LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
ĐỀ TÀI: Thực trạng và giải pháp hạn chế rủi ro tín
dụng trong quá trình cho vay hộ nuôi cá tra –
basa tại VietinBank chi nhánh An Giang
1
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ
bản của ngân hàng. Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu
vào danh mục tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi
ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên
nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Vậy Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín
dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả
được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Như vậy có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các
mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, khách hàng là con nợ lại
không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến
hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển
nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của
ngân hàng. Đây còn gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là
loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
1.1.2 Phân loại
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân
chia thành các loại sau :
2
Rủi ro tín
dụng
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
- Rủi ro giao dịch : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt
cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi
ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn : là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và
phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có
hiệu quả để ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm : phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các
điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo
đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản
vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi
ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của
ngân hàng, được phân chia thành 02 loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có,
mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực
3
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn
của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay
quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp
hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một
vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
1.1.3 Đánh giá
Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng là :
1.1.3.1 Tỷ lệ nợ quá hạn
không thể đòi,…) là những khoản nợ mang các đặc trưng :
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi
các cam kết này đã hết hạn.
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu
dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi.
- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá
trị phát mãi không đủ trang trãi nợ gốc và lãi.
- Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90
ngày.
Theo Quyết định 149/QĐ-TTg ngày 05/01/2001 thì nợ xấu có thể
chia thành 03 nhóm :
● Nhóm 1 : Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có : Nợ tồn đọng ngân
hàng đã thu giữ tài sản dưới hình thức gán, xiết nợ; Nợ ngân hàng chưa thu
giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử, nợ có tài sản
đảm bảo đã quá hạn trên 360 ngày.
● Nhóm 2 : Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối
tượng để thu, gồm có : Nợ xóa thiên tai chưa có nguồn và còn hạch toán
5
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
nội bảng; nợ khoanh doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh doanh
nghiệp thuộc các vụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất…
● Nhóm 3 : Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn
tồn tại, đang hoạt động, gồm có : Nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ
tín dụng chính sách còn có khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày.
● Ngoài ra còn có nhóm nợ phát sinh sau ngày 31/12/2000, là những
khoản nợ không thu được nhưng không đủ điều kiện để khoanh, xóa.
Cũng từ cách phân loại nợ quá hạn theo thời gian như vậy nên phần
lớn nợ quá hạn ở nước ta đều là nợ xấu. Các khoản nợ xấu tồn tại hiện nay
ở các NHTM bao gồm :
+ Nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên.
1.1.3.3 Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số này cho thấy tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong tài
sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn
nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao. Thông thường, tổng dư nợ
cho vay của ngân hàng được chia thành 03 nhóm :
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu : là những
khoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao
cho ngân hàng. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư
nợ cho vay của ngân hàng.
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt : là những
khoản cho vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập
không cao cho ngân hàng. Đây là khoản tín dụng cũng chiếm tỷ trọng thấp
trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình : là
những khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập
7
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
mang lại cho ngân hàng là vừa phải. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng
áp đảo trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng nên ta có công thức sau :
Hệ số rủi ro tín dụng =
1.2 NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG
1.2.1.1 Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường
thế giới :
Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực
phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,…vốn rất nhạy cảm với rủi
ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới
biến động xấu. Điển hình như ngành Dệt may trong một số năm gần đây đã
vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài
nguyên quốc gia.
1.2.1.2 Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Sự kém hiệu quả của các cơ quan pháp luật cấp địa phương:
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều Luật liên
quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, Luật và các Văn bản
đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm
chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về
cưỡng chế thu hồi nợ. Những Văn bản này đều có quy định : Trong trường
hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý TSĐB nợ vay
để thu hồi nợ. Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân
hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước,
không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao TSĐB cho ngân
hàng để xử lý hoặc việc chuyển TSĐB nợ vay để Toà án xử lý qua con
đường tố tụng…cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM
không giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.
