SKKN đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3 - Pdf 22

Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
I/ PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Đặt vấn đề:
Trong công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra trên toàn cầu. Đòi hỏi
ngành giáo dục phải đào tạo con người đủ tài, đủ đức. Góp phần xây dựng đất nước
ngày càng phồn vinh sánh vai với các cường quốc tiên tiến trên thế giới. Để thực
hiện tốt vấn đề này nhà trường phải đổi mới phương pháp dạy học một cách hợp lý
và phù hợp từng đối tượng học sinh. Đây là việc làm tất yếu và thường xuyên trong
trường Tiểu học. Do vậy, các tiết học trên lớp của giáo viên và học sinh hiện nay
phải đổi mới phương pháp dạy học. Đó là một yêu cầu cần thiết và cấp bách của nền
giáo dục nước nhà. Vì thế, giáo viên phải chuyển sang phương pháp dạy học tích
cực lấy học sinh làm trung tâm. Các hoạt động dạy học luôn được đổi mới để phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường cũng như trình độ nhận thức của từng
học sinh. Vì hiện nay cả giáo viên và học sinh đều là những nhân tố tích cực trong
quá trình dạy học góp phần xây dựng đất nước trong thời gian tới.
Như chúng ta đã biết, đặc điểm của phương pháp dạy học truyền thống là có
sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học của học
sinh. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự phát triển
năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang làm cho việc
rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn và
nhanh chóng hơn. Khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển
kinh tế xã hội. Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học – công nghệ, phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu
trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ
hiện nay và tương lai mai sau.
Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học là tạo nên những thay đổi sâu sắc
trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách học sinh
đến cách thức tổ chức quá trình dạy học. Nhà trường từ chỗ khép kính chuyển sang
mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học
công nghệ và ứng dụng. Nhà giáo thay vì truyền đạt tri thức chuyển sang cung cấp
cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân

cho các giờ lên lớp của môn Toán đạt kết quả khả quan. Đồng thời giúp học sinh lớp
tôi cũng như tất cả học sinh Tiểu học tự tin hơn, vững vàng hơn khi học môn Toán
và tạo tiền đề cho học sinh học tốt môn Toán ở những mạch kiến thức kế tiếp của
lớp 3, 4, 5 sau này.
Qua đề tài này sẽ giúp tôi tự tin hơn khi bước trên bục giảng đồng thời có thêm
kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân,
chia trong bảng ở lớp 3. Cũng như góp phần nhỏ bé của mình nâng cáo chất lượng
giáo dục của Trường Tiểu học Bình Trinh Đông ngày càng đi lên và bước lên chuẩn
quốc gia mức độ 2 năm 2012 cũng từ đó nâng dần chất lượng giáo dục của ngành
trong thời gian tới.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
a. Tìm hiểu những vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học môn
Toán ở Tiểu học.
Một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học Tiểu học hiện nay
là vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh.
Thực chất là không loại bỏ đi những phương pháp dạy học truyền thống để thay vào
một phương pháp dạy học mới mà là việc lựa chọn sử dụng, kết hợp các phương
pháp dạy học khác nhau trong giờ lên lớp để khắc phục nhược điểm của phương
pháp này và phát huy ưu điểm của phương pháp kia và ngược lại.
Bởi vì mỗi phương pháp dạy học có ưu điểm và nhược điểm riêng của nó,
không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Tuỳ theo đối tượng học sinh, nội
dung bài dạy mà giáo viên có thể lựa chọn, sử dụng, kết hợp các phương pháp dạy
học nhằm phát huy hiệu quả của giờ học.
Năm 2010 – 2011 tôi được phân công dạy lớp 3. Trong suốt một năm trực tiếp
giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số các em đều có ý thức học tập. Bên cạnh đó, vẫn
còn không ít học sinh tiếp thu bài rất chậm về thực hành nhân, chia trong bảng cũng
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
2
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
như các dạng bài tập trong chương trình Toán lớp 3. Vì thế, trong năm học 2011 –

nối các bảng nhân, chia còn lại và áp dụng giải bài tập một cách hiệu quả nhất. Vì
thế, tôi suy nghĩ rằng giáo viên trước khi đến lớp phải thiết kế bài giảng một cách
chu đáo sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Nhằm giúp học sinh lớp tôi
phụ trách đạt được một số yêu cầu sau:
- Học tốt môn toán và các môn học khác.
- Khích thích sự ham học hỏi, thích đến trường của học sinh.
- Tránh tình trạng lưu ban, bỏ học.
- Tạo mối quan hệ gần gũi giữa giáo viên và học sinh.
- Giúp học sinh có thái độ học tập đúng đắn.
- Giúp cho lớp học sôi nổi, phát huy óc sáng tạo, tính tích cực học tập của học
sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
3
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
- Đồng thời giúp học sinh lớp 3 vững tin tiếp bước đi lên lớp 4, 5 sau này.
3. Lịch sử đề tài:
Đối với đặc điểm riêng của học sinh lớp 3/
1
năm học 2011 – 2012 mà tôi đang
trực tiếp giảng dạy. Nên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này đi sâu tìm hiểu thống kê
thực trạng để tìm nguyên nhân và thể nghiệm những giải pháp cụ thể nhằm giúp học
sinh lớp tôi tự tin hơn khi học môn Toán nói chung và kĩ năng thực hành nhân, chia
trong bảng ở lớp 3 nói riêng.
4. Phạm vi đề tài:
Dựa vào trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh lớp 3/
1
, là giáo viên
phụ trách lớp, tôi rất băn khoăn và lo lắng. Tôi luôn suy nghĩ mình phải làm gì? Để
tất cả học sinh lớp tôi học môn Toán một cách tự tin hơn. Vì thế ngay từ tuần 1 của
năm học tôi miệt mài nghiên cứu viết đề tài này để áp dụng cho học sinh của tôi và

chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong
giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng, bởi lẽ
phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao. Phương pháp
có phù hợp thì mới phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh. Bởi vì
muốn đổi mới giáo dục trước hết phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng sự
đổi mới trong giai đoạn hiện nay và mai sau.
b. Đổi mới nhân thức của các cấp lãnh đạo chính quyền và quản lí ngành
giáo dục.
Nhìn lại năm học vừa qua, với chủ đề: “ Tiếp tục đổi mới quản lí và nâng cao
chất lượng giáo dục”. Ngành giáo dục đã quán triệt và tổ chức thực hiện toàn diện
các nhiệm vụ và chủ đề trọng tâm năm học, đề ra chủ trương sát, đúng, giải pháp
tích cực và thực hiện với tinh thần quyết liệt, cụ thể, có hiệu quả, ổn định và phát
triển cả về quy mô, chất lượng các điều kiện dạy học.
Quản lí ngành giáo dục triển khai có hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin
trong đổi mới phương pháp dạy và học ở từng trường. Toàn ngành tổ chức thực hiện
tốt ba cuộc vận động và phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”. Nhờ đó đã tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và hành động
thực tiễn của cấp quản lí giáo dục. Môi trường giáo dục thân thiện xanh – sạch – đẹp
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
5
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
có ảnh hưởng không nhỏ đến phương pháp dạy học. Việc dạy và học theo phương
pháp đổi mới thực chất đã đi vào nề nếp, học sinh tự giác và chăm học hơn. Các cấp
quản lí giáo dục đã có sự chủ động trong công tác tham mưu, tạo sự đồng thuận
trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục. cấp uỷ Đảng, chính
quyền địa phương quan tâm, chăm lo, chỉ đạo sâu sát hơn. Các ban ngành đoàn thể
phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục và đào tạo. Các lực lượng xã hội cũng chăm lo
đến việc học của con em mình.
Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp về đổi mới phương pháp dạy học ở
trường mình. Hiệu trưởng cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải

loại hình tư duy biện chứng logic, hình tượng tư duy, kĩ thuật tư duy . . .
Học sinh ngày nay rất nhại bén, các em tiếp thu kiến thức rất nhanh và sẵn
sàng thực hiện, tìm tòi cách giải các bài tập khó. Các em nhận thấy sự mới mẻ trong
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
6
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
phương pháp làm việc, học và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động học tập dưới sự
hướng dẫn của giáo viên.
Vì thế trong năm học 2011– 2012 trường Tiểu học Bình Trinh Đông đạt 14/49
học sinh giỏi toán Olympic trên mạng Internets cấp huyên. Trong đó lớp 3/
1
tôi phụ
trách đạt 4/6 học sinh. Đó cũng là sự cố gắng, tìm tòi cách giải hay đối với những
bài toán khó của thầy trò chúng tôi.
d. Đổi mới nhân thức của các bậc phụ huynh và dư luận xã hội.
Trường Tiểu học Bình Trinh Đông là trường thuộc xã thuần nông của huyện
Tân Trụ. Hầu hết đại bộ phận cha mẹ học sinh đều làm nghề nông. Những năm
trước đây nhận thức của phụ huynh học sinh chưa sâu sắc về vấn đề học tập của con
em mình. Quanh năm suốt tháng họ chỉ lo quần quật với ruộng đồng. Mọi việc dạy
chữ cũng như dạy người hầu như đều phó thác cho thầy cô giáo. Gần đây qua các
cuộc họp cha mẹ học sinh cũng như tiếp xúc với các dư luận xã hội. Suy nghĩ của họ
tiến bộ hơn, họ cho rằng: “ Học để có cái chữ, để có việc làm, có gia đình hạnh
phúc”.Cho nên họ luôn quan tâm đến việc học của con em mình. Họ luôn trao đổi
với giáo viên chủ nhiệm để tìm phương pháp dạy đúng nhất, dễ hiểu nhất cho con
em mình ở nhà. Ngoài ra phụ huynh còn tìm mua sách tham khảo để hướng dẫn học
sinh tự học ở nhà.
Ngoài xã hội, các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm, các công ty, doanh
nghiệp , . . . cũng rất quan tâm đến việc học của học sinh. Vào đầu năm học, họ đã
đóng góp tập vở, quần áo, xe đạp, tiền, . . . cho học sinh nghèo để kịp cho ngày khai
giảng năm học mới. Hơn thế nữa, họ còn đóng góp không nhỏ để xây dựng trường

