so sánh đặc điểm lâm sàng và kết quả xét nghiệm c.trachomatis bằng test nhanh - Pdf 23

B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI

NGUYN TH HN
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
ở phụ nữ nhiễm Chlamydia trachomatis
đến khám vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản
Trung Ương năm 2012
Chuyờn ngnh: Sn ph khoa
Mó s : 60.72.13
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
TS. Cung Th Thu Thy
H NI 2012
1
CHỮ VIẾT TẮT
ÂĐ : Âm đạo
ÂH : Âm hộ
BLTQĐTD : Bệnh lây truyền qua đường tình dục
BVPSTƯ : Bệnh viện phụ sản Trung ương
CTC : Cổ tử cung
CT : C.trachomatis (Chlammydia Trachomatis)
DCTC : Dụng cụ tử cung
EB : Elementary Body (Thể sơ khởi)
OR : Odds Ratio
PID : Pelvic Inflammatory Disease (Viêm vùng chậu)
RB : Reticulate Body (Thể lưới)
TC : Tử cung
VSNP : Vô sinh nguyên phát
VSTP : Vô sinh thứ phát
VTC : Vòi tử cung

3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hân
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, một vấn đề xã hội mà thế giới đang rất quan tâm, đó là các
bệnh lây truyền qua qua đường tình dục. Theo ước tính của WHO, mỗi năm
trên thế giới có tới 370 triệu trường hợp mắc bệnh lây truyền qua đường tình
dục. Trong đó, nhiễm Chlamydia chiếm tỷ lệ cao nhất: khoảng 89 triệu ca
nhiễm C.trachomatis, 62 triệu ca lậu, 12 triệu ca giang mai. Mặc dù tỷ lệ
nhiễm C.trachomatis chỉ chiếm khoảng 5% dân số nhưng viêm nhiễm sinh
dục do C.trachomatis để lại nhiều biến chứng nguy hiểm lâu dài đặc biệt là
trong lĩnh vực sản sinh sản [39],[78].
Triệu chứng lâm sàng của nhiễm C.trachomatis rất nghèo nàn, thường ở
dạng tiềm ẩn khó phát hiện, khoảng 50-70% nhiễm C. trachomatis không có
triệu chứng, ngay cả khi có biến chứng viêm vùng chậu cũng chỉ khoảng 25%
có triệu chứng. Do vậy bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị sớm
làm gia tăng lây lan bệnh và gây ra những biến chứng nghiêm trọng như viêm
tiểu khung, chửa ngoài dạ con, viêm vòi tử cung, ảnh hưởng đối với phụ nữ
mang thai đặc biệt hậu quả nặng nề nhất là vô sinh do viêm tắc vòi tử cung
[2],[11],[29],[34].
Số người nhiễm C.trachomatis trên thế giới ngày càng tăng. Năm 1990
có 5 triệu người nhiễm C.trachomatis, năm 1999 có 92 triệu người nhiễm, đến
năm 2001 đã có 300 triệu người nhiễm [55],[66]. Theo một điều tra của Mỹ ở
nữ, tuổi từ 15-25 đến khám phụ khoa có tới một phần ba nhiễm C.trachomatis
và mỗi năm có khoảng 3-4 triệu người nhiễm mới. Khoảng 40% phụ nữ

