứ để xác
định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế (NI).
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế trừ đi số
thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng
mà doanh nghiệp thực nhận được để có thể sử dụng tái sản xuất giản đơn
cũng như mở rộng, đồng thời cũng là căn cứ xác định thu nhập chủ sở hữu
lý, cơ hội kinh doanh… có những nhân tố tác động cùng chiều đến lợi nhuận
như giá bán sản phẩm, số lượng sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm…
nhưng có những nhân tố tác động ngược chiều đến lợi nhuận như giá thành
tiêu thụ sản phẩm, tác động cạnh tranh, chi phí bất thường xảy ra…làm cho
lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng rất khác nhau.
• Do điều kiện sản xuất kinh doanh, thị trường tiêu thụ, thời điểm
tiêu thụ, điều kiện phương tiện vận chuyển khác nhau làm cho lợi nhuận của
các doanh nghiệp không giống nhau. Nếu các doanh nghiệp có qui mô sản
xuất, khả năng tổ chức quản lý là như nhâu thì doanh nghiệp có thị trường
tiêu thụ rộng lớn, điều kiện sản xuất gặp nhiều thuận lợi trong việc thu mua
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
10
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
nguyên vật liệu, kho bãi gần trục giao thông thì sẽ có khả năng thu được nhiều
lợi nhuận hơn các doanh nghiệp không có các điều kiện ưu đãi đó.
Như vậy, sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối chỉ giúp nhà quản lý xác
định kết quả kinh doanh mà chưa xác định được hiệu quả kinh doanh, chưa
xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố (doanh thu, vốn sản xuất,
chi phí sản xuất…) đến kết quả kinh doanh. Để khắc phục những hạn chế trên
của việc sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, giúp nhà quản lý đánh giá chính
xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, người ta sử dụng
thêm các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối (hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận).
Có rất nhiều chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận, mỗi chỉ tiêu có một nội dung
kinh tế khác nhau. Nhưng chúng đều có mục đích là đưa các doanh nghiệp có
điều kiện sản xuất khác nhau về cùng một mặt bằng để so sánh (một đồng vốn
sản xuất kinh doanh, một đồng chi phí, một đồng doanh thu). Sau đây là một
số chỉ tiêu thường dùng:
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên vốn sản xuất
kinh doanh (ROA
e
bq
) trong kỳ được tính bằng bình quân số
học giữa vốn cố định đầu kỳ và vốn cố định cuối kỳ. Trong đó, vốn cố định
đầu kỳ (hoặc cuối kỳ) được tính bằng nguyên giá tài sản cố định trừ đi khấu
hao lũy kế tính đến thời điểm xác định.
Công thức xác định vốn cố định bình quân:
VCĐ
bq
=
V
cđ
đầu kì + V
cđ
cuối kì
2
Vốn lưu động bình quân (VLĐ
bq
) trong kỳ được tính theo phương pháp
bình quân số học vốn lưu động trong từng quý hoặc từng tháng.
Công thức được xác định vốn lưu động bình quân như sau:
VLĐ
bq
=
VLĐ
quí 1
+ VLĐ
quí 2
+ VLĐ
quí 3
+ VLĐ
này cao so với tiêu chuẩn của ngành chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh có
hiệu quả. Công thức trên cũng cho thấy để tăng được lợi nhuận doanh thu một
mặt phải tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, mặt khác phải đảm bảo chất
lượng sản phẩm tiêu thụ, hạ giá thành sản phẩm, từ đó tăng được lợi nhuận
tuyệt đối. Nếu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận nhanh hơn tốc độ tăng doanh
thu thì tỷ suất lợi nhuận doanh thu sẽ tăng lên.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA)
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và vốn kinh doanh bình quân
sử dụng trong kì.
Công thức tính như sau:’
ROA =
NI
VKD
bq
Trong đó:
ROA : Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh.
EBT : Lợi nhuận trước thuế trong kỳ.
VKD
bq
: Vốn kinh doanh (tài sản) bình quân sử dụng trong
kỳ. (được tính tương tự như trên)
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng
sinh lời ra bao nhiều đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay và nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
13
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu bình quân
trong kỳ.
14
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
tiêu thụ sản phẩm là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lợi nhuận của
doanh nghiệp. Bộ phận lợi nhuận này phản ánh kết quả của cả một quá trình
sản xuất từ khâu nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch sản xuất, thu mua vât
liệu, tiến hành sản xuất đến khâu tiêu thụ hàng hóa và thu tiền. Do đó nó chịu
ảnh hưởng của hầu hết các nhân tố trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm. Vì vậy, khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận, ta đi sâu
vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm.