lựa chọn danh mục thiết bị và chuẩn bị các thiết bị dạy học theo một số yêu cầu để
có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học. Những yêu cầu này rất cần được các cán
bộ chỉ đạo quản lý quán triệt và triển khai trong phạm vi mình phụ trách cụ thể như
sau:
- Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống thực tế và đạt chất lượng cao, tạo điều kiện
đẩy mạnh hoạt động của học sinh trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông
qua hoạt động thực hành, thâm nhập thực tế trong quá trình học tập.
- Đảm bảo để nhà trường có thể đạt được thiết bị dạy học ở mức tối thiểu, đó
là những thiết bị cần thiết không thể thiếu được trong từng hoạt động học tập. Góp
phần đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh hiểu kiến thức mới và áp dụng
làm bài tập linh hoạt hơn.
- Chú trọng thiết bị thực hành giúp học sinh tự giải các bài tập thực hành.
Những thiết bị đồ dùng học tập đơn giản có thể được giáo viên, học sinh tự làm góp
phần làm phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường. Công việc này rất cần
được quan tâm và chỉ đạo của lãnh đạo trường, phòng, sở. Hàng năm, việc tổ chức
hội thi sáng tạo đồ dùng dạy học đã lôi cuốn không ít giáo viên tham gia. Điều đó
góp phần không nhỏ trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở từng tiết học cụ thể
nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh.
g. Đổi mới hình thức tổ chức dạy học môn Toán nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh trong học tập.
Theo lối dạy học truyền thống trước đây hầu như giáo viên là người truyền
đạt kiến thức “ Thầy giảng – Trò nghe”. Sau đó ghi nhớ để áp dụng giải bài tập.
Ngày nay song song với việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải đổi mới
hình thức tổ chức dạy học. Nhằm phát huy tính sáng tạo, tích cực hoạt động của học
sinh trong học tập. Tôi thiết nghĩ để tiết dạy toán đạt kết quả cao giáo viên cần suy
nghĩ tìm tòi các hình thức tổ chức dạy học đa dạng và phong phú lôi cuốn học sinh
tham gia vào hoạt động học tập.
h. Đổi mới công tác kiểm tra và đánh giá việc dạy của giáo viên và kết quả
học tập của học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới

a
1
. Hình thức dạy học theo nhóm.
a
2
. Hình thức tổ chức phiếu học tập toán học.
a
3
. Hình thức tổ chức trò chơi toán học.
a
4
. Hình thức tổ chức dạy học kết hợp với các phương tiện thiết bị dạy học.
a
5
. Hình thức tổ chức đố vui học toán.
a
6
. Hình thức tổ chức truyện kể toán học.
b. Một số thông tin về đổi mới phương pháp dạy học ở địa phương trong
nước, trong khu vực và trên thế giới.
c. Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học số tự nhiên ở lớp 3 trong trường Tiểu
học hiện nay.
 Việc dạy của giáo viên:
1. Phương pháp trực quan.
2. Phương pháp trò chơi toán học.
3. Phương pháp dạy học theo nhóm.
4. Phương pháp sử dụng phiếu học toán.
5. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề.
6. Phương pháp sử dụng câu đố vui toán học.
7. Phương pháp rút về đơn vị.

+ Chia nhóm ngẫu nhiên.
+ Chia nhóm cùng trình độ.
+ Chia nhóm theo sở thích.
+ Chia nhóm theo bàn.
+ Chia nhóm theo màu sắc.
+ Chia nhóm theo loài hoa( con vật) em thích.
a
2
. Hình thức tổ chức phiếu học tập toán học.
Phiếu học tập có thể là một phần của vở bài tập, làm riêng cho một tiết học
hoặc một phần của tiết học. Coi như là một phương tiện tổ chức hoạt động dạy học.
Có nhiều loại phiếu học tập như: Phiếu kiểm tra, phiếu học, phiếu thực
hành…
a
3
. Hình thức tổ chức trò chơi toán học.
Trò chơi toán học là trò chơi chứa một yếu tố toán học nào đó. Trò chơi có thể
phân loại theo số người tham gia. Trò chơi tập thể, trò chơi cá nhân. Trò chơi có thể
là trò chơi vận động, có thể là trò chơi trí tuệ, cũng có thể kết hợp vận động với trí
tuệ.
Trò chơi toán học có thể tổ chức như một hoạt động dạy học toán. Cơ sở tâm
lý và sinh lý khẳng định hoạt động dạy học toán dưới dạng trò chơi là rất phù hợp
với lứa tuổi học sinh Tiểu học. Thực tế cho thấy hình thức tổ chức trò chơi toán học
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
10
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
được áp dụng trong giờ học toán, học sinh rất hứng thú và tích cực tham gia.
Ngoài trò chơi vận động, trò chơi trí tuệ, trò chơi toán học có thể là:
- Trò chơi nhằm dẫn dắt hình thành kiến thức mới.
- Trò chơi nhằm cũng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng.

