mô hình đánh giá tác động của chương trình 135 đến xóa đói giảm nghèo hộ gia đình - Pdf 23

TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN

PHAN VĂN CƯƠNG
MÔ HìNH ĐáNH GIá TáC ĐộNG CủA CHƯƠNG TRìNH 135
ĐếN XóA ĐóI GIảM NGHèO Hộ GIA ĐìNH
Chuyên ngành: ĐIềU KHIểN KINH Tế
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGÔ VĂN THứ
Hà Nội - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn “Mô hình đánh giá tác
động của chương trình 135 đến XĐGN hộ gia đình” là công
trình độc lập do chính tôi hoàn thành. Các tài liệu trích dẫn,
tham khảo sử dụng trong luận văn đều được ghi rõ nguồn, xuất
xứ nội dung.
Tác giả luận văn
Phan Văn Cương
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UNDP – Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
CT 135 (P135) – Chương trình 135
CSHT – Cơ sở hạ tầng
THCS – Trung học cơ sở
TTCX – Trung tâm cụm xã
NSTW – Ngân sách trung ương
XĐGN – Xóa đói giảm nghèo
UBDT – Uỷ ban Dân tộc
L Đ, TB &XH – Lao động, Thương binh và Xã hội
DT – Dân tộc ít người
DANH MỤC BẢNG BIỂU

2006 đến năm 2010) gồm có số liệu xã và số liệu hộ gia đình. Cỡ mẫu điều tra
là 5965 hộ gia đình được chọn từ 400 xã, trong đó có 266 xã đặc biệt khó
khăn đang thực hiện chương trình 135 giai đoạn II (gọi là nhóm hưởng lợi từ
chương trình) và 134 xã đã được đầu tư, mới ra khỏi diện xã đặc biệt khó
i
khăn của CT135-I (gọi là nhóm đối chứng), thuộc 43 tỉnh trên toàn quốc. Vì
vậy ở những xã đối chứng, không có gì là ngạc nhiên khi các chỉ số, thông tin
cơ bản của các xã này thường tốt hơn những xã thực hiện chương trình 135-II.
1. Những đóng góp chính của luận văn
1.1. Khái quát về chính sách và đánh giá chính sách XĐGN ở Việt Nam
Khái quát về phân tích chính sách và đánh giá chính sách XĐGN ở Việt
Nam được trình bày ở Chương I. Phần này luận văn đã hệ thống và khái quát
được các chính sách giảm nghèo ở Việt Nam. Trong đó phân tích những kết
quả đạt được, hạn chế của các phương pháp đánh giá chính sách giảm nghèo
đã và đang được thực hiện ở nước ta. Luận văn cũng đã phân tích, bối cảnh
tình hình, sự ra đời của chương trình XĐGN ở các xã vùng dân tộc ít người
đặc biệt khó khăn (chương trình 135), và các chính sách khác đang được đầu
tư ở vùng này.
Những kết quả này một phần giúp người đọc nhìn nhận rõ hơn bức
tranh toàn diện về các chính sách xóa đói giảm nghèo, thể hiện sự cố gắng của
Chính phủ Việt Nam trong cuộc chiến chống đói nghèo, đặc biệt là ở vùng
dân tộc ít người miền núi.
1.2. Phân tích, so sánh đặc điểm xã thực hiện chương trình 135 và
xã đối chứng
Phân tích và so sánh đặc điểm của xã thực hiện chương trình 135 và xã
đối chứng được trình bày ở Chương II. Trên cơ sở số liệu điều tra, phần này
luận văn phân tích và so sánh những đặc điểm cơ bản của hai nhóm xã về:
Nhân khẩu học; nghèo và điều kiện sống của hộ; thị trường lao động và nguồn
thu nhập; đặc điểm về sản xuất nông nghiệp; đặc điểm về cơ sở hạ tầng và đặc
điểm các dịnh vụ thiết yếu của hộ. Qua đây, giúp người đọc phần nào nhận ra