1.1.1. Lịch sử phát triển và phân loại
Chlamydia lần đầu tiên được Halberstacdter và Von Prowacek phát hiện
vào năm 1907. Năm 1910 Linder mô tả thể vùi CTC ở người mẹ của trẻ bị đau
mắt hột và của người vợ mà người chồng bị viêm niệu đạo không do lậu [34].
Năm 1938, C.trachomatis mới được phân lập đầu tiên từ túi phôi của
trứng đã thụ tinh. Sử dụng phương pháp miễn dịch huỳnh quang để phát hiện
kháng thể và phân loại được giới thiệu năm 1970 [32]. Vai trò của
C.trachomatis gây tắc vòi tử cung dẫn đến vô sinh đầu tiên được Paanoven
phát hiện năm 1979 và năm 1980 được khẳng định nhờ vào sự nuôi cấy phân
lập vi khuẩn và phản ứng huyết thanh dương tính với C.trachomatis ở bệnh
nhân vô sinh do tắc vòi trứng [55].
C.trachomatis thuộc họ Chlamydiaceae: có nhiều hình thái gây bệnh ở
người. Có 15 typ C.trachomatis, được chia làm 3 nhóm chính [11],[18],[33]:
+ Nhóm gây bệnh hạch sinh dục lymphogranuloma venereum (LGV).
Khi Chlamydia trachomatis ở typ này xuất hiện thì có nhiều tế bào cảm thụ
trên cơ thể người so với các typ khác [68].
+ Nhóm gây bệnh mắt hột, gây sẹo giác mạc có thể dẫn đến mù lòa.
+ Nhóm gây bệnh qua đường tình dục như: Viêm niệu đạo, viêm ÂĐ,
viêm tuyến Bartholin, viêm CTC, viêm vòi tử cung, viêm mào tinh hoàn,
viêm hạch sinh dục ở nam, Đặc biệt là typ D và K gây viêm CTC, gây viêm
VTC, làm hẹp, tắc VTC dẫn đến vô sinh.
7
1.1.2. Đặc tính sinh vật
C.trachomatis thuộc nhóm vi khuẩn gram (-), có kích thước nhỏ khoảng
2-10μm, có đặc điểm của vi khuẩn vì có màng tế bào, có nguyên sinh chất,
cấu tạo ADN và ARN, có men tổng hợp protein và nhạy cảm với kháng sinh.
Nhưng cũng có một số đặc điểm giống vi rút vì chúng không phát triển trên
môi trường nuôi cấy vi khuẩn mà phải ký sinh bắt buộc trong tế bào.
C.trachomatis chết ở nhiệt độ 600
0

truyền từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ. Đối với bệnh mắt hột do C.
trachomatis chủ yếu do tình trạng vệ sinh kém của người dân [2],[3],[43].
1.1.4. Dịch tễ học vi khuẩn C.trachomatis
Nhiễm C.trachomatis đã được quan tâm từ rất sớm và có rất nhiều
nghiên cứu đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới. Tình hình nhiễm
C.trachomatis ngày càng tăng. Theo tổ chức Y tế Thế giới, năm 1990 số
người nhiễm C.trachomatis là 50 triệu người, năm 1999 là 92 triệu người, đến
năm 2001 lên 300 triệu người. Mỗi năm có thêm 90 triệu người mới mắc
9
C.trachomatis trên toàn thế giới, trên 70% là viêm cổ tử cung [57],[77]
.
C.trachomatis là vi khuẩn thường gặp nhất và gây nên bệnh lây truyền qua
đường tình dục phổ biến nhất tại Mỹ, Anh, Thụy Điển, Đông Nam Nigeria và
các nước đang phát triển. Thống kê cho thấy tỷ lệ mắc C.trachomatis ở Mỹ
tăng từ 289,4/100.000 dân năm 2002 lên 347,8/100.000 dân năm 2006 [31],
[35],[37],[65].
C.trachomatis có thể gây viêm kết mạc mắt, viêm khớp, viêm phổi, gây
bệnh ở hệ sinh dục tiết niệu như viêm niệu đạo, viêm CTC, viêm tắc vòi tử
cung, viêm dính quanh gan
So với nam giới thì phụ nữ là đối tượng dễ bị nhiễm bệnh và bị ảnh
hưởng nhiều hơn bởi C.trachomatis. Hầu hết các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm
C.trachomatis ở nữ cao hơn ở nam. Năm 2006, tỷ lệ nhiễm C.trachomatis ở nữ
giới tại Mỹ là 515,8/100.000 dân còn nam giới là 173/100.000 dân [36].
Các yếu tố nguy cơ làm tăng nhiễm C.trachomatis bao gồm: Tuổi trẻ,
kinh tế xã hội thấp, nhiều bạn tình, tình trạng không kết hôn, tiền sử nạo hút
thai, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Sử dụng bao cao su có thể
đề phòng sự lây truyền của bệnh, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh [25],[41].
Nếu không được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ, 20- 40% nhiễm
C.trachomatis dẫn đến viêm vùng chậu và gây hậu quả như vô sinh, thai ngoài
tử cung, đau vùng chậu mãn tính. Nhiễm C.trachomatis làm tăng nguy cơ ung

hiện khi bạn tình đi khám có bệnh hoặc khi đã bị biến chứng viêm tiểu khung
(viêm phần phụ, viêm hố chậu), vô sinh hoặc chửa ngoài tử cung [2],[13],
[18].
11

