Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ năm 1996 đến năm 2006 - Pdf 23

MụC LụC
Trang
Mở đầu
3
Chơng 1
YấU CU KHCH QUAN V S LNH O
CA NG V PHT HUY BN SC VN HểA
DN TC TRONG NHNG NM 1996 - 2006
12
1.1
Yờu cu khỏch quan phỏt huy bn sc vn húa dõn tc
(1996 - 2006)
12
1.2
Ch trng ca ng v phỏt huy bn sc vn húa dõn
tc (1996 - 2006) 27
1.3 ng ch o phỏt huy bn sc vn húa dõn tc
(1996 - 2006) 40
Chơng 2 KT QU V KINH NGHIM T QU TRèNH
NG LNH O PHT HUY BN SC VN
HểA DN TC T NM 1996 N NM 2006
48
2.1
Kt qu lónh o phỏt huy bn sc vn húa dõn tc
ca ng (1996 - 2006)
48
2.2
Kinh nghim rỳt ra t quỏ trỡnh ng lónh o phỏt
huy bn sc vn húa dõn tc (1996 - 2006)
63
Kết luận

nhiên, quá trình đó cũng sẽ là hệ lụy mà dân tộc này có thể bị hòa tan, hay
trở thành cái bóng của dân tộc khác, tức là đánh mất bản thân mình và đánh
mất sức mạnh vốn có của chính dân tộc mình.
3
Việt Nam có nền văn hóa lâu đời và đậm đà bản sắc dân tộc, giàu tinh
hoa và giá trị cổ truyền. Quá trình hội nhập quốc tế đã tạo ra nhiều thuận lợi thúc
đẩy sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, sự hội nhập cũng
chứa đựng những nguy cơ làm mất dần bản sắc văn hóa, phá vỡ những giá trị
truyền thống của dân tộc. Không ít những sản phẩm văn hóa, những tư tưởng, lối
sống ngoại lai đang có nguy cơ làm băng hoại những gì làm nên tinh hoa, cốt
cách và bản lĩnh con người Việt Nam.
Hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, từng bước Đảng nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của văn hóa và
phát huy bản sắc văn hóa trong tiến trình phát triển. Đảng chủ trương tiếp
tục xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy giá
trị truyền thống tốt đẹp, đồng thời bổ sung những thiếu hụt trong hệ giá trị
của mình. Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, góp phần khắc phục những
nhận thức sai lệch về vai trò, vị trí của bản sắc văn hóa trong sự phát triển
của đất nước, bảo đảm nền văn hóa Việt Nam “hòa nhập” mà không “hòa
tan” theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ năm 1996 đến năm 2006” làm luận văn
thạc sỹ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là chủ trương lớn trong xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; có ý
nghĩa to lớn trong tiến trình hợp tác, phát triển của dân tộc Việt Nam.
Do đó đã thu hút nhiều cơ quan, các nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Tiêu biểu là các công trình khoa học:

