Luận văn đông phương học tìm hiểu về từ ngữ xưng hô trong tiếng việt - Pdf 22




1
1. Đặt vấn đề
Từ loại là một phổ niệm của ngôn ngữ học nói chung. Nói đến ngôn
ngữ là nói đến ngữ pháp mà nói đến ngữ pháp không thể không nói đến hệ
thống từ loại của nó. Từ loại là một trong những vấn đề, một trong những
đối tượng mà ngữ pháp học chú ý đến trước tiên đối với bất cứ một ngôn
ngữ nào. Với quan điểm như
vậy, có thể khẳng định: bất kỳ hệ thống ngôn
ngữ của một dân tộc nào, của một cộng đồng người nào đã có vốn từ vựng,
ngữ pháp riêng thì đều có từ loại. Tiếng Việt không phải là một ngoại lệ.
Từ loại của các ngôn ngữ không biến hình trong đó có tiếng Việt chủ
yếu được phân chia theo các đặc trưng ngữ pháp và đặc trưng ngữ ngh
ĩa.
Căn cứ vào một tập hợp các tiêu chuẩn để xác định từ loại tiếng Việt có thể
từng bước xác định được các đối lập trong kho từ vựng tiếng Việt. Các đối
lập này tạo thành các tập hợp lớn rồi đến các tập hợp vừa và cuối cùng là các
tập hợp nhỏ. Tập hợp lớn bao gồm thực từ, hư từ và tình thái từ. Tiế
ng Việt
có 9 tập hợp vừa thuộc thực từ, hư từ và tình thái từ… Qua các bước phân
chia từ tập hợp lớn đến tập hợp nhỏ, chúng ta có 9 kiểu từ loại trong hệ
thống từ loại tiếng Việt, đó là: danh từ, số từ, động từ, tính từ, đại từ, phụ từ,
liên từ, trợ từ và cảm từ. Mỗi từ loại lại có nh
ững tiểu loại khác nhau… tất
cả làm nên sự phong phú, đa dạng của hệ thống từ loại tiếng Việt.
Trong 9 từ loại kể trên của tiếng Việt thì đại từ là một từ loại có vị trí
đặc biệt. Đó là vị trí trung gian giữa thực từ và hư từ và là một từ loại trung
gian giữa các từ loại cơ bản. Đại từ không phải là thực từ
đích thực. Tuy nó

trưng cơ bản của từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt, sự phong phú v
ề số lượng
cũng như sự đa dạng trong cách dùng, bài viết nhằm làm nổi bật vẻ đẹp của
từ ngữ xưng hô nói riêng và vẻ đẹp của tiếng Việt nói chung. Song song với
các phương pháp phân tích, miêu tả, so sánh đối chiếu, qua khảo sát sinh
viên khoa Đông phương, trường Đại học Lạc Hồng, bài viết phần nào phản 
3
ánh rõ những vấn đề liên quan đến từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt và bước
đầu đề cập đến những ảnh hưởng của nó đến quá trình học ngoại ngữ nói
chung và việc học dịch nói riêng của sinh viên ở đây.
2. Khái quát về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
Trong bất kỳ một hành vi giao tiếp nào, xưng hô là một hiện tượng
không thể thiếu được. Có thể nói, có giao tiếp là có xư
ng gọi. Chính vì vậy,
trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, lớp từ ngữ dùng để xưng hô cũng luôn đóng
vai trò quan trọng và là một trong những yếu tố tạo nên sự phong phú trong
vốn ngôn từ của mỗi dân tộc.
Từ ngữ xưng hô - đại từ xưng hô (pronoun) là những từ dùng để xưng hô
trong giao tiếp. Theo hai tác giả Diệp Quan Ban – Hoàng Văn Thung thì từ
ngữ xưng hô là những từ “dùng thay thế và biểu thị
các đối tượng tham gia
quá trình giao tiếp (được phản ánh trong nội dung ý nghĩa của thực từ hay
tổ hợp thực từ tương ứng)” [2; 111]
Từ ngữ xưng hô trong tiếng tiếng Việt có thể chia làm hai lớp, gồm
các đại từ xưng hô gốc, đích thực và các yếu tố được đại từ hóa dùng để
xưng hô.
Thuộc về lớp thứ nhất – những từ xưng hô gố

hỗn số
Số nhiều Các biến thể
Ngôi thứ nhất
(người nói)