iii
dụng nước sạch cao hơn xã thực hiện chương trình, nhưng mức độ chênh lệch
là không lớn; Về chăm sóc sức khỏe, 48% số hộ gia không có đủ thuốc điều
trị bệnh khi bị ốm hoặc bị thương và tương đương với xã đối chứng. Ngoài ra,
khoảng 33% số hộ được phỏng vấn cho biết họ không có đủ tiền để đóng học
phí cho con đến trường ở cả hai nhóm xã. Kết quả cải thiện hai loại dịch vụ
này còn rất thấp, ở nhóm xã đã thực hiện chương trình. Điều này cho thấy,
chăm sóc sức khỏe và đầu tư giáo dục, nguồn nhân lực chưa được chương
trình quan tâm, đầu tư nhiều. Đặc biệt là chênh lệch về mức sống ở các nhóm
hộ là người dân tộc ít người và nhóm hộ là người Kinh và Hòa là khá lớn
Tham gia vào thị trường lao động và đa dạng hóa thu nhập có vai trò quan
trọng, tạo thu nhập, XĐGN. Số liệu điều tra cơ bản về tỷ lệ lao động có việc làm
trên địa bàn 02 nhóm xã cho thấy, giường như không có sự chênh lệnh lớn, trung
bình 71%-72% lao động có việc làm. Kể cả trong các nhóm hộ: Nghèo, không
nghèo và trung bình, tỷ lệ này cũng không chênh lệnh nhau nhiều.
Tham gia vào những hoạt động tạo thu nhập là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến mức sống của hộ gia đình. Số liệu từ từ điều tra cơ bản cho thấy ở
các xã thuộc chương trình, khoảng 70% số người trong độ tuổi có khả năng
lao động (trên 16 tuổi) tham gia vào thị trường lao động. Tỷ lệ này ở các xã
đối chứng cũng tương tự, có cao hơn chút ít là khoảng 71%.
Sản xuất nông nghiệp: các hộ thuộc Chương trình có trung bình 17.326
m2 đất nông nghiệp (40% đất sử dụng cho các cây trồng hàng năm, 40%
trồng rừng, 10% cho cây lâu năm, và 10% là các loại đất khác). Trong khi đó
ở các xã đối chứng tương ứng khoảng 14.703 m2; thu nhập từ hoạt động sản
xuất nông nghiệp hàng năm trung bình là khoảng 6,33 triệu đồng. Do nhóm
hộ gia đình dân tộc ít người chủ yếu tập trung trồng lúa và cây lương thực, hai
nhóm cây trồng này chiếm lần lượt là 46% và 41% tổng thu nhập từ trồng
trọt, và chiếm đến 40% thu nhập trung bình của hộ dân tộc ít người.
iv
Về cơ sở hạ tầng: Đây là một trong những nội dung quan trọng của

chứng tương ứng là 83%.
1.3. Xây dựng được mô hình để ước lượng tác động của chương
trình 135 đến hộ gia đình
Đánh giá tác động là một trong những thành phần của công tác đánh
giá các chính sách nói chung và chính sách XĐGN giảm nghèo nói riêng.
Thông thường khi đánh giá một chính sách, có các nội dung:
(1)Đánh giá nhu cầu: đối tượng mục tiêu là ai, bản chất vấn đề cần giải
quyết là gì, chương trình nằm trong khuôn khổ nào, hoạt động can thiệp có vị
trí như thế nào?
(2) Đánh giá quy trình: chương trình được triển khai thế nào trong thực
tế, các dịch vụ đã hứa được cung cấp chưa, dịch vụ có đến được đối tượng
mục tiêu không, khách hàng có hài lòng không? Đối với hai giai đoạn đầu tiên
này, văn hóa đánh giá có tồn tại. Những giai đoạn này được các cơ quan viện
trợ triển khai đều đặn một cách có hệ thống.
(3) Đánh giá tác động: liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi
đối với các cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các
đối tượng thụ hưởng của chương trình? Đánh giá tác động chính sách là một
trong những nội dung phức tạp, đặc biệt là sử dụng mô hình thống kê, toán
kinh tế để ước lượng kết quả, giúp các nhà quản lý nhìn nhận rõ vấn đề.
Luận văn đã thực hiện nội dung thứ 3, đánh giá tác động của chương
trình. Trong đó kết quả và đóng góp quan trọng của luận văn là đã xây dựng
được mô hình kinh tế lượng để ước lượng tác động của chương trình đến hộ gia
đình.
Cụ thể, luận văn sử dụng mô hình hồi quy logistic như sau:
vi
P(y) =
44332211
44332211
1
xbxbxbxba