Hình 1.2: Ảnh hưởng của Chlamydia trachomatis lên đường sinh dục nữ [48]
− Viêm CTC
Viêm CTC do C.trachomatis có biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc
không triệu chứng. Ra khí hư mủ nhầy màu vàng xanh 30-60% số trường hợp,
kèm theo đái khó 20-60% số trường hợp và ra máu 30% số trường hợp. Đặt
mỏ vịt đa số trường hợp có lộ tuyến CTC, CTC phì đại, phù nề, xung huyết,
dễ chảy máu khi chạm vào[27].
Chẩn đoán xác định viêm CTC dựa vào các triệu chứng ra khí hư, CTC
loét đỏ, không bắt màu lugol khi làm chứng nghiệm Schiller [2].
Viêm CTC ở bệnh nhân có nhiễm C.trachomatis chiếm tỷ lệ rất cao. Theo
nghiên cứu của Johanisson (1980) ở những phụ nữ đang điều trị BLTQĐTD có
tới trên 35% nhiễm C.trachomatis và viêm CTC chiếm 81% [53].
Nghiên cứu của Nguyễn Năng Hải (2004) tại bệnh viện Phụ sản trung ương
thấy tỷ lệ viêm CTC ở phụ nữ có thai có nhiễm C.trachomatis là 85,1% [9]
− Viêm niệu đạo
Hội chứng đái khó, đái mủ niệu đạo cấp tính. Bệnh nhân viêm niệu đạo
do C.trachomatis than phiền tiểu khó, tiểu buốt. Xét nghiệm có tăng số lượng
bạch cầu trong nước tiểu [13].
12
− Viêm tuyến Bartholin
C.trachomatis gây viêm xuất tiết ống tuyến Bartholin, tuyến Bartholin sưng,
đau, có mủ. Có thể viêm đơn thuần hoặc phối hợp với lậu.
− Viêm nội mạc tử cung
Có tới gần một nửa bệnh nhân viêm CTC và hầu hết bệnh nhân có viêm vòi
trứng có kèm theo viêm nội mạc tử cung. Nhiễm C.trachomatis khi mang thai

Vô sinh do VTC chiếm 20-25% các trường hợp vô sinh [20],[29].
Thường tắc hoàn toàn 2 vòi tử cung hoặc ở những phụ nữ chỉ tắc 1 vòi nhưng
vòi kia hỏng hoặc bị sẹo hoặc có ứ dịch vòi trứng. Viêm nhiễm vòi tử cung có
thể do lao, lậu, Chlamydia. Vi khuẩn gây viêm vòi tử cung hiện nay đang
được đề cập nhiều nhất là C.trachomatis là nguyên nhân đầu tiên gây viêm vòi
tử cung cấp hay mạn tính. Viêm vòi tử cung thường phối hợp với viêm CTC
và niêm mạc tử cung, có cả viêm nhiễm của buồng trứng và cạnh buồng
trứng. Là nguyên nhân chính gây biến chứng vô sinh và thai ngoài tử cung.
Chlamydia cũng có thể gây nhiễm trùng vòi tử cung mà không có bất kỳ triệu
chứng nào [1],[69].
Theo Ehret J.M nghiên cứu thực nghiệm trên lợn cho thấy tỷ lệ nhiễm
C.trachomatis ở giống cái là rất cao, là yếu tố quan trọng trong rối loạn cơ
quan sinh dục nữ [42].
14
Sự nhiễm C.trachomatis đơn thuần hay phối hợp là nguyên nhân gây vô
sinh. Theo Navarro nghiên cứu ở 162 phụ nữ vô sinh thấy tỷ lệ bệnh nhân có
kháng thể IgG kháng C.trachomatis là 62,3%. Kiểm tra 29 phụ nữ có tắc vòi
tử cung một hoặc hai bên đều có sự hiện diện của kháng thể IgG kháng
C.trachomatis. Ở nghiên cứu này đã đưa đến kết luận những phụ nữ có tiền sử
nhiễm C.trachomatis có nguy cơ tắc vòi tử cung cao gấp 4 lần những phụ nữ
không có bằng chứng nhiễm C.trachomatis [64].
Theo nghiên cứu của Semberova tại khoa phụ sản bệnh viện Charles,
Plzen ở Tiệp Khắc so sánh giữa nhóm phụ nữ vô sinh và nhóm chứng tác giả
đã đi đến kết luận mức độ cao của kháng thể kháng C.trachomatis và vô sinh
gây dính, tắc vòi tử cung [72].
1.3. Một số yếu tố nguy cơ nhiễm Chlamydia trachomatis
1.3.1. Tuổi
Tuổi được xem là yếu tố nguy cơ chính quan trọng nhất, nhiễm
C.trachomatis thường xảy ra ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, chiếm 75% các
trường hợp nhiễm trong cộng đồng Mỹ