Đảng, tập trung phân tích làm rõ khái niệm, bản chất, cấu trúc, chức năng, nội
dung của văn hóa; làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa với phát triển kinh tế- xã
hội, văn hóa với các vấn đề về chính trị, đạo đức, pháp luật phân tích làm
nổi bật vai trò, giá trị của văn hóa, những yêu cầu đặt ra về phát triển văn hóa
trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Tuy vậy, các công trình này
chỉ dừng lại ở những vấn đề lớn, phạm vi rộng của lĩnh vực văn hóa, chưa đề
cập trực diện, đầy đủ, chuyên sâu đến chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
trong lĩnh vực phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Song, đây là cơ sở, nguồn tư
liệu trực tiếp để tác giả kế thừa, định hướng nội dung, sử dụng số liệu để
thuyết minh cho các luận điểm trong đề tài và phục vụ quá trình nghiên cứu.
Nhóm các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí:
Nguyễn Phú Trọng, “Định hướng xã hội chủ nghĩa là văn hóa”, Tạp chí
Cộng sản, (Số 2),1995; Hồ Sỹ Vịnh, “Mấy ý kiến chung quanh vấn đề quản lý
và lãnh đạo văn hóa”, Tạp chí Cộng sản, (Số 4), 1995; Đỗ Huy, “Sự thay đổi
các chuẩn mực văn hóa khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị
trường”, Tạp chí Triết học, (Số 3), 1995; Nguyễn Khoa Điềm, “Nghĩ về văn
hóa và con người Việt Nam trước chặng đường mới”, Tạp chí Cộng sản,
(Tháng 4),1996; Lương Quỳnh Khuê, “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc văn hóa dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, (Số 3), 1997; Vũ Khiêu,
“Nội sinh và ngoại sinh trong giao lưu văn hóa ngày nay”, Tạp chí Sinh
hoạt lý luận, (Số 2), 1998; Nguyễn Văn Huyên, “Toàn cầu hóa và một số
vấn đề đặt ra đối với bản sắc văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản,
(Số18), 2001; Nguyễn Ngọc Quyến, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và
vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc”, Tạp chí Triết học (Số11), 2004;
Đặng Hữu Toàn, “Toàn cầu hóa, “nguy cơ tha hóa” và vấn đề định hướng
giá trị văn hóa tinh thần”, Tạp chí Triết học (Số 5), 2006 Các bài viết đã
6
tập trung luận giải, làm rõ sự cần thiết phải xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, khẳng định mục tiêu, tầm quan trọng
của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu “dân

Lê Văn Hòa (2003), Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân
tộc thiểu số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Luận văn
thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài đã khẳng
định sự cần thiết phải giữ gìn và phát huy nền văn hóa nói chung và giá trị
văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai nói riêng trong điều kiện kinh tế
thị trường, tác giả đã đưa ra được những giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy giá
trị văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia lai. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu
mới chỉ tập trung luận giải về lý luận, chưa đi sâu phân tích làm rõ nguyên
nhân, thực trạng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai.
Văn hóa và sự phát triển kinh tế- xã hội (1994), Chương trình KHCN
cấp Nhà nước KX -01-06, Hà Nội. Công trình khoa học nghiên cứu về văn
hóa và sự phát triển kinh tế- xã hội rất cơ bản và hệ thống, đã tập trung
phân tích làm sáng tỏ vai trò của văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa với
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Công trình khoa học đã thống kê,
cung cấp một hệ thống số liệu khách quan, chính xác và đã đề xuất
những nhóm giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa văn
hóa và phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên,
phạm vi của công trình khoa học chỉ giới hạn giải quyết mối quan hệ
văn hóa và sự phát triển kinh tế- xã hội. Vì vậy, chưa nghiên cứu sâu về
chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với việc phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc. Đây là nguồn tài liệu tham khảo để bổ sung, kiểm chứng
và đối chiếu những tài liệu mà tác giả sử dụng trong luận văn.
8
Nhóm các tác giả nước ngoài nghiên cứu các vấn đề có liên quan:
Echác Dôn (1987), Giá trị cuộc sống và giá trị văn hóa, Nxb Giáo
khoa Mác - Lênin, Hà Nội (Trần Văn Tạo dịch); V.Khajus Uolter, “Tự
do- thị trường tự do về giá trị con người”, Tạp chí Thông tin khoa học xã
hội, Số 4- 1994; Martin Wolf (1999), châu Á trong cơn lốc toàn cầu
hóa: Vì một sự điều tiết ở cấp toàn cầu, Viện Thông tin khoa học xã hội;