1.2.1.1. Khối lượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ.
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tiêu
thụ sản phẩm và cũng ảnh hưởng tới lợi nhuận tiêu thụ. Vì:
Tổng lợi nhuận tiêu thụ =
1
*
n
Si Pi
∑
Trong đó:
S
i
: Khối lượng tiêu thụ sản phẩm i
P
i
: Lợi nhuận đơn vị sản phẩm i
n : số loại sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.
Nếu lợi nhuận đơn vị sản phẩm là số dương mà các nhân tố khác không
biến động thì khối lượng sản phẩm tăng lên bao nhiêu lần làm cho lợi nhuận
tăng bấy nhiêu lần. Nếu doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có giá bán thấp
hơn giá thành làm cho lợi nhuận là số âm thì việc bán càng nhiều sản phẩm
1.2.1.4. Kết cấu sản phẩm tiêu thụ
Trong điều kiện kinh tế thị trường, để kinh doanh tránh được rủi ro thì
doanh nghiệp phải đầu tư, sản xuất nhiều mặt hàng cùng một lúc để mặt hàng
này có thể hỗ trợ mặt hàng kia trong điều kiện khó khăn về thị trường tiêu thụ.
Mỗi loại sản phẩm có lợi nhuận đơn vị cao, giảm mặt hàng có lợi nhuận đơn
vị thấp sẽ làm cho tổng lợi nhuận tăng lên mặc dù khối lượng sản phẩm tiêu
thụ không đổi.
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
16
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
Việc thay đổi kết cấu mặt hàng tiêu thụ thường do biến động của nhu
cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng. Điều này khẳng định mỗi doanh
nghiệp cần phải bám sát thị trường để định hướng cho mình một kết cấu sản
phẩm hợp lý. Đồng thời doanh nghiệp cũng phải tìm tòi nghiên cứu ra sản
phẩm mới ưu việt hơn, thay thế những sản phẩm đã lỗi thời lạc hậu, có như
vậy mới có thể duy trì và nâng cao chất lượng của sản phẩm tiêu thụ.
1.2.1.5. Giá thành sản phẩm tiêu thụ
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh
nghiệp để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định.
Ta có:
Lợi nhuận đơn
vị sản phẩm
= giá bán đơn vị - Giá thành đơn vị
Tổng lợi nhuận = lợi nhuận đơn vị * khối lượng tiêu thụ
Trong cơ chế thị trường, việc tăng giá bán đơn vị sản phẩm là rất khó
khăn. Qua Công thức trên ta thấy, nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
không đổi thì việc hạ giá thành sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng
lên. Khi giá thành đơn vị của doanh nghiệp hạ hơn so với các đơn vị khác
trong khi giá bán trên thị trường tương đương nhau thì tỷ suất lợi nhuận của
doanh nghiệp sẽ cao hơn các doanh nghiệp khác. Nếu như Công tác hạ giá
thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán bằng sec, chuyển khoản…đến việc đôn
đốc thu hồi Công nợ sẽ góp phần tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tăng tốc
độ luân chuyển vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến lợi nhuận trong quá
trình kinh doanh. Doanh nghiệp cần nghiên cứu đầy đủ các nhân tố này và
nắm được mức độ ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của chúng. Từ đó, doanh
nghiệp chủ động đề ra các biện pháp tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
tăng doanh thu và tăng lợi nhuận.
1.2.2. Một số biện pháp chủ yếu để tăng lợi nhuận trong các doanh
nghiệp hiện nay
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
18
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
1.2.2.1. Tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm:
Sản xuất và tiêu thụ là hai quá trình không thể tách rời nhau, vì vậy sản
xuất ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt và đẩy mạnh Công tác tiêu thụ sẽ
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chúng ta đã biết, Công thức xác định lợi
nhuận tiêu thụ là:
Lợi nhuận
tiêu thụ
trong kỳ
=
Doanh thu
bán hàng
trong kỳ
-
Giá thành
tiêu thụ hàng
hóa trong kỳ
-
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
19
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
theo chiều rộng nhự mua sắm thêm máy móc, tuyển thêm lao động và đầu tư
theo chiều sâu như hiện đại hóa, cải tiến máy móc, áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân để tăng số lượng
sản phẩm sản xuất.
Tuy nhiên, việc tăng số lượng sản phẩm sản xuất cũng dừng lại ở mức
độ giới hạn của doanh nghiệp về quy mô sản xuất, trình độ tổ chức quản lý và
nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp phải có chính sách mở rộng sản xuất, tăng
số lượng sản phẩm phù hợp với điều kiện kinh doanh của mình về vốn, nhân
lực, trình độ công nghệ cũng như phải phù hợp với nhu cầu tiêu thụ sản phâm
trên thị trường.
Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm tạo uy tín đối với
khách hàng:
Với số lượng sản phẩm không đổi, nếu doanh nghiệp sản xuất hàng hóa
với chất lượng cao thì sẽ được thị trường chấp nhận với khối lượng lớn và giá
cả cao hơn sản phẩm cùng loại. Nhờ đó mà doanh thu được tăng lên. Muốn
vậy, doanh nghiệp phải đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, tổ chức công tác thu
mua, bảo quản nguyên liệu theo đúng yêu cầu, áp dụng các thành tựu khoa
học.
Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm:
Kinh tế thị trường tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp.
Để tạo lợi thế trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải nghiên cứu tìm hiểu thị
hiếu của khách hàng. Trong mỗi thời kỳ, khả năng tiêu thụ và thị hiếu của
khách hàng không giống nhau. Hơn nữa, khách hàng cũng có thể phân loại
theo địa phương, theo khả năng tiêu thụ… Do đó, để tăng thị phần, tăng khối
lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu, sản
xuất những sản phẩm mới có tính năng sử dụng, mẫu mã ưu việt hơn cũng
như đa dạng hơn trong việc sản xuất các loại sản phẩm phù hợp với khả năng
lý đó doan nghiệp nhanh chóng, kịp thời tiếp thu ý kiến của khách hàng để rút
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
21
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
kinh nghiệp cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để đáp ứng thị hiếu người
tiêu dùng.
1.2.2.2. Hạ thấp giá thành sản phẩm
Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản và lâu dài đối với mọi
doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, giá bán
sản phẩm của doanh nghiệp được hình thành trên thị trường bởi quan hệ cung
cầu và chất lượng sản phẩm. Nếu giá thành sản phẩm càng thấp so với giá bán
thì doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm càng cao
làm tổng lợi nhuận tăng lên. Mặt khác, khi giá thành sản phẩm thấp, doanh
nghiệp có thể hạ giá bán để có thể cạnh tranh. Hạ thấp giá thành còn giúp
doanh nghiệp giảm bớt lượng vốn lưu động vào sản xuất vì cùng với điều kiện
sản xuất như cũ, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một lượng vốn nguyên vật
liệu, nhân công. Từ đó, doanh nghiệp có thể mở rộng qui mô sản xuất với số
vốn tiết kiệm đó. Với ý nghĩa đó các doanh nghiệp cần thực hiện các biện
pháp phấn đấu hạ thấp giá thành. Cụ thể là:
Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, áp dụng thành tựu khoa học kỹ
thuật và vào sản xuất:
Trong điều kiện hiện nay, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật vừa là nguy cơ
cũng là cơ hội đối với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để có thể chiến
thắng trong điều kiện cạnh tranh, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp nhất
thiết phải đầu tư mua sắm máy móc thiết bị hiện đại, áp dụng tiến bọ khoa học
kỹ thuật. Nhờ đó doanh nghiệp có thể giảm chi phí nguyên vật liệu, chi phí
nhân công nhằm nâng cao năng suất lao động, làm cho giá thành sản phẩm hạ
thấp.
Tổ chức sử dụng lao động một cách hợp lý:
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
23
Luận văn cuối khóa Học Viện Tài Chính
Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể chia thành hai bộ
phận là: vốn cố định và vốn lưu động. Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh, tăng lợi nhuận cũng như tăng doanh lợi từng loại vốn, doanh nghiệp
cần thực hiện các biện pháp sau:
a. Nâng cao hiệu quả sự dụng vốn lưu động:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động, các doanh
nghiệp còn cần có các đối tượng lao động (như nguyên vật liệu, bán thành
phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái
vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị
sản phẩm. Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật
được gọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu
động của doanh nghiệp. Vì vậy, cũng có thể nói vốn lưu động là số vốn tiền tệ
ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Sử dụng có hiệu quả vốn lưu động tức là tăng số vòng quay (số lần lưu
chuyển) trong kỳ, rút ngắn số ngày luân chuyển của một vòng quay. Muốn
vậy, doanh nghiệp phải tiến hành các biện pháp:
Giảm đến mức thấp nhất vốn lưu động để có được doanh thu với
mức luân chuyển như cũ. Do đó có thể rút ra khỏi luân chuyển một lượng vốn
lưu động không cần thiết để sử dụng, mở rộng sản xuất.
Với số vốn lưu động không đổi, phấn đấu tăng doanh thu làm
mức luân chuyển tăng lên. Doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp tăng
doanh thu như hạ giá thành, đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm để hạn chế
đến mức thấp nhất vốn nằm trong khâu dự trữ và khâu lưu thông, do số vốn
này không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, doanh nghiệp
phải cân đối số vốn này ở các khâu một cách hợp lý, phù hợp với kế hoạch
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhằm tránh tình trạng ngừng sản xuất do thiếu
vật tư hoặc nhiều vốn nhàn rỗi không sử dụng hết làm giá thành sản phẩm
doanh để hạn chế tổn thất vốn cố định do các nguyên nhân khách quan như
Nguyễn Quang Vinh CQ 45/11.02
25