nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và di truyền của bệnh liệt chu kỳ hạ kali máu - Pdf 22

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh liệt chu kỳ hạ Kali máu (Hypokalemic periodis paralysis -
HypoPP) là một bệnh lý thuộc nhóm bệnh liệt chu kỳ gia đình. Đây là
nhóm bệnh lý di truyền bao gồm 3 dạng chính: liệt chu kỳ hạ Kali
máu, liệt chu kỳ tăng Kali máu (hyperkalemic periodis paralysis) và
liệt chu kỳ Kali máu bình thường (normokalemic periodis paralysis),
trong đó liệt chu kỳ hạ Kali máu có tần suất gặp cao nhất (tỷ lệ gặp
1/100.000 người [1]). Bệnh gây ra do sự đột biến của các gen mã hóa
cho 2 loại protein của kênh Canxi và Natri, gây ra biểu hiện lâm sàng
đặc trưng: những cơn liệt mềm có kèm hạ Kali máu. Các cơn liệt mềm
này có thể xảy ra với tần suất, mức độ thay đổi, tuy không gây ra
những biến chứng nguy hiểm nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến chất
lượng cuộc sống của người bệnh. Cũng giống như rất nhiều bệnh lý di
truyền khác, do số lượng người mắc bệnh rất ít nên hiện nay, số tài
liệu nghiên cứu về bệnh lý này để phục vụ cho chẩn đoán, điều trị và
phòng bệnh còn khá khiêm tốn. Tại Việt Nam, hiện chưa có nhiều
nghiên cứu và các thông tin về bệnh chủ yếu là là một số ca bệnh đơn
lẻ hoặc được thu thập từ các tài liệu nước ngoài biên dịch lại đưa lên
một số trang điện tử. Đây là một thiệt thòi lớn cho người bệnh khi họ
không được tiếp cận với những thông tin hữu ích cho chính bản thân
mình. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm
sàng và di truyền của bệnh liệt chu kỳ hạ Kali máu”. Với mục tiêu
nghiên cứu:
1. Mô tả được đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân liệt chu kỳ hạ
Kali máu.
2. Lập được gia hệ và nhận xét được đặc điểm di truyền của
một dòng họ bị mắc bệnh liệt chu kỳ hạ Kali máu.
2
Chương 1
TỔNG QUAN

cấu tạo nên hệ thống vận chuyển ion Natri vào trong tế bào cơ. Gen
4
nằm ở vị trí 17q23.3. Cụ thể, gen mã hóa cho Protein tạo ra tiểu đơn
vị alpha của kênh vận chuyển Natri thụ động dựa vào sự chênh lệch
điện áp. Các kiểu đột biến của gen gặp ở khoảng 8 - 10% bệnh nhân
HypoPP. Sự xuất hiện các đột biến của gen gây ra HypoPP type II. Có
khoảng 6 đột biến của gen đã được tìm thấy ở những bệnh nhân
HypoPP. Mỗi loại đột biến thay đổi một axit amin trong protein
SCN4A, làm thay đổi cấu trúc và chức năng của kênh Natri trong tế
bào cơ xương. Các kênh đóng quá nhanh, làm giảm lưu lượng của các
ion Natri vào tế bào cơ. Sự gián đoạn trong vận chuyển ion này ngăn
cản cơ bắp bị co lại bình thường. Hậu quả là các cơn liệt. Một đặc
điểm khác biệt của đột biến trên gen SCN4A là ảnh hưởng của các đột
biến này trở nên trầm trọng hơn do nhiệt độ lạnh, nên type II thường xảy
ra nhanh chóng và nặng khi trời lạnh.