đường tình dục.
Theo tác giả Trần Thị Lợi và cộng sự (2001) nếu người phụ nữ có quan
hệ với 2 bạn tình trở lên thì tỷ lệ nhiễm C.trachomatis tăng lên gấp 3 lần so
với phụ nữ chỉ quan hệ với 1 bạn tình [17]. Thái Ngọc Huỳnh Vân (2005)
nghiên cứu cũng thấy sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số bạn tình và
tình trạng nhiễm C.trachomatis[26]. Theo Levidioton (2005) nghiên cứu
16.834 phụ nữ và 1.035 nam kết luận rằng người trẻ tuổi, có bạn tình mới và
nhiều bạn tình trong vòng một năm là yếu tố nguy cơ tăng nhiễm
C.trachomatis [60].
1.3.4. Tiền sử đặt DCTC và uống thuốc tránh thai
Theo Nguyễn Thị Ngọc Khanh (2000) khi nghiên cứu 602 phụ nữ thấy
đặt DCTC chỉ liên quan đến nhiễm Bacterial vaginosis, không thấy mối liên
quan với nấm hay Chlamydia [15].
16
1.3.5. Tiền sử sản khoa
Theo Nguyễn Năng Hải (2004) nghiên cứu có thấy mối liên quan giữa tiền
sử sản khoa và nhiễm C.trachomatis, tỷ lệ cao ở nhóm đã đẻ và có nạo hút thai,
nhiễm C.trachomatis tăng lên theo số lần đẻ và số lần nạo hút thai [9].
Thái Ngọc Huỳnh Vân (2005) cũng cho thấy có mối liên quan giữa tiền
sử nạo buồng tử cung và tình trạng nhiễm C.trachomatis [26].
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm C.trachomatis với tiền
sử có can thiệp vào buồng tử cung theo nghiên cứu của Nguyễn Công Trúc
(2007) [25].
1.3.6. Tiền sử viêm nhiễm trùng đường sinh dục
Theo Nguyễn Thị Thanh Hải (2006) thấy rằng nhiễm C.trachomatis ở
nhóm phụ nữ có tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục cao hơn nhóm không có
tiền sử, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [10].
Bất kỳ người nào hoạt động tình dục có thể bị nhiễm Chlamydia. Số
lượng bạn tình càng nhiều, nguy cơ nhiễm trùng càng lớn. Bởi vì cổ tử cung
(mở vào tử cung) của các cô gái vị thành niên và phụ nữ trẻ không hoàn toàn