*Nhiệm vụ:
Luận giải yêu cầu khách quan Đảng lãnh đạo phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc từ năm 1996 đến năm 2006.
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc từ năm 1996 đến năm 2006.
Đánh giá thành tựu, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và rút ra kinh nghiệm từ quá
trình Đảng lãnh đạo phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ năm 1996 đến năm 2006.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động lãnh đạo của Đảng về phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
* Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc có nội hàm rất rộng, luận
văn chỉ tập trung nghiên cứu quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở một số nội dung: Lòng yêu nước, ý chí tự
cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức gắn kết cộng đồng cá nhân - gia đình
- làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, cần cù, sáng tạo trong lao động.
Về không gian: Quốc gia Việt Nam
Về thời gian: từ năm 1996 đến năm 2006. Tuy nhiên, để đạt được mục
đích nghiên cứu, luận văn còn đề cập đến một số vấn đề liên quan đến bản sắc
văn hóa dân tộc trước và sau mốc thời gian trên.
10
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng về văn hóa và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
*Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc
và kết hợp hai phương pháp đó, đồng thời còn sử dụng các phương pháp
khác: Phương pháp phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn, so sánh,

giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất
quán trong quá trình phát triển. Nhưng cũng có quan điểm khác lại coi bản sắc
dân tộc là một phạm trù rộng, bao quát một cách uyển chuyển, linh hoạt nhiều
đặc điểm của một dân tộc để tạo nên bộ mặt, hình dáng, cốt cách của dân tộc
ấy không đồng nhất với các dân tộc khác trong khu vực và thế giới.
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam:
Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền
vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn; lòng tự
tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân- gia đình-
12
làng xã- Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý; đức
tính cần cù sáng tạo trong lao động; là đức hy sinh cao thượng tất cả vì
độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự tế nhị trong cư xử, tính
giản dị trong lối sống [15, tr.10,11].
Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một
nền văn hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa một
dân tộc. Những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật
chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể. Các giá trị văn hóa này ra đời gắn với
chính điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai
đoạn phát triển khác nhau của một dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy, cho dù
có trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử, nó không những không mất
đi, mà cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái phù
hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn hóa
dân tộc mình. Bản sắc văn hóa là một “sức mạnh” nội tại của dân tộc. Nó là
hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này
qua đời khác, là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng
dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa. Vì vậy, văn hóa không
được “rèn đúc” trong lòng dân tộc để có bản lĩnh, trở thành sức mạnh tiềm
tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ mờ phai. Ngược lại, nếu văn

với “giữ gìn” và cho rằng “giữ gìn” là bảo toàn cái gì đã có, “phát huy” là làm
cho một cái gì đó tốt hơn. Thực ra, “phát huy” bao hàm cả “giữ gìn”. Phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là phát huy những đặc điểm tích cực,
những giá trị tốt đẹp của bản sắc văn hóa dân tộc, khắc phục và loại bỏ những
đặc điểm tiêu cực (không còn phù hợp) trong bản sắc văn hóa đó, đồng thời
14
bổ sung những đặc điểm mới, tiến bộ, phù hợp làm cho bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam ngày càng phát triển, phong phú và tốt đẹp hơn.
Quá trình xây dựng và phát triển đất nước, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc phải kết hợp với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái
hay, cái tiến bộ của các dân tộc khác. Đồng thời, phải đi liền với chống lạc
hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ. Phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam, chính là cách thức góp phần đưa đất nước ta phát triển và
hội nhập một cách nhanh chóng và vững chắc.
Vị trí, vai trò của phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bản sắc văn hóa dân tộc vừa khắc họa chân dung dân tộc, vừa tạo nên
những yếu tố nội lực quan trọng thúc đẩy dân tộc phát triển. Đánh mất “chân
dung ”của dân tộc tức là từ bỏ bản thân mình, lệ thuộc vào thế giới bên ngoài.
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ góp phần khẳng định nền độc
lập, tự chủ đích thực của dân tộc, là điều kiện góp phần đảm bảo cho dân tộc
Việt Nam hội nhập, hợp tác và phát triển.
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhằm để củng cố và phát triển ý thức
dân tộc, nâng cao lòng tự hào về truyền thống của dân tộc. Giúp cho thế hệ trẻ
hiểu được lịch sử, truyền thống dân tộc, khơi dậy niềm tin, xây dựng bản
lĩnh sống, đứng vững trước cám dỗ, những tác động tiêu cực từ bên
ngoài, phát huy mọi tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách của con
người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là cơ sở, điều kiện cần thiết để
khẳng định nguồn lực nội sinh, tạo lập những bước đi thích hợp, khai

nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc.
16
Phát huy tinh thần đoàn kết là sự đồng tâm, hợp sức của tất cả mọi
người Việt Nam vì lợi ích chung của dân tộc, vì độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội. Ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng - nước
được nhân dân ta kế thừa và phát huy trong xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối
sống mới. Đại đa số các tầng lớp nhân dân vẫn vì lợi ích chung, biết đặt lợi
ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Hàng loạt các cuộc vận động, các
phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động từ thiện như: “lá lành đùm lá
rách”, “giúp người gặp lũ lụt, thiên tai”, “hiến máu nhân đạo”, “vòng tay
nhân ái”, “ánh sáng văn hóa hè”, “mang ánh sáng cho người mù” đã được
nhân dân đồng tình ủng hộ. Thông qua các hoạt động này, đã xuất hiện nhiều
tấm gương sáng, con người mới, lối sống mới đáng trân trọng. Ở những làng
quê, tính cộng đồng, tình làng, nghĩa xóm vẫn được duy trì bền chặt. Hàng
xóm láng giềng chia sẻ với nhau những niềm vui trong lễ hội, cưới hỏi, sinh
nhật, tân gia, mừng thọ; và chia sẻ cùng nhau những nỗi buồn hay bất hạnh
của cuộc đời: ma tang, hỏa hoạn, bệnh tật
Thứ ba, về phát huy giá trị nhân ái, khoan dung, cần cù, sáng tạo
trong lao động.
Lòng nhân ái, khoan dung là một trong những giá trị của bản sắc văn
hóa dân tộc. Qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, lòng nhân ái, khoan dung
có những nội dung mới, song về cơ bản, nó vẫn giữ được nét đặc sắc riêng.
Trong nền kinh tế thị trường, điều đáng mừng là giá trị nhân ái, khoan dung
vẫn tiếp tục được nhân dân phát huy và nâng lên một tầm cao mới trong
xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống của mình. Truyền thống thương
người, cởi mở, khoan dung, thấm nhuần tinh thần lạc quan, tin tưởng vào
sự chiến thắng của chính nghĩa, sẵn sàng cưu mang những người gặp hoạn
nạn, khó khăn, bất hạnh đã được các tầng lớp nhân dân phát huy trong thời
kỳ mới. Từ thiếu nhi đến cụ già, từ học sinh tiểu học đến sinh viên, từ nhân
17