a
6
. Hình thức tổ chức truyện kể toán học.
Truyện kể toán học là câu chuyện mà nội dung có yếu tố nào đó liên quan đến
toán học. Cụ thể hơn, truyện kể có thể là:
- Những câu chuyện gắn với các bài toán hay, các phát minh gần với toán học.
- Những câu chuyện về cách xử trí thông minh, ứng đối nhanh và độc đáo.
- Những câu chuyện trong cuộc sống hàng ngày, có chi tiết nào đó liên quan
đến toán học, dù là rất đơn giản.
Kể chuyện toán học cũng có thể xem là một hình thức hoạt động dạy học. Kể
chuyện một mặt làm thay đổi không khí lớp học như một hình thức nghỉ ngơi tích
cực, thư giãn đầu óc, chuẩn bị để tiếp tục học tập,mặt khác có tác dụng hỗ trợ dạy
học toán thông qua việc đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề cần suy nghĩ
để đề xuất cách giải quyết, ngoài ra còn góp phần giáo dục học sinh ý thức sáng tạo
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
11
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
trong lao động, tinh thần yêu nước, tính nhân đạo . . . Một câu chuyện kể trong vài
phút, nhưng có thể để lại ấn tượng sâu sắc, đậm nét suốt đời học sinh.
b. Một số thông tin về đổi mới phương pháp dạy học ở địa phương trong
nước, trong khu vực và trên thế giới.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của
học sinh, không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy
học truyền thống hay phải “ hội nhập” một số phương pháp xa lạ vào quá trình dạy
học. Vấn đề là cần kế thừa phát triển những mặt tích cực của phương pháp dạy học
hiện có, đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới một
cách linh hoạt nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh trong
học tập, phù hợp với hoàn cảnh điều kiện dạy học cụ thể.
Ngày nay, bài giảng hiện đại đang có khuynh hướng sử dụng ngày càng nhiều
các phương tiện công nghệ thông tin, làm tăng sức hấp dẫn cho người học và đạt

12
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
dựa vào cả quá trình học tập trên mọi bình diện từ việc giữ gìn sức khoẻ, khả năng
giao tiếp đến thành tích học tập các môn học.
Tại cuộc hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông do
Bộ giáo dục – Đào tạo tổ chức ngày 3 tháng 1 năm 2010. Phó Bộ trưởng – Bộ
trưởng Bộ giáo dục – Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: “ Một trong những
tiêu chí quan trọng nhất là sẽ lấy ý kiến nhận xét của học sinh về cách dạy của giáo
viên.”
c. Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học số tự nhiên ở lớp 3 trong trường
Tiểu học hiện nay.
Qua tìm hiểu sách giáo khoa Toán 3 mới. Cùng với việc nắm bắt ý kiến của
giáo viên trong các cuộc họp tổ chuyên môn. Đặc biệt là giáo viên đang trực tiếp
giảng dạy lớp 3 về nội dung dạy học bảng nhân, chia trong bảng ở lớp 3 tương đối
phù hợp với từng học sinh. Qua bảng nhân, chia 6, 7, 8, 9 các em sẽ áp dụng nhân,
chia ngoài bảng. Từ đó vận dụng giải các dạng bài toán như: gấp một số lên nhiều
lần; giảm đi một số lần; tính giá trị của biểu thức; so sánh số lớn gấp mấy lần số bé; .
. . tìm một trong các phần bằng nhau của một số. Ngoài ra học sinh còn biết giải
toán có liên quan đến rút về đơn vị; biết tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình
vuông. Đa số các bài tập đều phù hợp theo chuẩn kiến thức kĩ năng, ở dạng cơ bản
không có bài tập nâng cao dành cho học sinh giỏi để đáp ứng yêu cầu cho việc giải
toán Olympic trên mạng Internets. Vì vậy giáo viên phải tìm tòi, suy nghĩ những bài
toán nâng cao để luyện thêm cho học sinh giỏi.
VD: Một số tự nhiên chia cho 6 được kết quả là 21 , số dư lớn nhất có thể có
trong phép chia. Lấy số tự nhiên đó nhân với 6 được kết quả là . . . (786 )
: 6 = 21 ( dư 5)
= 21 x 6 + 5 = 131 131 x 6 = 786
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng số lượng và yêu cầu đặt ra cho mỗi bài toán
trong sách giáo khoa cũng tạo cơ hội cho giáo viên và học sinh có đủ thời gian tổ
chức hoạt động, nhất là hoạt động độc lập của học sinh. Đồng thời tạo cơ hội cho