Sự biến đổi của hai kênh Canxi và Natri đều dẫn tới hậu quả là
sự vận chuyển hai ion dương này vào trong tế bào bị gián đoạn. Do
đó, tính thấm của màng tế bào đối với hai ion Canxi và Natri tăng lên,
kéo theo sự giảm tính thấm của màng đối với ion Kali, làm xuất hiện
một dòng ion Kali đi từ ngoài vào trong tế bào. Hậu quả là nồng độ
ion Kali trong dịch ngoại bào và trong máu giảm xuống. Trên lâm
sàng, bệnh nhân xuất hiện cơn liệt kèm theo hạ Kali máu, mặc dù mức
độ hạ Kali máu này lẽ ra không thể gây ra cơn liệt ở người bình
thường. Hạ Kali máu thực tế cũng chỉ là một biểu hiện của bệnh chứ
không phải là nguyên nhân gây ra các triệu chứng lâm sàng. Có nhiều
đột biến điểm trên hai gen trên đã được tìm thấy, được trình bày tóm
tắt trong hình 1.2.
5
Hình 1.2. Một số đột biến có thể gây ra các thể liệt chu kỳ gia đình
1.1.2. Đặc điểm của bệnh HypoPP

QRS, QT kéo dài, sóng T dẹt.
1.1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện bệnh HypoPP
- Giới: Bệnh có thể gặp ở cả hai giới. Tuy nhiên, cùng mang
gen bệnh nhưng ở nam và nữ, biểu hiện lâm sàng là khác nhau. Theo
nghiên cứu của Ke Q, Luo B, Qi M, Du Y, Wu W [2], hormon giới
tính cũng có vai trò trong kiểm soát các kênh vận chuyển ion. Do đó,
7
tính thấm của gen đối với hai giới cũng có sự khác biệt. Ở nam, tính
thấm là 100% trong khi ở nữ là 28,57%. Tần suất xuất hiện các cơn
liệt của nam và nữ cũng khác nhau với số cơn trong năm tương ứng là
50 đến 150 cơn trong 1 năm và 30 đến 50 cơn trong 1 năm. Thậm chí,
trong thời gian mang thai, các cơn liệt hoàn toàn biến mất.
- Tuổi: Trong hầu hết các trường hợp, tuổi khởi phát của bệnh
nhân là trong khoảng từ 9 đến 19 tuổi. Tuổi càng cao, số lượng các
cơn liệt cũng càng giảm.
- Chế độ ăn nhiều tinh bột: Tất cả các ca bệnh báo cáo đều cho
thấy một bữa ăn nhiều tinh bột có mối liên quan rõ ràng đến sự xuất
hiện của cơn liệt sau đó. Báo cáo gần đây của Johnsen T, Houston
ME, Saltin B [3] cũng cho thấy hiện tượng tăng sử dụng đường trong
các tế bào cơ xương là yếu tố dự báo cho cơn liệt.
- Các hoạt động thể lực: Đối với các bệnh nhân type I, hoạt động
thể lực mạnh có thể gây khởi phát cơn liệt. Tuy nhiên, đối với bênh nhân
type II, hoạt động thể lực mạnh lại là yếu tố giúp làm giảm sự xuất hiện
các cơn liệt do pH giảm giúp bất hoạt các đột biến ở gen SCN4A.
- Trạng thái tinh thần: De Keyser J, Smitz J, Malfait R, Van
Steirteghem A, Ebinger G [4] tiến hành nghiên cứu đo nồng độ các
hormone insulin, epinephrine, norepinephrine, growth hormone,
ACTH và cortisol trong và sau cơn liệt. Nghiên cứu đã chỉ ra được sự
tăng của các epinerphrine làm thúc đẩy quá trình đẩy ion Kali vào
trong tế bào cơ. Kết quả này đã chứng minh vai trò thúc đẩy và khởi

số là những nghiên cứu đơn lẻ với cỡ mẫu nhỏ, trên phạm vi nghiên
cứu hẹp.