Sau khi chạy mô hình hồi quy logistic, kết quả so sánh giữa nhóm xã
đang thực hiện chương trình và xã đối chứng với hệ số có ý nghĩa thống kê và
ý nghĩa thực tiễn, giúp cho các nhà quản lý nhìn nhận rõ hơn tác động của
chương trình 135 đến hộ gia đình.
Cụ thể là kết quả hồi quy cho thấy hộ gia đình không hài lòng về: Thực
trạng sản xuất dẫn đến thiếu lương thực nhưng ở xã đối chứng hộ gia đình bức
vii
xúc hơn đối với vấn đề này; thiếu tiền mặt làm cho các hộ gia đình ở cả hai
nhóm xã bức xúc, với mức độ như nhau. Tuy nhiên đối với nguồn tiền và sử
dụng tiền ở hai nhóm xã có mức độ phản ứng khác nhau của hộ gia đình. Đặc
biệt là hoạt động đào tạo nghề, không làm cho 2 nhóm xã hài lòng, chứng tỏ
chính sách này còn nhiều bất cập…
Ngoài ra để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến không hài lòng của hộ gia
đình, vẫn mô hình logistic với biến phụ thuộc là: Thiếu lương thực (m8c1a);
thiếu tiền mặt; thiếu tiền đóng; không đủ nước sạch; không đủ thuốc chữa
bệnh, luận văn chạy thêm các hồi quy phụ với 9 biến độc lập.
Kết quả chạy mô hình với biến phụ thuộc, biến độc lập như trên. Mức ý
nghĩa α = 0,1, sau một số bước chạy, mô hình hồi quy phụ cho thấy: ở xã đối
chứng số khẩu của hộ càng tăng thì mức độ thiếu lương thực càng tăng. Tuy
nhiên ở xã 135, biến số khẩu không có ý nghĩa, và loại khỏi mô hình, tức là
không có ảnh hưởng tác động đến việc thiếu lương thực của hộ. Thực trạng
này cho thấy, ở các xã đối chứng, xã đã được đầu tư chương trình 135, quy
mô hộ có ảnh hưởng lớn đến việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập,
XĐGN; Nguyên nhân dẫn đến thiếu tiền mặt chi tiêu trong gia đình là do số
người có việc làm gia tăng. Số người trong độ tuổi có việc làm càng tăng thì
dẫn đến thiếu tiền mặt càng lớn. Kết quả này phần nào cho thấy, mặc dù
thống kê có việc làm, nhưng thực chất công việc làm nông nghiệp, không tạo
ra tiền mặt ngay. Trong khi đó những người trong độ tuổi lao động, nhu cầu
chi tiêu, tiêu dùng cho cá nhân ngày càng tăng. Còn ở các xã đang thực hiện
chương trình, họ cho rằng yếu tố giới có ảnh hưởng đến việc kiếm tiền và chi

đầu để so sánh việc đánh giá kết quả chương trình vào năm 2010 (sau khi
chương trình kết thúc). Tuy nhiên cho đến nay, theo kế hoạch CT 135 giai
ix
đoạn II đã kết thúc, nhưng Ban Quản lý chương trình ở Trung ương và các
nhà tài trợ vốn vẫn chưa tiến hành điều tra cơ bản lại. Vì vậy chưa đủ cơ sở
dữ liệu để đối chiếu, so sánh giữa thời điểm trước và sau đầu tư, dẫn đến kết
quả của mô hình phản ánh chưa rõ nét tác động của chương trình đến đời sống
của hộ gia đình.
Các số liệu đầu vào kế thừa từ các cơ quan quản lý nhà nước (chủ yếu
là số liệu từ điều tra cơ bản 2007-2008), mà không có điều kiện nghiên cứu,
điều tra lại, để bổ sung, kiểm chứng độ chính xác của số liệu.
Để đánh giá tác động của chương trình XĐGN đến hộ gia đình có thể
sử dụng đồng thời hai phương pháp định lượng và định tính. Tuy nhiên do
điều kiện có hạn về thời gian, luận văn mới chỉ sử dụng phương pháp mô hình
để ước lượng kết quả, tác động của chương trình đến hộ gia đình.
x
TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN

PHAN VĂN CƯƠNG
MÔ HìNH ĐáNH GIá TáC ĐộNG CủA CHƯƠNG TRìNH 135
ĐếN XóA ĐóI GIảM NGHèO Hộ GIA ĐìNH
Chuyên ngành: ĐIềU KHIểN KINH Tế
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGÔ VĂN THứ
Hà Nội - 2011
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết
Trong suốt mười năm qua, mặc dù nguồn lực đất nước còn hạn chế,
nhưng Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, thực hiện giải pháp đồng bộ
để tấn công đói nghèo. Đến nay, kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo được

sách XĐGN nói chung và chương trình 135 nói riêng cũng bộc lộ nhiều hạn
chế, nhất là sự đa dạng, khác nhau về trình độ, văn hóa, phong tục tập quán
của đồng bào các dân tộc ít người nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Để có cơ sở điều chỉnh các chính sách cho phù hợp, các cơ quan chức
năng, tổ chức phi chính phủ đã nghiên cứu, đánh giá về các chính sách
XĐGN trên địa bàn vùng dân tộc ít người và miền núi nhằm tìm ra những
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Cho đến nay, nhiều công trình
nghiên cứu đánh giá về chính sách công nói chung và chính sách XĐGN nói
riêng nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam xây dựng, điều chỉnh các chính sách
về XĐGN như:
1) Báo cáo của Ngân hàng thế giới “Tấn công đói nghèo” (2000). Đây
là nghiên cứu của tổ chức phi chính phủ đánh giá toàn diện kết quả và các
chính sách XĐGN của Việt Nam trên phạm vi toàn quốc. Báo cáo có nhiều
nội dung, trong đó đã chỉ ra được những tác động tích cực của các chính sách
cũng như những điểm bất cập trong mỗi chính sách. Trong báo cáo này cũng
đề cập đến Chương trình 135, nhưng chỉ là một phần nhỏ.
2) Đánh giá chương trình XĐGN trong giai đoạn đầu thực hiện chiến
lược XĐGN 2001-2010, đã có nhiều nghiên cứu riêng cho từng địa bàn.
Trong năm 2002 có hàng loạt các nghiên cứu đánh giá nghèo có sự tham gia
2
của cộng đồng ở vùng dân tộc ít người ở: Ninh Thuận, Đồng Bằng Sông Cửu
Long, Hà Giang, Quảng Trị… do UNDP và một số các tổ chức quốc tế tài
trợ. Các nghiên cứu này được tiến hành đồng thời độc lập ở các địa bàn khác
nhau, mục đích là tìm ra những điểm đặc thù về nghèo ở những khu vực khác
nhau, đặc biệt là xem xét tính hiệu quả của chương trình, chính sách XĐGN
đang được thực hiện trên địa bàn.
Nhìn chung, các nghiên cứu về chính sách XĐGN ở giai đoạn này chủ
yếu tập trung vào xem xét, nhìn nhận, đánh gia kết quả chính sách, ít có
nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách đến đời sống của người dân.
Nếu có đánh giá thì các nghiên cứu cũng chưa theo quy chuẩn của khung

trình ngày càng hoàn thiện hơn.
Như vậy hiện nay chính sách XĐGN nói chung và chương trình 135
nói riêng đã có nhiều hoạt động nghiên cứu, đánh giá do các tổ chức, cá nhân
khác nhau thực hiện. Tuy nhiên các hoạt động đánh giá này chủ yếu sử dụng
phương pháp định tính, xem xét kết quả của dưới góc độ phản ứng của người
hưởng lợi đối với chương trình.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, để hiểu hơn về mức độ hưởng lợi
của các hộ gia đình từ chương trình 135, tác giả đề xuất đề tài: “Mô hình
đánh giá tác động của chương trình 135 đến XĐGN hộ gia đình” để bổ
sung thêm một số cơ sở lý luận, phương pháp định lượng bằng việc sử dụng
mô hình, khung lý thuyết vào việc đánh giá các tác động của chính sách công,
chính sách xóa đói giảm nghèo.
2. Mục tiêu đề tài
Xây dựng mô hình, lượng hóa, phân tích sự hài lòng của hộ gia đình
4
đối với Chương trình 135 và một số kiến nghị chính sách và phương pháp
đánh giá chính sách XĐGN.
3. Phạm vi, đối tượng
- Phạm vi nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả Chương trình 135 có nhiều nội dung cần thực hiện.
Trong khuôn khổ có hạn về điều kiện số liệu, đề tài chỉ dừng lại ở việc xây
dựng mô hình đánh giá, ảnh hưởng của Chương trình đến đời sống của hộ gia
đình. Xem xét sự hài lòng của hộ gia đình về một số nội dung của chương
trình đã thực hiện và đang thực hiện.
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: nội dung, mục tiêu, hoạt động và
kết quả của Chương trình; các xã, hộ đã và đang hưởng lợi từ chương trình.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa, phân tích các tài liệu thứ cấp
Để có cơ sở khoa học làm công cụ cho việc nghiên cứu, đề tài đã sử