là 18,07% [4].
Tại khoa hiếm muộn bệnh viện Từ Dũ năm 2004, Đỗ Quang Minh và
Bùi Trúc Giang nghiên cứu trên 425 bệnh nhân vô sinh có 99 bệnh nhân
(23,3%) có kết quả dương tính với C.trachomatis [20].
Thái Ngọc Huỳnh Vân (2005) nghiên cứu tình hình nhiễm C.trachomatis
ở 42 bệnh nhân vô sinh có tắc hẹp vòi trứng tại Huế tỷ lệ này là 59,5%.
Nghiên cứu của Cao Ngọc Thành viêm dính do C.trachomatis phát hiện qua
nội soi chiếm 40%, Nguyễn Công Trúc (2007) cho thấy tỷ lệ nhiễm
C.trachomatis ở đối tượng đến khám phụ khoa là 14,1% [22],[25],[26]
18
1.4.2. Các nghiên cứu trên thế giới
Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 4-5 triệu người nhiễm mới C.trachomatis.
Năm 2004 là 929.462, năm 2005 là 976.445 ca, năm 2007 là 1.108.374.
Chlamydia là bệnh thường xuyên nhất được báo cáo bệnh lây truyền qua
đường tình dục vi khuẩn tại Hoa Kỳ. Trong năm 2009, 1.244.180 nhiễm trùng
Chlammydia được báo cáo với CDC từ 50 bang và quận Columbia. Ước tính
có 2,8 triệu ca nhiễm C.trachomatis xảy ra hằng năm ở phụ nữ Mỹ thường
xuyên bị tái nhiễm nếu các đối tác tình dục của họ không được điều trị [36],
[37],[75],
Theo Boseley S nghiên cứu ở Anh cho thấy năm 1996 có 32000
trường hợp nhiễm mới và tăng 11% so với năm trước và tăng gấp 2 lần
trong vòng 5 năm [31].
Levidiotou S và cộng sự nghiên cứu ở Greece năm 2005 bằng test
khuếch đại acid nucleic thấy tỷ lệ nhiễm C.trachomatis thấp 3,9% [60].
Riêng Trung Quốc hiện nay đang phải đối mặt với các bệnh lây truyền
qua đường tình dục, đặc biệt là nhiễm C.trachomatis [79].
Một nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy tỷ lệ nhiễm C.trachomatis ở gái
mại dâm là 19,8%, còn ở đối tượng có nguy cơ thấp là 3%. Trong đối tượng
mại dâm ở San Francisco, bao gồm cả nam, nữ và nữ chuyển giới, tỷ lệ nhiễm
C.trachomatis là 6,8% [38],[52].

chất lượng Giemsa, đòi hỏi phải luôn kiểm tra dung dịch đệm. Đối với nhuộm
iod chỉ cần 1 kính hiển vi thông thường tuy nhiên độ nhạy lại kém.
Phương pháp này ít được sử dụng vì hiệu quả thấp do bệnh phẩm lấy
được ít vi khuẩn, độ nhạy thấp, tỷ lệ dương tính giả cao [3],[11].
1.5.2. Nuôi cấy vi khuẩn
20
Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp nhuộm. Cấy
vào tế bào McCoy hoặc Hela 229. Quan sát sau 48 giờ nuôi cấy bằng kỹ thuật
miễn dịch huỳnh quang.
Phương pháp tốn kém, phải thực hiện ở các labo kỹ thuật cao, mất nhiều
thời gian, đòi hỏi vận chuyển bệnh phẩm lạnh để đảm bảo vi khuẩn còn sống
cho tới khi tiến hành nuôi cấy. Độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy thấp khoảng
80%. Do đó phương pháp này chủ yếu được dùng trong nghiên cứu khoa học,
ít được áp dụng trong thực tế lâm sàng, nhưng đây vẫn là tiêu chuẩn vàng
chẩn đoán C.trachomatis [3],[33].
1.5.3. Phương pháp miễn dịch
- Phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (Direct Fluorescent
Antibody- DFA):
Các kháng thể đơn dòng kháng kháng nguyên đặc hiệu loài được gắn
huỳnh quang. Phức hợp này sẽ gắn đặc hiệu với C.trachomatis có trong bệnh
phẩm. Kết quả được nhận định dưới kính hiển vi huỳnh quang, nếu có trên 10
hạt phát quang màu xanh lục trên 1 tiêu bản là dương tính. Cho kết quả sau 2
giờ. Độ nhạy cảm 85-90%, độ đặc hiệu khoảng 95% [33].
- Phương pháp miễn dịch men (ELISA: Enzyme Linked Immuno
Sorbent Assay): Tự động để phát hiện mầm bệnh. Phát hiện kháng nguyên vỏ
bằng kháng thể đơn dòng hoặc đa dòng được gắn emzym. Enzym làm thay
đổi màu sắc từ đó có thể xác định sự có mặt của C.trachomatis. Thích hợp cho
sàng lọc nhưng tỷ lệ dương tính giả cao và ít đặc hiệu. Độ nhạy 85%, độ đặc
hiệu 80% [28],[61].
- Test chẩn đoán nhanh miễn dịch sắc ký: Có nhiều loại như test