Những trường hợp bệnh đầu tiên được mô tả vào khoảng cuối
thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 với những đặc điểm lâm sàng tương tự nhau
nhưng tính chất gia đình chưa được thể hiện rõ nét và cũng không
phân biệt rõ thể bệnh. Năm 1885, Carl Friedrich Otto Westphal đã báo
cáo một gia đình bị bệnh với những đặc điểm di truyền tương đối rõ
rệt, được ông gọi là bệnh liệt chu kỳ gia đình, y văn còn gọi đây là hội
chứng Westphal [5]. Các nghiên cứu sau này đi sâu vào tìm nguyên
nhân và cơ chế gây bệnh đã dần làm sáng tỏ về nhóm bệnh này, từ đó
phân nhóm bệnh liệt chu kỳ gia đình ra thành nhiều nhóm nhỏ, trong
đó có bệnh HypoPP. Có thể tóm tắt sơ lược lịch sử nghiên cứu về
bệnh HypoPP như sau:
Trước những năm 1900, các nghiên cứu về bệnh chủ yếu vẫn là
các công bố về những trường hợp bệnh mới được phát hiện, như báo
cáo của Campanile S, Montagna P, Agati R, Campanile A, Lorusso S
[6] hay của Schiller T, Auerbach PS [7] về một vài ca bệnh mới được
phát hiện với những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng điển hình của
bệnh. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng tập trung vào nghiên cứu cơ
chế và mối liên quan giữa các yếu tố có khởi phát và sự xuất hiện cơn
liệt. Johnsen T, Houston ME, Saltin B [3] cho thấy mối liên hệ giữa sự
tăng tiêu thụ Cacbohydrate trong máu cùng với sự xuất hiện cơn liệt
ngay sau đó. De Keyser J, Smitz J, Malfait R, Van Steirteghem A,
Ebinger G [4] tiến hành đo nồng độ các hormone trong máu trong và
ngoài cơn liệt cũng nhận thấy stress đóng vai trò làm tăng tần suất các
cơn liệt…
10
Từ sau những năm 1990, cùng với sự phát triển của công nghệ
sinh học phân tử, các thăm dò sâu hơn ở mức độ NST và gen đã được
thực hiện để nghiên cứu nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh một cách rõ

Tại Việt Nam, đã có một vài ca bệnh đơn lẻ được phát hiện, và
được công bố trên một vài phương tiện thông tin đại chúng. Tuy
nhiên, những đặc điểm của bệnh không được ghi nhận lại một cách cụ
thể và chính xác trong y văn. Do đó, chưa có một nghiên cứu chính
thức nào về bệnh được thực hiện. Tất cả những thông tin về bệnh đều
được dịch từ tài liệu nước ngoài, với những thông tin khái quát theo y
văn. Điều này là một sự thiệt thòi lớn cho người bệnh khi không được
tiếp cận với những thông tin về bệnh, gây tâm lý lo lắng bất an cho
bản thân bệnh nhân, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người
bệnh và gia đình.
12
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Một dòng họ bị mắc bệnh liệt chu kỳ hạ Kali máu (5 đời: 90 cá
thể, trong đó có 27 bệnh nhân: 18 bệnh nhân nam và 9 bệnh nhân nữ).
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
+ Các bệnh nhân đang sống khỏe mạnh, xuất hiện các cơn liệt
mềm, không kèm theo mất cảm giác và ý thức.
+ Không bị mắc các bệnh do tổn thương thần kinh, hạ đường
huyết, các bệnh lý thực thể khác gây hạ Kali máu.
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán: Kali máu < 3mmol/l trong cơn liệt.
- Bệnh nhân được thăm khám và chẩn đoán tại khoa Thần kinh
tại bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ trực tiếp thăm khám, hỏi
bệnh và mô tả đặc điểm lâm sàng được trên 14 đối tượng nghiên cứu,
bao gồm 10 bệnh nhân nam và 4 bệnh nhân nữ. Lý do những bệnh
nhân còn lại không tham gia là do một số bệnh nhân ở quá xa, một số
bệnh nhân sợ mọi người biết bệnh của mình và cho rằng bệnh này bị
bùa chú, không có khả năng chữa khỏi. Tuy nhiên, sau khi bệnh được

Chẩn đoán phân biệt:
14
+ Hạ đường huyết.