- Đề tài góp phần cung cấp phương pháp ứng dụng mô hình toán, mô
hình kinh tế để đánh giá tác động, ảnh hưởng của chương trình chính sách
XĐGN, dưới góc độ xem xét đối tượng thụ hưởng chương trình (cụ thể trong
luận văn là hộ gia đình trên địa bàn 135 ).
- Đề tài góp phần giúp cho các nhà quản lý nhìn nhận rõ hơn kết quả
6
đạt được, hạn chế và mức độ ảnh hưởng của một số nội dung đầu tư trên cơ sở
sử dụng phương pháp đánh giá bằng mô hình thống kế, toán kinh tế.
7. Giới hạn, khó khăn khi thực hiện
- Về cơ sở dữ liệu: hiện nay dữ liệu sử dụng trong luận văn khi chạy mô
mình là Cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản đầu kỳ thực hiện CT 135 giai đoạn II
(2007-2008). Mục đích của bộ dữ liệu này là cung cấp cơ sở, thông tin ban đầu
để so sánh cho việc đánh giá kết quả chương trình vào năm 2010 (sau khi
chương trình kết thúc). Tuy nhiên cho đến nay, theo kế hoạch CT 135 giai đoạn
II đã kết thúc, nhưng Ban Quản lý chưa tiến hành điều tra cơ bản lại. Vì vậy cơ
sở dữ liệu để đối chiếu, so sánh chưa thật đầy đủ, nên kết quả của mô hình chưa
phản ánh rõ nét tác động của chương trình đến đời sống của hộ gia đình.
- Các số liệu đầu vào cần thu thập kế thừa từ các cơ quan quản lý nhà
nước (chủ yếu là số liệu từ điều tra cơ bản 2007-2008), mà không có điều
kiện nghiên cứu, điều tra lại, để bổ sung, kiểm chứng độ chính xác của số
liệu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 phần chính như sau:
Chương 1. Một số vấn đề chung về chính sách XĐGN và phương pháp
đánh giá
Chương 2. Phân tích đặc điểm của xã 135 và xã đối chứng
Chương 3. Mô hình đánh giá tác động của chương trình 135 đến
XĐGN của hộ gia đình
7
CHƯƠNG 1

thiếu đói ở các hộ gia đình nông dân hoặc một bộ phận dân cư phải sống dưới
mức tối thiểu như đã nói trên qua động thái các bữa ăn trong ngày của họ. Có
mấy biểu hiện: Thất thường về lượng: bữa đói, bữa no; Đứt bữa: Ngày chỉ ăn
một bữa hoặc bữa cơm, bữa cháo hoặc cả hai bữa đều không đủ năng lượng
tối thiểu chứ chưa nói tới chất dinh dưỡng cần thiết; đứt bữa kéo dài tới 1-2-3
tháng trong năm, nhất là thời kỳ giáp hạt. Hoặc nếu đo lượng calo thì thiếu
đói là tình trạng con người ăn chỉ ở mức 1500 calo/ngày, dưới mức đó là đói
gay gắt.
Tiếp đến là khái niệm nghèo. Về mặt kinh tế, nghèo đồng nghĩa với
nghèo khổ, nghèo túng, túng thiếu. Trong hoàn cảnh nghèo, người nghèo và
hộ nghèo phải vật lộn với những mưu sinh hàng ngày về kinh tế - vật chất,
biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn. Họ có thể vươn tới các nhu cầu về văn hoá -
tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất, gần
như không có. Điều này đặc biệt rõ ở nông thôn với hiện tượng trẻ em thất
học, bỏ học, các hộ nông dân nghèo không có khả năng để hưởng thụ văn hoá,
chữa bệnh khi ốm đau, không đủ hoặc không thể mua sắm thêm quần áo cho
nhu cầu mặc, sửa chữa nhà cửa cho nhu cầu ở… Nghèo là khái niệm chỉ tình
trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho ăn,
thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích luỹ hầu như không có. Các nhu cầu
tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, y tế, giáo dục, đi lại, giao
9

Trích đoạn Chương trình 135 giai đoạn 66,98 33,02 47.98 71,13 28,87 Nói được cả tiếng MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH 135 ĐẾN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO HỘ GIA ĐÌNH Phân tích kết quả mô hình Một số giải pháp đầu tư thực hiện chương trình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status