chống giặc ngoại xâm, làm nên những chiến công hiển hách, những kỳ tích
lịch sử để bảo vệ nền độc lập dân tộc, đưa đất nước phát triển. Sự cố kết cộng
đồng các dân tộc Việt Nam trên cơ sở lợi ích và địa lý, lịch sử đã tạo nên những
tư tưởng, tình cảm, phong tục, tập quán, lối sống của mỗi con người Việt Nam
và cả dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên truyền thống,
bản sắc “rất Việt Nam”. Trong đó, truyền thống yêu nước là những tư tưởng,
tình cảm cao quí nhất, thiêng liêng nhất, cội nguồn của trí tuệ và sáng tạo,
lòng dũng cảm của con người Việt Nam, đó cũng chính là “nền tảng”, chuẩn
mực đạo đức của dân tộc ta. Truyền thống đó là nguồn sức mạnh tinh thần to
lớn, cổ vũ và động viên con người Việt Nam vươn lên trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, có sự tham gia tích cực của nhân dân và những nỗ lực to lớn của
các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực phát huy bản sắc văn hóa.
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc- những giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc Việt Nam là trách nhiệm và quyền lợi của mọi cấp, mọi ngành, mọi
người và của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng,
quản lý của Nhà nước. Trong đó, sự tham gia tích cực đóng góp công sức, tiền
của, trí tuệ và trách nhiệm của mọi công dân, của lực lượng chuyên trách là yếu
tố quan trọng, bảo đảm giá trị bản sắc dân tộc phát triển mạnh mẽ và bền vững.
Nhờ có sự chỉ đạo thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, nhận
thức của mọi công dân và lực lượng chuyên trách về chủ trương, lợi ích,
quyền lợi đối đất nước ngày càng đầy đủ hơn, tích cực hưởng ứng, tham
gia các hoạt động, phong trào do Đảng, Nhà nước và các địa phương phát
động, tự nguyện rèn luyện, sống có trách nhiệm, nghĩa tình đây cũng là
hệ quả của phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong những năm qua.
19
Ba là, Đảng, Nhà nước có định hướng đúng đắn và từng bước hoàn
thiện cơ chế, chính sách về phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Với cách nhìn toàn diện về giá trị bản sắc văn hóa dân tộc. Đảng,
Nhà nước đã xác định rõ mối quan hệ giữa phát huy bản sắc văn hóa

thời trang kiểu Tây, hở hang, khêu gợi không phù hợp với thẩm mỹ truyền
thống dân tộc. Mặt khác, xu hướng bảo thủ, phục cổ trong xây dựng đạo đức,
lối sống do ảnh hưởng của nền văn minh nông nghiệp đến lối sống của con
người Việt Nam như chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa
bình quân, chủ nghĩa quan liêu, gia trưởng lối sống tùy tiện, thói quen manh
mún, tản mạn, được chăng hay chớ, tính kỷ luật yếu, xem thường pháp luật,
khả năng hợp tác trong công việc yếu đó là những “rào cản” lớn nhất trong
xây dựng đạo đức, lối sống mới.
Thứ ba, cơ chế chính sách còn nhiều thiếu xót, chậm được ban hành,
công tác quản lý về bản sắc văn hóa có mặt còn buông lỏng. Các cấp, các
ngành ở nhiều địa phương ít quan tâm đến việc tôn tạo, giữ gìn các di sản văn
hóa dân tộc, để nhiều di tích lịch sử bị xuống cấp nghiêm trọng, việc quản lý
các hoạt động văn hóa như: lễ hội, tham quan, du lịch còn nhiều lúng túng,
hiệu quả thấp. Tình trạng mê tín dị đoan trong nhân dân phát triển tràn lan,
nhiều phong tục, tập quán lạc hậu ở các địa phương, nhất là vùng đồng bào
dân tộc thiểu số như: cúng ma, tảo hôn chưa được đẩy lùi.
Nguyên nhân của hạn chế
Một là, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc còn hạn chế. “Trong khi tập trung sức vào nhiệm vụ kinh tế,
Đảng chưa lường hết những tác động tiêu cực nói trên, từ đó chưa đặt
đúng vị trí của văn hóa” [15, tr.52] còn thiếu những biện pháp cần thiết
21
trên cả hai mặt “xây” và “chống”; chưa có chiến lược về phát triển bản
sắc văn hóa cùng với các lĩnh vực khác; công tác nghiên cứu, tổng kết lý
luận về những giá trị truyền thống, mối quan hệ giữa truyền thống và hiện
đại về bản sắc văn hóa dân tộc còn hạn chế.
Hai là, nội dung, hình thức giáo dục về phát huy bản sắc văn hóa
trong sinh hoạt đảng và các đoàn thể còn hạn chế; việc xử lý những thành
phần thoái hóa, biến chất trong bộ máy Nhà nước chưa nghiêm. Công tác
quản lý còn có những biểu hiện buông lỏng, né tránh; cơ chế, chính sách