Tao
Tôi
Tớ
Mình
Ta Ta
Mình
Chúng ta

Chúng tao
Chúng tôi
Chúng tớ
Chúng mình
Chúng ta

Tau (tao)
Tui (tôi) (1)
…………….
(Tôi) = Choa
Min, Qua (2)


(1). Biến thể ngữ âm
(2). Biến thể từ vựng (phương ngữ)
Trên đây chỉ là bảng thống kê tóm tắt những từ ngữ xưng hô trong
tiếng Việt. Trong thực tế, số lượng từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt (kể cả
những từ ngữ xưng hô gốc, đích thực và những từ được đại từ hóa dùng để
xưng hô) rất nhiều, khó có thể
thống kê chúng thành một con số xác định,
bởi trong khi giao tiếp người Việt luôn có xu hướng tạo ra những từ mới để
xưng hô. Không biết tự bao giờ và bằng cách nào mà trong tiếng Việt đã có
cả một kho, một “mỏ” các từ ngữ xưng hô chuyên dùng. Điều này là không
thể phủ nhận. Theo khảo sát của chúng tôi mới đây, sự phong phú về số
lượng của từ ngữ xưng hô trong tiếng Việ
t một lần nữa được khẳng định.
Khi được hỏi về số lượng của từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt, đại đa
số sinh viên được khảo sát (159/223 sinh viên, chiếm 71.3%) đều cho rằng:
số lượng từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt “rất phong phú”, 53/223 sinh viên
(chiếm 23.8%) đánh giá là “phong phú”, chỉ có 2/223 sinh viên (chiếm 
6
0.9%) cho rằng số lượng từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt ít. Điều này được
thể hiện cụ thể qua bảng kết quả dưới đây:

Số lượng từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
Frequency Percent
Valid
Percent
Cumulative


7
Số lượng từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt so với ngoại ngữ đang học
Frequency Percent
Valid
Percent
Cumulative
Percent

Valid

Ít hơn
39 17.5 17.5 17.5Nhiều hơn
88 39.5 39.5 57.0Phong phú hơn
rất nhiều
96 43.0 43.0 100.0Total
223 100.0 100.0


mặt nói lên
được sự phong phú, vẻ đẹp của tiếng Việt nhưng mặt khác lại
ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tiếng Việt của người nước ngoài và việc
dịch mà ở đó tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ đích. Về mặt này, chúng tôi
sẽ đề cập ở phần sau của bài viết.
3. Đặc điểm của từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
3.1. “Trong giao tiếp hằng ngày, các danh từ dùng làm đại từ xưng hô
được dùng nhiều hơn, phổ biến hơn là các đại từ xưng hô đích thực”
[1; 126] 
9
3.2. Trong mỗi phát ngôn, các từ ngữ xưng hô phản ánh trực tiếp các mối
quan hệ giữa người nói và người nghe, “phản ánh trình độ nhận thức, thái
độ tình cảm của người nói với người nghe, thậm chí còn có thể bộc lộ nhân
cách con người (người có văn hóa hay không; thái độ chân thật hay giả
tạo…” [1; 126]
3.3. Ngoại trừ từ “tôi” được xem là tương đối trung hòa về thái độ, biểu
cảm, các từ ngữ x
ưng hô trong tiếng Việt đều mang đậm màu sắc biểu cảm.
chỉ cần nghe qua cách xưng hô giữa người nói và người nghe chúng ta có thể
nhận ra thái độ, tình cảm giữa hai người.
3.4. Việc sử dụng các từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt phụ thuộc vào
nhiều nhân tố: nhân vật giao tiếp (người nói – người nghe); mục đích, nội
dung giao tiếp, tình huống giao tiếp và các yếu tố khách quan (tập quán,
truyền thống – vă
n hóa, xã hội, ý thức hệ, tâm lý dân tộc, khu vực địa lý…)
4. Sự đa dạng về cách dùng từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
Những vấn đề trình bày trên phần nào đã cho thấy được một điểm nổi