9
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra
ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về
chất lượng. Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu
cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra
ngân hàng còn chưa theo kịp. Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát
lạc hậu, chậm đổi mới. Vai trò kiểm toán chưa được phát huy và hệ thống
thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Thanh tra tại chỗ vẫn là
phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ hoạt động thị trường
kinh doanh cụ thể, khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai
mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy
nhiên, những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của
các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các khách hàng khác
Khả năng quản lý kinh doanh kém:
Khi khách hàng vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh,
đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít khách hàng nào
dám mạnh dạng đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát
kinh doanh, tài chính, kết toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh
phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản
của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên
thực tế.
Tình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé là đặc điểm chung của hầu hết
các khách hàng vay vốn Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ,
chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các khách hàng tuân
thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các khách
hàng cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn
là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các bảng phân tích tài chính của
11
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
doanh nghiệp dựa trên số liệu do các khách hàng cung cấp thường thiếu
tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn
luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng
chống rủi ro tín dụng.
1.2.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan :
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa
khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở
rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên, trong thời gian qua các NHTM chưa
thực hiện tốt công tác này. Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại gây
phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống
thông tin quản lý phục vụ kinh doanh của các khách hàng quá lạc hậu,
không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu.
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa
thật sự hiệu quả:
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho
vay hay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt
động tín dụng là không thể trách khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt
chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý
rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều
ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là
một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông
tin dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức
vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa
một ngân hàng nào.
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như
hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin
13
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
kịp thời, chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý.
Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin
còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời.
1.3 PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
1.3.1 Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho vay, bảo lãnh,
cho thuê tài chính, chiết khấu, bao thanh toán và bảo đảm tiền vay; xem
dụng các biện pháp kiên quyết, đúng pháp luật để thu hồi nợ vay, kể cả
việc xử lý TSTC, cầm cố và bảo lãnh, khởi kiện lên cơ quan tòa án.
1.3.7 Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ.
1.3.8 Bảo hiểm tiền vay, nghĩa là ngân hàng chuyển toàn bộ rủi ro cho
cơ quan bảo hiểm chuyên nghiệp.
1.3.9 Phải có một chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự
phòng để đối phó với rủi ro.
Kết luận chương I : Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều
nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Các biện pháp phòng chống rủi ro
có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biệp pháp
vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại
của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát
triển ở Việt Nam. Trong tầm tay của các ngân hàng, rủi ro tín dụng phụ
thuộc vào năng lực của cán bộ tín dụng trong việc phát triển và hạn chế rủi
ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay.
Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ tín dụng và
các nguồn lực của ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất.
15
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO
VAY HỘ CHĂN NUÔI CÁ TRA-BASA TẠI NGÂN
HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH AN GIANG
2.1 VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ
XÃ HỘI TỈNH AN GIANG
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên
An Giang là một tỉnh thuộc ĐBSCL, Phía Đông và Đông Bắc giáp
tỉnh Đồng Tháp; Phía Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường
biên giới dài gần 96,6 km; Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang;
Phía Đông Nam giáp Thành phố Cần Thơ. Diện tích tự nhiên của tỉnh là
ngành kinh tế chủ lực của tỉnh.
2.1.2 Về tình hình kinh tế - xã hội
Năm 2007 tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh tăng 13,73%, cao nhất
trong vòng 17 năm qua kể từ năm 1990, tăng 4,68% so với năm 2006,
đứng hàng thứ 5 trong các tỉnh ĐBSCL. Từ đó làm cho thu nhập của người
dân trong tỉnh tăng lên từ 9,6 triệu đồng/người (năm 2006) tăng lên 11,8
triệu đồng/người (năm 2007).
Về cơ cấu GDP theo từng lĩnh vực : Nông, Lâm, Thủy sản là
35,47%; Công nghiệp – xây dựng là 12,14% và Dịch vụ là 52,39%. Kim
ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 540 triệu USD, tăng 21,5% so với năm
2006 và vượt kế hoạch 20% (trong đó : gạo xuất khẩu đạt 502.000 tấn
tương đương 148 triệu USD bằng 91,6% về sản lượng và tăng 5,1% về kim
ngạch so với năm 2006, Thủy sản đông lạnh xuất khẩu đạt 125.000 tấn
tương đương 335 triệu USD tăng 20,2% về lượng và 31,2% về kim ngạch
so với năm 2006). Tỷ lệ hộ nghèo là 8,93% giảm 1,86% so với năm 2006.