1.5.4. Phương pháp lai acid nucleic (ADN Probe)
Người ta sử dụng một ARN mồi đặc hiệu của C.trachomatis lai với ARN
trong bệnh phẩm. Nếu có sự tích hợp đặc hiệu thì ARN mồi sẽ kích hoạt quá
trình tổng hợp ADN. Trong môi trường lai đã có sẵn nucleotid phát quang,
ADN tổng hợp sẽ được phát hiện bằng quang kế. Phương pháp này có độ đặc
hiệu tương đối cao nhưng cũng phản ứng với chủng Chlamydia khác ngoài
C.trachomatis, ngoài ra xét nghiệm này đòi hỏi phải có dây chuyền vận
chuyển lạnh bệnh phẩm đến phòng xét nghiệm [58].
1.5.5. Phương pháp khuếch đại gen
Có nhiều phương pháp khuếch đại DNA nhưng hay sử dụng nhất là
phương pháp Polymerase Chain Reation (PCR)
PCR là sự tổng hợp ADN ngoài cơ thể, kỹ thuật này giúp nhân lên một
22
số lượng lớn đoạn ADN đích mà ta muốn nhân lên từ đoạn gen ban đầu có
trong bệnh phẩm. Với số ADN thu được sẽ dễ dàng phát hiện bằng các kỹ
thuật thông thường, giúp chẩn đoán một cách chính xác sự có mặt của
C.trachomatis có trong bệnh phẩm.
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về những ưu điểm của kỹ thuật
này với độ nhạy và độ đặc hiệu cao (95- 98%) thậm chí nó còn được xem là
tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán. Các tác giả đều thấy PCR có độ nhạy và độ
đặc hiệu cao hơn hẳn EIA. Tuy nhiên phương pháp này mới chỉ có ở một số
labo lớn vì quy trình phức tạp, đòi hỏi trang thiết bị, hóa chất đắt tiền [14],
[50],[58].
1.5.6. Phát hiện kháng thể
- Xác định kháng thể IgG kháng kháng nguyên giống Chlamydia có bản
chất là glyco-lipid trong huyết thanh người. Các kháng nguyên vỏ được gắn
vào các giếng. Khi các kháng thể kháng kháng nguyên này hiện diện trong
huyết thanh bệnh nhân chúng sẽ kết hợp đặc hiệu với kháng nguyên, sau đó
cho kháng kháng thể IgG lấy trong huyết thanh dê có gắn men peroxydase kết
hợp với chất tạo màu, nếu cho màu vàng là kết quả dương tính [62].

2
2
)2/1(
)(
)1(
ε
α
×

=

p
pp
n
Z
Trong đó:
n cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu.
* Cỡ mẫu của nhóm xét nghiệm C.trachomatis dương tính là: n
1
Z = 1,96. (Hệ số tin cậy ở mức α = 95%)
p = 0,39 là tỷ lệ nhiễm C.trachomatis ở phụ nữ vô sinh theo nghiên cứu
của Jorn Siemer [54].
q = 1- p
ε = 0,25 (Độ chính xác tương đối).
Thay vào công thức trên tính được n
1
= 96. Chúng tôi lấy cỡ mẫu là 100
đối tượng.
* Cỡ mẫu của nhóm xét nghiệm C.trachomatis âm tính để so sánh là n
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status