Chú Anh Bố
(1).Chắt ↔ cụ (2).Cháu Cô (3).Em (4).Con
Dì Chị Mẹ
Cậu
Mợ
Thím 
11
4.2. Cách dùng từ ngữ xưng hô ngoài xã hội
“Việc sử dụng hệ thống từ xưng hô ngoài xã hội, thể hiện thái độ ứng
xử giữa những người không có quan hệ huyết thống, thân thuộc gia tộc là
rất phức tạp và đa dạng” [1; 128]. Ở phạm vi này, cả hai lớp từ ngữ xưng hô
trong tiếng Việt là các từ xưng hô gốc và các từ lâm thời làm đại từ xư
ng hô
đều được sử dụng.
Cách xưng hô ngoài xã hội tồn tại hai hình thức: xưng hô tương ứng,
chính xác và xưng hô tương ứng không chính xác. Có thể thấy rõ điều này
qua sơ đồ sau [1; 130]:
Ngôi 2
Ngôi 1
Con Cháu Em
Anh
(chị)

(cậu)
Bác
(chú)
Ông

viên nhận thấy điều này. Trong số 223 sinh viên được khảo sát thì có đến
172 sinh viên (chiếm 77.1%) cho rằng yếu tố văn hóa “rất ảnh hưởng” đến
cách xưng hô của người Việt, cũng có 43 sinh viên (19.3%) cho rằng văn
hóa có ảnh hưởng ít đến cách xưng hô và chỉ có 8 sinh viên (3.6%) cho rằng
văn hóa không ảnh hưởng đến cách xưng hô của người Việ
t. Đây là một dấu
hiệu đáng mừng khi chúng ta đang trong giai đoạn giữ gìn và phát huy sự
trong sáng của tiếng Việt. Kết quả khảo sát được thể hiện rõ qua bảng sau:

13
Văn hóa ảnh hưởng đến cách xưng hô của người Việt
Frequency Percent
Valid
Percent
Cumulative
Percent
Valid
Hoàn toàn
không ảnh
hưởng
8 3.6 3.6 3.6

Không ảnh
hưởng lắm
43 19.3 19.3 22.9
Rất ảnh hưởng 172 77.1 77.1 100.0
Total 223 100.0 100.0

ữ xưng hô có thể dùng được ở nhiều
ngôi, cụ thể là ở cả ba ngôi: thứ nhất, thứ hai và thứ ba.
Ví dụ
:
(1) Hoa, lại đây anh
cho bánh này.
Ngôi thứ nhất
(2) Anh
cho em cái bánh này nhé?
Ngôi thứ hai
(3) Anh
của em có nhà không?
Ngôi thứ ba
4.5. Dùng các từ chỉ chức danh, nghề nghiệp: Hiệu trưởng, giáo sư, tiến
sĩ, bác sĩ, thủ trưởng, sếp, tổ trưởng, giám đốc… để xưng hô. Chúng ta dễ
dàng nghe thấy những phát ngôn như thế này:
(1) Thưa bác sĩ, con tôi có sao không ạ? 
15
(2) Sếp ơi, chiều nay cho em xin phép về sớm nhé!
4.6. Người Việt chúng ta rất thường dùng tên riêng để xưng hô, cả khi tự
xưng và khi gọi người khác. Chẳng hạn:
(1) Hoa có thể đợi Hồng được không?
Ngôi thứ hai Ngôi thứ nhất
Hay (2) Nam ơi, cậu đã về chưa?
4.7. Trong tình huống thân mật, người Việt có thể xưng hô với nhau bằng
biệt danh. Những cách x
ưng hô như thế này thường được giới hạn trong một