+ Các bệnh lý tổn thương thực thể của hệ thần kinh như: tai
biến mạch não, tổn thương tủy sống đoạn cổ, hội chứng Guillain
Barré.
+ Các bệnh lý gây hạ Kali máu khác: tiêu chảy, cường
aldosteron, sử dụng thuốc lợi tiểu.
- Xử lý số liệu nghiên cứu và phân tích kết quả.
2.3. Hạn chế sai số nghiên cứu
- Thu thập đầy đủ thông tin bệnh nhân.
- Khám đúng, khám đủ cẩn thận các bệnh nhân.
- Làm sạch các số liệu đã thu thập, loại bỏ các số liệu không phù
hợp, không đầy đủ, thiếu độ tin cậy trước khi phân tích.
2.4. Đạo đức nghiên cứu
- Có cam kết, thỏa thuận với bệnh nhân.
- Đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ về mục đích nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu được giữ kín bí mật khi cung cấp thông tin.
- Đối tượng nghiên cứu sẽ được phản hồi kết quả nghiên cứu.
15
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân bị liệt chu kỳ hạ Kali
máu (HypoPP). Các bệnh nhân nghiên cứu đều thuộc một dòng họ,
nguyên quán tại huyện Trực Ninh - Tỉnh Nam Định. Hiện tại đa phần
các cá thể sinh sống tại huyện Trực Ninh - Tỉnh Nam Định, một số
chuyển sang sinh sống rải rác tại một số địa điểm thuộc thành phố Hồ
Chí Minh và Bình Thuận.
3.1.1. Số lượng bệnh nhân HypoPP của dòng họ

3.1.2. Phân bố giới tính của các bệnh nhân HypoPP của dòng họ
Trong dòng họ, tỷ lệ nam giới chiếm 44,44% trong khi nữ giới
chiếm tỷ lệ 55,56%. Tỷ lệ nam : nữ là 0,8:1.
Tỷ lệ nam : nữ trong số các cá thể mắc bệnh là 2 : 1.
Tỷ lệ nam : nữ trong số các cá thể bị bệnh cao hơn tỷ lệ nam : nữ
trong dòng họ với độ tin cậy CI = 95%.
3.1.3. Tuổi trung bình của các bệnh nhân HypoPP
Tại thời điểm nghiên cứu, trong dòng họ có 21 người bị bệnh
HypoPP, 6 người còn lại đã chết. Tuổi trung bình của 21 bệnh nhân
này được biểu diễn trong biểu đồ hình 3.3.
Tuổi trung bình của các cá thể mắc bệnh HypoPP trong dòng họ
là 34, bằng với tuổi trung bình của các bệnh nhân nam và tuổi trung
bình của các bệnh nhân nữ. Độ lệch của 3 nhóm đều cao chứng tỏ
bệnh gặp ở nhiều lứa tuổi khác nhau.
3.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh HypoPP
Chúng tôi tình cờ phát hiện được bệnh nhân Phạm Văn T. trong
dòng họ nghiên cứu. Bệnh nhân có biểu hiện những cơn liệt mềm
không kèm theo mất cảm giác và ý thức. Chúng tôi tiến hành cho bệnh
nhân tới thăm khám tại khoa Thần kinh bệnh viện Bạch Mai và theo
dõi bệnh tại khoa Thần kinh bệnh viện Thanh Nhàn. Qua thăm khám
17
và chẩn đoán xác định, bệnh nhân và những người trong dòng họ được
xác định bị bệnh HypoPP.