giáo viên mới thấy cái khó, cái mà học sinh hay sai sót, vướn mắc để kịp thời sửa
chữa. Trong từng tiết dạy giáo viên nên lựa chọn phương pháp dạy học nào là phù
hợp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
* Những mặt tồn tại:
- Bên cạnh những ưu điểm của một số đông giáo viên đã tích cực thay đổi
phương pháp dạy học, không tránh khỏi một số ít giáo viên vẫn còn giảng dạy rất
khuôn mẫu theo sách hướng dẫn của giáo viên, sách giáo khoa. Giáo viên chỉ chú ý
sao cho học sinh giải được bài toán cụ thể trong sách giáo khoa chứ chưa chú ý đến
việc phát triển các đề toán thành các bài toán tương tự bằng việc yêu cầu học sinh
thay đổi số liệu để giúp học sinh nắm vững dạng toán đồng thời giúp cho các em
phát triển năng lực tư duy. Giáo viên ít đi sâu, ít nghiên cứu bài dạy, ngại đổi mới
phương pháp và còn sử dụng phương pháp truyền thống nhiều hơn. Vì thế dẫn đến
học sinh thụ động, nhàm chán.
- Nhiều giáo viên cho học sinh luyện tập với không khí buồn tẻ, do đó có
nhiều dạng bài tập lặp lại mà giáo viên không đổi mới phương pháp, đổi mới các
hình thức chữa bài mà chủ yếu chữa bài một cách đơn điệu. Học sinh đứng đọc bài
làm hoặc lên bảng làm bài, lớp chữa bài. Vì vậy, chưa kích thích được hứng thú học
tập của học sinh.
VD: Bảng chia 6 trang 24 sách giáo khoa BT
1
và BT
2
có dạng giống nhau.
BT
1
: Tính nhẩm:
42 : 6 = 24 : 6 = 48 : 6 = 30 : 6 =
54 : 6 = 36 : 6 = 18 : 6 = 30 : 5 =
12 : 6 = 6 : 6 = 60 : 6 = 30 : 3 =
BT

như sau:
Tôi lấy một tấm bìa có 6 chấm tròn và yêu cầu học sinh lấy theo.Sau đó tôi
hỏi học sinh:
- Các em vừa lấy bao nhiêu chấm tròn? ( 6 chấm tròn )
- Và lấy mấy lần? ( 1 lần )
- 6 chấm tròn lấy 1 lần ta có phép nhân nào? ( 6 x 1 = 6 )
Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh lấy thêm 1 tấm bìa nữa ( học sinh lấy theo
giáo viên ).
- 6 chấm tròn được lấy mấy lần? ( 2 lần )
- Chúng ta có phép nhân nào? ( 6 x 2 = 12 )
- Tương tự: Giáo viên yêu cầu học sinh lấy tiếp để hình thành bảng nhân 6.
Khi lập bảng nhân 6 xong, tôi yêu cầu học sinh tìm xem tích phép nhân sau bằng
tích phép nhân trước cộng thêm mấy? ( cộng thêm 6 )
VD: 6 x 5 = 6 x 4 + 6 = 24 + 6 = 30
2. Phương pháp trò chơi toán học:
Nhằm lôi cuốn sự chú ý trong học tập, giảm sự căn thẳng trong khi học. tôi
thường tổ chức trò chơi toán học để học sinh nghĩ rằng mình đang chơi nhưng thực
ra các em vẫn đang học.
VD
1
: Khi dạy bài: “ bảng nhân 6” bài tập 1 trang 19 sách giáo khoa.
Tôi tiến hành cho học sinh tính nhẩm bằng bút chì sách giáo khoa sau đó tôi
cho học sinh chơi trò chơi đoán số dưới hoa. Bằng cách mỗi phép tính tôi ghi tích
sẵn và hiệu ứng từng bông hoa che tích lại( giáo án dạy bằng Powerpoint). Nếu tiết
dạy bình thường thì tôi cắt từng bông hoa bằng bìa cứng để che kết quả lại và gọi 1
học sinh làm chủ trò “ đố bạn 6 x 4 = mấy?”. Bạn vừa trả lời đúng lại đố tiếp . . .
“ 6 x 0 = mấy?”
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
15
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.

Để trong từng tiết học toán thật sự hấp dẫn. lớp học thêm sinh động, sôi nổi,
lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Tôi còn sử dụng thêm
một số trò chơi học toán sau:
- Trò chơi: Ai nhanh hơn.
- Trò chơi: Hái hoa dâng chủ.
- Trò chơi: Câu cá nhanh giải toán đúng.
- Trò chơi: Khăn trải bàn; . . .
VD
4
: trang 31 sách giáo khoa bài “ Bảng nhân 7”
Đếm thêm 7 rồi viết số thích hợp vào ô trống.
7 14 21 42 63
Cách chơi: Tôi chọn 2 đội lên thi đua viết tiếp kết quả. Mỗi đội 5 học sinh , em thứ
nhất viết kết quả quả vào ô thứ nhất về trao phấn ( bút lông) cho em thứ hai viết
vào ô kế tiếp cứ thế đến ô cuối cùng. Đội nào xong trước thì lấy bông hoa
giáo viên đính trên bảng đem về. Sau đó giáo viên cùng học sinh nhận xét 2 đội.
- Bước 1: Nhận xét đội nào về trước ( đội có bông hoa là về trước).
- Bước 2: Nhận xét đội nào đúng ( mỗi ô vuông đúng đạt 2 điểm)
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
16
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
Nếu cả 2 đội đều đúng ( 10 điểm) thì sẽ tuyên dương đội về trước.
Trò chơi này có thể ghi 2 phiếu phát cho đầu bàn chuyền tay nhau làm đến em cuối
cùng làm xong lên dán kết quả. Nếu đội nào làm đúng và dán kết quả trước sẽ thắng.
VD
5
: Trò chơi “câu cá nhanh giải toán đúng”.
Khi dạy bài: “ Bảng nhân 9” sách giáo khoa trang 63 BT
2
.