hóa phẩm độc hại lan tràn trên thị trường” [13, tr.52]. Mặt khác, đất nước
còn nghèo, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhưng nhu cầu
của nhân dân rất lớn, những điều kiện, phương tiện, vật chất bảo đảm để
phát huy bản sắc văn hóa Việt còn hạn chế. Đây là những khó khăn rất lớn
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam trong những năm qua.
1.1.3. Thời kỳ mới và những yêu cầu đặt ra cần phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc
* Đặc điểm của thời kỳ mới.
Cuối thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, tình hình thế giới
và trong nước có nhiều biến động mau lẹ và khó lường. Trên thế giới, cuộc
đấu tranh giai cấp, dân tộc vẫn diễn ra gay gắt và phức tạp giữa chủ nghĩa tư
bản với chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Trên lĩnh vực văn hóa,
đây là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa văn hóa truyền thống với văn hóa hiện
đại, giữa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của từng dân tộc với xu hướng
phát triển văn hóa của nhân loại. Đấu tranh giữa xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các luồng văn hóa phản động, lạc hậu, lai
căng Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra
23
cả những cơ hội và thách thức cho tất cả các quốc gia trên thế giới về phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Đối với Việt Nam sau 10 năm đầu đổi mới, đất nước đã giành được
những thành tựu to lớn bước đầu, đã ra khỏi khủng hoảng về kinh tế- xã hội;
đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị- xã hội ổn định;
quốc phòng -an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ ngoại giao được
mở rộng. Đây là tiền đề cần thiết cho phép đất nước chuyển sang thời kỳ mới,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
* Yêu cầu phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Thứ nhất, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là yêu cầu khách quan của
công cuộc đổi mới, của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội để chuyển giao vốn, chuyển giao khoa học
kỹ thuật, công nghệ, chuyển giao kỹ năng, kinh nghiệm tổ chức và phát triển
các ngành công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa, thúc đẩy quá trình dân chủ
hóa về thông tin toàn cầu, kích thích năng lực sáng tạo, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc. Đồng thời, hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cơ hội để mở rộng xuất,
nhập khẩu văn hóa phẩm, mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa, góp phần nâng
cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân
dân, và giới thiệu các thành tựu bản sắc văn hóa Việt Nam đến bạn bè quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế tác động vào tinh thần dân tộc, ý thức cộng đồng, kích
thích tinh thần dân tộc phát triển, thúc đẩy tinh thần cạnh tranh để nâng cao vị
thế bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam trong khu vực và cộng đồng quốc tế.
Thứ ba, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhằm hạn chế những tác
động tiêu cực của kinh tế thị trường và văn hóa phi truyền thống đến
truyền thống và con người Việt Nam.
25
Những khó khăn, thách thức nổi lên trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc
tế là sự tụt hậu về phát huy bản sắc văn hóa dân tộc so với tốc độ phát triển
của kinh tế và nguy cơ tạo ra sự chệch hướng về phát huy bản sắc văn hóa.
Mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là xây dựng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mục tiêu này đang bị nhiều cản
trở do tính thương mại của hoạt động văn hóa đang diễn ra một cách xô bồ,
hỗn loạn, không chỉ dừng lại ở suy thoái lối sống và đạo đức xã hội ở một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân, mà còn có nguy cơ làm biến
dạng cả mục tiêu, lý tưởng chính trị, vi phạm các nguyên tắc và chuẩn mực
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Sự phân hoá xã hội trên lĩnh vực văn hóa diễn ra mạnh mẽ cùng với
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đời sống văn hóa ở vùng nông thôn,
miền núi và của những nhóm xã hội nghèo so với các loại hình nghề nghiệp
có thu nhập cao khoảng cách ngày càng xa. Sức cạnh tranh của bản sắc văn
hóa dân tộc đối với các nền văn hóa trong khu vực và cộng đồng quốc tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status