Cụ thể :
17
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
Khu vực I (Nông lâm Thủy sản) : có mức tăng trưởng vượt bậc,
người dân trúng mùa, các mặt hàng nông sản được giá, xuất khẩu ổn định,
đời sống được nâng cao. Tốc độ tăng trưởng cả năm đạt 9,36% cao nhất
trong những năm gần đây. Ngành nông nghiệp có diện tích gieo trồng tăng
20.916 ha so năm 2006, sản lượng thu hoạch trên 3,1 triệu tấn, tăng 219
ngàn tấn so với năm 2006. Ngành thủy sản có mức tăng trưởng cao nhất
khu vực, đạt 26,97% so năm 2006, do nhu cầu tiêu thụ tăng, giá cả nguyên
liệu ổn định ở mức cao, lợi nhuận nhiều làm cho diện tích nuôi trồng ngày
càng mở rộng thêm, sản lượng thủy sản đạt 264.000 tấn, tăng 44,8% so
năm 2006.
Khu vực II (Công nghiệp – xây dựng) : sản xuất công nghiệp ổn
định và đạt ở mức tăng trưởng cao, tốc độ tăng trưởng năm 2007 tăng
là một pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế độc
lập, có các Chi nhánh là các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc.
- Giai đoạn thứ ba (từ tháng 09/1996 đến nay) : theo mô hình Tổng
Công ty Nhà nước, Ngân hàng Công thương Việt Nam được quản lý bởi
Hội đồng Quản trị, điều hành bởi Tổng Giám đốc, có các Chi nhánh là các
đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc (Chi nhánh cấp I).
2.2.1.2 Quá trình phát triển
Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong những Ngân hàng
Thương mại Nhà nước lớn của Việt Nam. Ngày nay, Ngân hàng Công
thương Việt Nam có hệ thống mạng lưới rộng khắp bao phủ các tỉnh, thành
phố trong cả nước. Ngoài ra, Ngân hàng Công thương Việt Nam còn có
các đơn vị trực thuộc như : Văn phòng đại diện Thành phố Hồ Chí Minh,
19
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
Trung tâm đào tạo, Trung tâm Công nghệ Thông tin, Công ty cho thuê Tài
chính, Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán, Công ty Quản lý và
Khai thác tài sản; tham gia cùng với các Tổ chức tín dụng nước ngoài lập
hai đơn vị liên doanh đầu tiên thuộc hệ thống tín dụng Việt Nam là
Indovina Bank và Công ty cho thuê Tài chính Quốc tế Việt Nam và góp
vốn một số liên doanh như Sài Gòn Công thương, Quỹ tín dụng nhân dân
Trung ương. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Việt Nam
đã và đang vươn xa ra thế giới thông qua mạng lưới hơn 600 Ngân hàng
đại lý trên khắp Châu Lục.
Khách hàng của Ngân hàng Công thương Việt Nam là các tổ chức
kinh tế kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây
dựng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại, du lịch, dịch
vụ,…và các khách hàng cá nhân tại các khu tập trung đông dân cư. Với
phương châm “Nâng giá trị cuộc sống” Ngân hàng Công thương Việt Nam
đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước và sự
thành đạt của các doanh nghiệp.
2.2.2.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức, bộ máy hoạt động
NHCT Chi nhánh An Giang hiện nay có cơ cấu bộ máy tổ chức bao
gồm : Giám đốc lãnh đạo điều hành mọi hoạt động của các Phòng và chịu
trách nhiệm trước Tổng Giám đốc NHCT Việt Nam.
Giúp việc cho Giám đốc NHCT Chi nhánh An Giang có 02 Phó
Giám đốc : 01 Phó Giám đốc phụ trách nguồn vốn và kinh doanh; 01 Phó
Giám đốc phụ trách kho quỹ, tài chính, thanh toán XNK cùng với 08
Phòng nghiệp vụ giúp việc cho Ban Giám đốc là : Phòng Khách hàng
Doanh nghiệp, Phòng Khách hàng Cá nhân, Phòng Kế toán giao dịch,
21
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
Phòng Tiền tệ Kho quỹ, Phòng Quản lý rủi ro và Nợ có vấn đề và Phòng
Tổ chức Hành chính.