- Có 6 chấm tròn chia thành nhóm, mỗi nhóm có 6 chấm tròn. Hỏi có bao nhiêu
nhóm được chia? ( 1 nhóm). Từ đó rút ra phép chia 6 : 6 = 1.
Sau đó tôi cho học sinh thảo luận nhóm đôi. Hai học sinh ngồi cạnh nhau lấy 2 tấm
bìa có 6 chấm tròn và thảo luận tìm phép chia 12 : 6 = 2.
Tương tự đến tấm bìa thứ 10 cùng thảo luận ghi vào phiếu và gọi các nhóm đọc
bảng chia 6 vừa thành lập. Các nhóm còn lại dò và nhận xét.
Tôi tiếp tục cho cho học sinh thảo luận nhóm đôi để tìm mối liên hệ giữa phép nhân
6 x 2 = 12 và phép chia 12 : 6 = 2( lấy tích chia cho thừa số thứ 1 ta được thừa số
thứ 2 và ngược lại.)
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
17
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
Phương pháp này có thể áp dụng cho phép chia 7, 8, 9.
VD
2
: BT
1
: trang 63 bài “ Bảng nhân 9” lớp 3.
9 x 4 = 9 x 2 = 9 x 5 = 9 x 10 =
9 x 1 = 9 x 7 = 9 x 8 = 0 x 9 =
9 x 3 = 9 x 6 = 9 x 9 = 9 x 0 =
Tôi cho học sinh tính nhẩm vào sách giáo khoa bằng bút chì. Sau đó tôi cho
học sinh nêu miệng theo hình thức tiếp sức. Rồi hỏi em nào đúng cả 4 cột giơ tay.
Các em đều làm đúng bài tập 1. Bây giờ cô sẽ thưởng cho các em một món quà. Các
em thích món quà nào nào thì lấy món quà ấy. Ở 3 rổ của 3 tổ tôi để sẳn 4 loại quả:
xoài, mận, táo, cam. Hoặc là 4 loại hoa , 4 loại xe, 4 loại con vật nuôi. Sau đó học
sinh sẽ họp nhóm theo sở thích vừa lấy và đặt tên nhóm theo tên của món quà đã
chọn.( nhóm xoài, nhóm mận, nhóm táo, nhóm cam) để thảo luận nhóm 4 tìm cách
giải bài tập 2 sách giáo khoa trang 63.
a) 9 x 6 + 17 b) 9 x 7 – 25

Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
- Phiếu trên áp dụng cho học sinh yếu, trung bình.
- Đối với học sinh khá, giỏi thì phiếu học chỉ cần ghi việc 1, việc 2 tự học sinh
suy ra.
7 x 1 = . . .
7 x 2 = . . .

7 x 10 = . . .
5. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:
Trong xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt,
thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một
năng lực đảm bảo sự thành đạt trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh. Vì vậy,
giáo viên tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra, giải quyết những vấn đề gặp
phải trong học tập, trong cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đồng. Không chỉ có ý
nghĩa tìm phương pháp dạy học mà phải đặt ra như một mục tiêu giáo dục và đào
tạo. Trong dạy học đặt và giải quyết vấn đề thường phân biệt hai cấp độ.
- Thuyết minh giải quyết vấn đề: Giáo viên tạo tình huống có vấn đề, học sinh
tự phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Tự nghiên cứu vấn đề: Giáo viên chỉ tạo tình huống có vấn đề, học sinh tự
phát hiện và giải quyết vấn đề.
Hiện nay, nhiều giáo viên Tiểu học thường áp dụng ở cấp độ thuyết trình giải
quyết vấn đề và chủ yếu tạo tình huống có vấn đề là một bộ phận của tiết học.
Phương pháp này gây niềm tin ở khả năng người học, làm cho học sinh thấy được
bài toán tuy chưa có lời giải ngay nhưng học sinh đã có kỹ năng liên quan đến vấn
đề đặt ra và nếu tích cực suy nghĩ thì có nhiều hy vọng giải quyết được bài toán đó.
VD: Bài tập 3 trang 69 sách giáo khoa lớp 3.
Một công ti dự định xây 36 ngôi nhà, đến nay đã xây được
9
1
số nhà đó. Hỏi