đến mặt hạn chế của nó khi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình h
ọc tiếng Việt
của người nước ngoài và những khó khăn khi dịch từ ngữ xưng hô từ các
ngôn ngữ khác sang tiếng Việt.
5.1. Với một kho, một “mỏ” từ ngữ xưng hô phong phú như vậy thì đây
là một khó khăn lớn cho người nước ngoài học tiếng Việt. Để nhớ được
tương đối đầy đủ các từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Việt
đối với những
người nước ngoài học tiếng Việt đã là một khó khăn. Càng khó khăn hơn
cho người nước ngoài học tiếng Việt khi họ phải làm sao biết cách dùng các
từ xưng hô này đúng lúc, đúng chỗ.
5.2. Từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt luôn thể hiện rõ những mối tương
quan trong giao tiếp, phức tạp hơn nhiều so với nhiều thứ tiếng khác trên thế
giới. Chính vì v
ậy, trong quá trình dịch thuật chắc chắn không ít người gặp
phải những khó khăn loại này. Tác giả Nguyễn Văn Chiến [3] cho rằng:
“Nếu coi tiếng Việt là ngôn ngữ phiên dịch (ngôn ngữ đích) để chuyển dịch
các ngôn ngữ khác qua nó thì lớp từ xưng hô trong tiếng Việt là một hiện
tượng gây ra nhiều chuyện rắc rối ”. 
17
Trong tiếng Anh, những chữ như “brother”, “sister”, “uncle”, “aunt”
có nghĩa không xác định tương quan. Nhưng trong tiếng Việt, những tương
quan ấy lại được phân biệt rất rõ, chẳng hạn sự phân biệt trong cách xưng hô
của người miền Bắc: lớn hơn thì phải gọi là “anh”, là “chị”; nhỏ hơn thì gọi
là “em”; anh của cha thì gọi là “bác”; em trai của cha thì gọi là “chú”; em
gái của cha thì gọi là “cô”; em gái của mẹ gọi là “dì”; chồng của cô, dì thì
gọi là “chú”; vợ

Cumulativ
e Percent
Valid Có 189 84.8 84.8 84.8
Không 34 15.2 15.2 100.0
Total 223 100.0 100.0

Có tới 189/223 sinh viên học ngoại ngữ được khảo sát gặp khó khăn
khi dịch từ xưng hô từ ngôn ngữ họ đang học sang tiếng Việt (chiếm
84.8%). Cụ thể việc gặp khó khăn đó đối với từng ngoại ngữ là khác nhau:
Tỉ lệ sinh viên có gặp khó khăn khi dịch từ xưng hô theo từng ngoại ngữ

Gặp khó khăn khi dịch từ xưng hô

Có Không

Count Row % Col % Count Row % Col %
Tiếng Anh 44 77.2% 23.3% 13 22.8% 38.2%
Tiếng Nhật 63 88.7% 33.3% 8 11.3% 23.5%
Tiếng Trung 34 85.0% 18.0% 6 15.0% 17.6%
Ngoại
ngữ
đang
học Tiếng Hàn 48 87.3% 25.4% 7 12.7% 20.6%


3. Nguyễn Văn Chiến (1993), Từ xưng hô trong tiếng Việt (Nghiên cứu
ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp), Tạp chí những vấn đề ngôn
ngữ và vă
n hóa, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Trường ĐHSP Ngoại
ngữ Hà Nội.
4. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) – Nguyễn Thái Hòa (2002), Phong cách
học tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo Dục.
5.
6.
7.
8.

21
PHỤ LỤC
KẾT QUẢ KHẢO SÁT SAU KHI SỬ DỤNG BẰNG PHẦN MỀM
XỬ LÝ SỐ LIỆU 1. Số lượng từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
Frequency Percent
Valid
Percent
Cumulative
Percent
Valid Ít 2 .9 .9 .9
Vừa phải 9 4.0 4.0 4.9
Phong phú 53 23.8 23.8 28.7

Valid Có 170 76.2 76.2 76.2
Không 53 23.8 23.8 100.0
Total 223 100.0 100.0

23
4. Văn hóa ảnh hưởng đến cách xưng hô của người Việt
Frequency Percent
Valid
Percent
Cumulative
Percent
Valid
Hoàn toàn
không ảnh
hưởng
8 3.6 3.6 3.6

Không ảnh
hưởng lắm
43 19.3 19.3 22.9
Rất ảnh hưởng 172 77.1 77.1 100.0
Total 223 100.0 100.0 5. Sinh viên có gặp khó khăn khi dịch từ xưng hô hay không
Frequency Percent
Valid
Tiếng Hàn 48 87.3% 25.4% 7 12.7% 20.6% 
25
7. Nguyên nhân của khó khăn khi dịch từ xưng hô Frequency Percent
Valid
Percent
Cumulativ
e Percent
Valid
Số lượng từ ngữ xưng
hô trong tiếng Việt
quá nhiều
17 7.6 7.6 7.6

Phải phụ thuộc vào
ngữ cảnh để dịch
33 14.8 14.8 22.4

Số lượng nhiều, phải
phụ thuộc vào ngữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status