Bệnh HypoPP biểu hiện thành những cơn liệt mềm điển hình
không kèm theo mất cảm giác và ý thức. Chúng tôi đã hỏi bệnh và
thăm khám được 14 người trong dòng họ. Qua theo dõi và thăm khám,
chúng tôi thu thập được các đặc điểm lâm sàng của bệnh HypoPP như sau:
3.2.1. Các triệu chứng lâm sàng của bệnh HypoPP
3.2.1.1. Các biểu hiện trong cơn liệt của bệnh nhân HypoPP
Biểu hiện lâm sàng chính của các bệnh nhân HypoPP là những

chiếm 60%, trong khi tỷ lệ này ở cá bệnh nhân nữ là 25% và không có
bệnh nhân nào có cơn liệt kéo dài quá 1 ngày.
3.2.1.3. Tần suất xuất hiện các cơn liệt của bệnh nhân HypoPP
Tần suất xuất hiện các cơn liệt của 14 bệnh nhân HypoPP được
thể hiện qua biểu đồ hình 3.5.
Qua biểu đồ, nhận thấy các bệnh nhân nam có khoảng cách giữa
các cơn liệt là vài ngày chiếm tỷ lệ 50% trong số các bệnh nhân nam.
Chỉ có 20% các bệnh nhân nam có khoảng cách giữa các cơn liệt kéo
dài trên 1 tháng. Trong khi đó, tất cả các bệnh nhân nữ có khoảng cách
giữa các cơn liệt là trên 1 tháng, không có bệnh nhân nào có khoảng
cách giữa các cơn liệt dưới 1 tháng.
3.2.2. Các yếu tố khởi phát cơn liệt ở bệnh nhân HypoPP
Cả 14 bệnh nhân được hỏi đều cho biết cơn liệt của họ thường xảy ra
vào ban đêm hoặc sáng sớm, liên quan đến một vài yếu tố như trong hình 3.6.
Như vậy, các yếu tố khởi phát cơn liệt ở các bệnh nhân này là:
- Trạng thái gắng sức: Tất cả các bệnh nhân đều khẳng định cơn liệt của
họ chắc chắn sẽ xuất hiện sau một hoạt động gắng sức. Ở mỗi bệnh
nhân khác nhau, sự xuất hiện cơn liệt sau trạng thái gắng sức cũng
khác nhau. Cụ thể, những bệnh nhân là người có sức khỏe tốt, công
19
việc hàng ngày của họ là những công việc nặng nhọc thì một hoạt
động gắng sức mức độ nặng mới có thể gây khởi phát cơn liệt. Những
bệnh nhân vốn là người có sức khỏe kém, công việc hàng ngày nhẹ
nhàng thì chỉ một gắng sức mức độ nhẹ cũng có thể làm khởi phát cơn
liệt ở bệnh nhân.
- Thay đổi thời tiết: Sự thay đổi thời tiết được khẳng định là yếu tố khởi
phát cơn liệt ở tất cả các bệnh nhân được hỏi. Tuy nhiên, không phải
lần nào thay đổi thời tiết bệnh nhân cũng xuất hiện cơn liệt. Những khi
thời tiết thay đổi một cách đột ngột trong thời gian ngắn như từ nắng
nóng oi bức sang mưa dông bão gió sẽ làm xuất hiện cơn liệt ở tất cả

mmol/l (bình thường Kali máu: 3,5 - 5,5 mmol/l).
Đồng thời trong cơn liệt, hầu hết các sinh hoạt của bệnh nhân đều
phải do người thân hỗ trợ. Bệnh nhân hầu như không ăn được trong
cơn liệt. Theo như lời kể của tất cả các bệnh nhân được phỏng vấn thì
khi ăn vào, họ có cảm giác các cơn liệt kéo dài hơn và mệt mỏi hơn.
Vì vậy, hầu hết các bệnh nhân không ăn uống gì trong thời gian bị liệt.
Nếu cơn liệt kéo dài vài ngày, họ chỉ ăn uống cầm chừng.