một cách hấp dẫn để củng cố kiến thức của tiết học.
Khi vào tiết toán “ Bảng chia 8”. Học sinh chưa tập trung còn suy nghĩ tản
mạn về những trò chơi với bạn ngoài sân trường trong giờ ra chơi, chưa tập trung
vào tiết học. Có học sinh lại cãi nhau “ bạn chơi ăn gian”. Thế là tôi đặt một câu đố .
VD
1
: Mẹ đi chợ mua về một giỏ mận. Hai chị em chạy ra ngõ mừng mẹ và
hỏi: Mẹ ơi, mẹ mua bao nhiêu trái mận vậy mẹ? Mẹ trả lời: Đem chia 7 người trong
nhà, mỗi người 4 trái còn thừa 2 trái. Hỏi mẹ mua bao nhiêu trái mận?
VD
2
: Một người đi câu được một con cá to. Có người hỏi con cá nặng bao
nhiêu kí – lô – gam? Người đó trả lời: Đuôi cá nặng 2 kí – lô – gam. Đầu cá nặng
2
1
đuôi cá. Còn thân cá gấp 6 lần đuôi cá. Hỏi con cá đó nặng bao nhiêu kí – lô – gam?
7. Phương pháp rút về đơn vị:
Khi học sinh nắm vững các bảng nhân, chia. Từ đó các em áp dụng giải các
bài toán có lời văn một cách dễ dàng. Bởi vì các bài toán ấy đều áp dụng các phép
cộng, trừ hoặc nhân, chia trong bảng mà thôi. Đây là phương pháp để giải các bài
toán về đại lượng tỉ lệ thuận.
VD: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
Bài toán 2: trang 128 lớp 3.
Giáo viên hướng dẫn tóm tắt:
7 can: 35 lít
2 can: . . . lít?
- Muốn tìm 2 can đựng bao nhiêu lít mật ong trước hết các em tìm bao nhiêu
can?( tìm xem 1 can đựng bao nhiêu lít).
- Vậy tìm 1 can em làm thế nào? ( lấy 35 : 7)
- Biết 1 can đựng ( . . . ) lít. Vậy các em tìm 2 can bằng cách nào?( lấy ( . . . )

vẽ để biểu diễn mối quan hệ giữa các đối tượng. Có thể sơ đồ là hình vuông, hình
tròn, bông hoa, . . . đoạn thẳng. Dùng Phương pháp này học sinh dễ dàng nhận ra
cách giải của bài toán.
VD: Bài tập 3 trang 54 – Toán 3.
Tóm tắt: Giải
Số mét dây điện đã cắt là:
/ / / / / / / / / / / / / / / / / / / 8 x 4 = 32 ( m)
8 m ? m Số mét dây điện còn lại là:
50 – 32 = 18 ( m)
Đáp số: 18 m
10. Phương pháp thực hành – luyện tập:
Phương pháp thực hành – luyện tập là phương pháp dạy học thông qua các
hoạt động thực hành – luyện tập của học sinh để giúp các em nắm được các kiến
thức và kĩ năng mới.
Các hoạt động thực hành – luyện tập bao gồm:
- Giải quyết các nhiệm vụ( hay bài tập ) do giáo viên nêu ra để tự học sinh có
thể tìm kiếm hoặc chiếm lĩnh được kiến thức mới.
- Tập vận dụng kiến thức vào làm tính, giải toán để củng cố kiến thức, hình
thành kĩ năng.
- Thực hành đo lường ( cân, đong, đo, . . . ). Vẽ hình, cắt ghép, xếp hình, . . .
- Từ các vấn đề thực tiễn tự đặt bài toán để giải.
- Làm đồ dùng học tập . . .
Khi tổ chức luyện tập thực hành giáo viên cần lưu ý:
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
21
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
- Phải chuẩn bị cho việc thực hành, luyện tập một cách chu đáo .
- Cần động viên cả lớp hoạt động độc lập, mọi học sinh đều tự suy nghĩ, tự
tìm biện pháp. Trong khi cả lớp làm việc nếu cần nhắc nhỡ, giúp đỡ, nên nhắc nhỡ
cá nhân học sinh, giáo viên không nên nói to làm mất sự tập trung suy nghĩ của cả

học sinh. Còn 2 bài cuối tôi cho học sinh làm sách giáo khoa hay phiếu ( vở) để học
sinh tự làm và nhóm đôi ngồi cạnh nhau kiểm tra – báo cáo. Và cho 4 học sinh lên
bảng thi đua sửa 4 bài tập bằng “ trò chơi câu cá nhanh, giải toán đúng”. Em nào
giải nhanh, đúng sẽ thắng.
a) 872 4 375 5 390 6 905 5
b) 457 4 578 3 489 5 230 6
Bảng con Phiếu( vở, sách)
Những phương pháp trên là một trong những phương pháp điễn hình mà tôi
đã sử dụng trong việc giảng dạy học sinh về rèn kỹ năng thực hành phép nhân, chia
Đổi mới phương pháp dạy học rèn kĩ năng thực hành nhân chia trong bảng ở lớp 3.
22
Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
trong bảng ở lớp 3.
 Về việc học của học sinh:
Ở lứa tuổi Tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng. Các em chưa hiểu hết ý
nghĩa của việc học toán hiện tại ở lớp cũng như tương lai sau này. Các em còn ham
chơi chưa tập trung trong giờ học. Một số phụ huynh suốt tháng quanh năm chỉ lo
quần quật với ruộng đồng chưa quan tâm đến việc học của con em mình. Do vậy có
một số học sinh không hề mở sách ra xem, cứ mang về rồi lại mang đi. Vì thế việc
học toán của các em rất chậm không theo kịp bạn bè.
Một số gia học sinh thì gia đình không sum họp, cha mẹ ly thân ( ly dị) nhau.
Do đó các em không được sự chăm sóc của cha mẹ mà chỉ mà chỉ được sự chăm
sóc, nuôi dưỡng của ông bà. Cho nên việc học của các em cũng bị sa sút. Mọi sự dạy
chữ và dạy người hầu như phó thác cho thầy cô giáo.
Một số học sinh thì do bẩm sinh học yếu, học trước quên sau, học phép chia
thì quên phép nhân. Vào lớp rất thụ động ít phát biểu. Vì thế việc thực hành các
phép nhân, chia cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại.
VD: Bài “ Luyện tập chung”sách Toán 3 trang 49.
BT
2