2.3 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ XUẤT KHẨU
CÁ TRA-BASA
2.3.1 Khái quát về tình hình chăn nuôi và xuất khẩu cá tra-basa ở
Việt Nam
- Nuôi trồng thủy sản nói chung và chăn nuôi cá tra-basa nói riêng
đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hóa chủ
lực, phát triển rộng khắp, có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng
các vùng sản xuất tập trung. Một đối tượng có giá trị cao, có khả năng xuất
khẩu đã được tập trung đầu tư, khuyến khích phát triển, hiệu quả tốt. Phát
huy được tiềm năng tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong
doanh nghiệp và nông dân, đồng thời góp phần hết sức quan trọng cho
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp cũng như trong xóa đói giảm
nghèo. Chế biến xuất khẩu là mặt hàng phát triển rất nhanh, đã tiếp cận
được với trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới.
- Theo số liệu Báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Thủy sản, trong
giai đoạn 1990-2006, tổng sản lượng TSNT của Ngành Thủy sản Việt Nam
đã gia tăng nhanh chóng, từ 1 triệu tấn đã gia tăng lên gần 1,8 triệu tấn với
lại. Tất cả các thị trường trên đều tăng nhập sản phẩm cá tra-basa đông
lạnh từ VN trong năm vừa qua tạo điều kiện cho ngành chế biến cá tra-
basa có chiều hướng phát triển tốt.
- Theo dự báo của Bộ Công thương, năm 2008 xuất khẩu Thủy sản
của Việt Nam sẽ tiếp tục có mức tăng trưởng cao, tăng khoảng 13,3% so
với năm 2007, đạt giá trị khoảng 4,25 tỷ USD. Thị trường xuất khẩu cá tra-
basa chủ yếu của Việt Nam trong năm 2008 vẫn là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản
23
LuËn v¨n tèt nghiÖp Th¹c sÜ
và Hàn Quốc. Trong thời gian tới, ngành sẽ đẩy mạnh đa dạng hóa các thị
trường còn lại ở các nước ASEAN, Trung Quốc và các nước Đông Âu cũ.
- Theo đánh giá của các chuyên gia, nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản nói
chung và cá tra-basa nói riêng trên thế giới ngày càng tăng cao, tuy nhiên
doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chỉ đáp ứng được một phần nhỏ.
Đơn cử, nhu cầu nhập khẩu của Mỹ những năm gần đây khoảng 12 tỷ
USD/năm, trong khi xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 6,2% kim ngạch
nhập khẩu của Mỹ (tương đương 0,74 tỷ USD); thị trường EU nhập khẩu
khoảng 34 tỷ USD/năm trong khi xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 2,8%
kim ngạch nhập khẩu của khu vực này (tương đương 0,95 tỷ USD),…
Chính vì vậy, cơ hội xuất khẩu của ngành Thủy sản Việt Nam nói chung
và xuất khẩu cá tra-basa nói riêng là rất lớn.
- Đến năm 2007, cả nước có 332 cơ sở chế biến thủy sản. Từ 18
doanh nghiệp năm 1999, đến nay đã có 244 doanh nghiệp Việt Nam được
phép xuất khẩu vào EU và mới đây ngày 17/01/2008 Uỷ ban liên minh
Châu Âu (EU) đã ban hành thông báo D4/RM/agm D(2007)441851 công
nhận thêm 25 Doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam đủ điều kiện sản
xuất an toàn vệ sinh thực phẩm để xuất khẩu vào EU, nâng tổng số doanh
nghiệp Việt Nam được công nhận đến nay là 269 và những doanh nghiệp
mới được công nhận có thể xuất hàng vào EU từ 31/01/2008, 222 doanh
nghiệp được phép xuất khẩu vào Hàn Quốc. Bên cạnh các doanh nghiệp
NMCB với tổng công suất gần 2.200.000 tấn/năm. Nếu như năm 2005 kim
ngạch xuất khẩu là 303 triệu USD thì đến năm 2007 là 1.000 triệu USD
tăng gần gấp ba lần chỉ sau ba năm.
25