Cơn liệt kéo dài có thể vài giờ đến vài ngày, sau đó bệnh nhân sẽ
thấy chân tay nhẹ dần, sau đó dần cử động trở lại được và cuối cùng là
cơn liệt kết thúc không để lại di chứng gì. Sau cơn, bệnh nhân sinh
hoạt bình thường. Một số bệnh nhân cũng có đi khám tại các cơ sở y
tế khi không có cơn liệt nhưng đều không phát hiện bất thường gì trên
lâm sàng và xét nghiệm.
Tần suất của các cơn liệt thay đổi tùy từng bệnh nhân. Bệnh nhân
có các cơn liệt thưa nhất là khoảng vài tháng một cơn, nhưng cũng có
21
bệnh nhân hầu như ngày nào cũng xuất hiện cơn liệt. Các yếu tố khởi
phát ở trên làm cho các cơn liệt xuất hiện nhiều hơn và dài hơn.
3.3. Gia hệ của dòng họ
Gia hệ được lập dựa trên những thông tin do các thành viên trong
dòng họ cung cấp. Các ký hiệu dùng để lập gia hệ được trình bày
trong phụ lục 1.
Đương sự là bệnh nhân Phạm Văn T. Gia hệ của bệnh nhân được
thành lập với 90 thành viên trong 5 thế hệ.
Kết quả thu được gia hệ như trong hình 3.8.
Qua xây dựng gia hệ, nhận thấy:
- Bệnh xuất hiện liên tục qua các thế hệ.
- Bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ: 18 nam bị bệnh và 9 nữ bị bệnh.
- Cặp vợ chồng I.1 và 1.2, người vợ bị bệnh HypoPP, cặp vợ chồng này
sinh được 8 người con, trong đó có 3 người con bị mắc bệnh HypoPP

- Cặp vợ chồng III.17 và III.18 có người vợ bị bệnh HypoPP. Cặp vợ
chồng này sinh được 1 người con trai bị bệnh (IV.16).
- Cặp vợ chồng III.33 và III.34 có người vợ bị bệnh HypoPP. Cặp vợ
chồng này sinh được 1 con trai bị bệnh (IV.20) và 3 người con gái
không bị bệnh (IV.17, IV.18 và IV.19).
- Cặp vợ chồng III.36 và III.37 có người vợ bị bệnh HypoPP sinh được
3 người con trai, trong đó chỉ có 1 con trai bị bệnh giống mẹ (IV.22).
- Cặp vợ chồng III.38 và III.39 có người vợ bị bệnh HypoPP. Cặp vợ
chồng này sinh được 2 người con trai, cả hai đều không bị bệnh
(IV.24 và IV.25).
- Cặp vợ chồng IV.1 và IV.2 có người chồng bị bệnh HypoPP. Cặp vợ
chồng này sinh được 1 người con trai bị bệnh (V.4), 1 người con gái
bị bệnh (V.3) và hai người con gái không bị bệnh (V.1 và V.2).
24
Cặp vợ chồng IV.3 và IV.4 có người vợ bị bệnh HypoPP. Cặp vợ
chồng này sinh được 3 người con gái, cả 3 đều không mắc bệnh
HypoPP (V.5, V.6 và V.7).
25
Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh HypoPP
Qua phỏng vấn các cá thể mang bệnh trong dòng họ, phân tích
gia hệ và thăm khám lâm sàng cho 14 bệnh nhân, chúng tôi tổng kết
các đặc điểm lâm sàng của bệnh như sau:
4.1.1. Về tuổi khởi phát và giới tính của các bệnh nhân
4.1.1.1. Tuổi khởi phát bệnh của các bệnh nhân
Tuổi khởi phát bệnh của 14 bệnh nhân tham gia nghiên cứu trong
dòng họ tập trung trong khoảng từ 10 đến 20 tuổi, là độ tuổi có nhiều
thay đổi về sinh lý, dậy thì.
Nghiên cứu của Wang Q và Liu M năm 2005 [9] thống kê được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status