Giáo viên: Trần Thị Thương – Trường Tiểu học Bình Trinh Đông – Tân Trụ – Long An.
vì thế khó khăn cho việc thảo luận nhóm.
Hơn nữa đồ dùng dạy học là một phương tiện trực quan giúp học sinh dễ dàng
nắm vững kiến thức mới. Nên đòi hỏi người giáo viên phải sử dụng linh hoạt, đúng
lúc, đúng chỗ. Khi cần sử dụng thì sử dụng, khi không cần thì không sử dụng. Môn
Toán có một nhiệm vụ trọng đại là rèn luyện tư duy trừu tượng cho học sinh, cho
nên lạm dụng việc sử dụng đồ dùng dạy học cũng làm hạn chế kết quả học không
kém gì dạy “ chay”.
Để biết sử dụng đồ dùng dạy học đúng lúc, đúng chỗ giáo viên phải nắm chắc
kiến thức. Thông qua việc sử dụng đồ dùng dạy học có thể đánh giá được giáo viên
có vững về kiến thức của tiết dạy hay không?
Đúng cách nghĩa là giáo viên thực hiện đúng thao tác theo quy trình khi sử
dụng đồ dùng dạy học.
VD: Khi hướng dẫn học sinh tự lập “ Bảng nhân 6”, giáo viên yêu cầu học
sinh sử dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn một cách hợp lý.
- Lấy một tấm bìa ta có: 6 x 1 = 6 vì 6 đuyợc lấy một lần.
- Lấy 2 lần, mỗi lần 1 tấm bìa có 6 chấm tròn 6 x 2 = 12. Tránh tình trạng
giáo viên lấy 1 lần 2 tấm bìa thì học sinh khó hình dung 6 x 2 = 12( mà học sinh có
thể hình dung là 12 x 1 = 12)
- Tương tự: Lấy 3 lần mỗi lần 1 tấm bìa có 6 chấm tròn. Học sinh nêu: “ 6
được lấy 3 lần, ta có 6 x 3 = 18.
Mặt khác: cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 = 18 chính là: 6 x 2 + 6
Vậy: 6 x 3 = 6 x 2 + 6 = 18.
Bằng cách như vậy, học sinh có thể không dùng tấm bìa mà vẫn tìm được kết
quả của phép tính:
6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24 hoặc 6 x 4 = 4 x 6 = 24 Dựa bảng nhân đã học ở lớp 2.
6 x 5 = 6 x 4 + 6 = 30 hoặc 6 x 5 = 5 x 6 = 30

6 x 10 = 6 x 9 + 6 = 60
Như vậy, giáo viên cần lưu ý sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý, đúng lúc,

, BT
2
giáo viên chỉ cho học sinh điền kết quả
vào sách giáo khoa. Giáo viên còn ngại khó không tìm tòi phương pháp dạy học
theo hướng đổi mới nhằm làm cho lớp học sinh động hơn và học sinh không nhàm
chán.
BT
1
: Tính nhẩm:
42 : 6 = 24 : 6 = 48 : 6 = 30 : 6 =
54 : 6 = 36 : 6 = 18 : 6 = 30 : 5 =
12 : 6 = 6 : 6 = 60 : 6 = 30 : 3 =
BT
2
: Tính nhẩm:
6 x 4 = 6 x 2 = 6 x 5 = 6 x 1 =
24 : 6 = 12 : 6 = 30 : 6 = 6 : 6 =
24 : 4 = 12 : 2 = 30 : 5 = 6 : 1 =
Giáo viên còn sợ mất thời gian của một tiết học, nên thường giáo viên chỉ
thao tác với đồ dùng trực quan cho học sinh quan sát, chứ không cho học sinh thực
hành với chính đồ dùng học toán của mình. Bởi vì tôi nghĩ rằng, học sinh có tự mình
với đồ dùng trực quan thì học sinh sẽ nhớ kiến thức lâu hơn, cũng như phát triển tư
duy cho các em.
VD: Khi dạy các bài “ Bảng nhân 6, 7, 8, 9; bảng chia 6, 7, 8, 9. Giáo viên
không hề cho học sinh sử dụng các tấm bìa có số chấm tròn tương ứng để hình thành
bảng nhân, chia đó.
- Khi dạy các bài toán có lời văn, chưa phát huy phát huy tính tích cực của
học sinh. Giáo viên không để học sinh tự tóm tắt và tìm cách giải bài toán vì sợ mất
thời gian. Nên thường giáo viên tóm tắt và hướng dẫn cách làm.
VD: Bảng nhân 9 – Toán 3 trang 63.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status