Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
MỤC LỤC
SV: Lớp :
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới kinh tế, hệ thống cơ sở hạ
tầng của nước có sự phát triển đáng kể - trong đó có sự đóng góp của ngành xây
dựng cơ bản - một ngành mũi nhọn thu hút khối lượng vốn đầu tư của nền kinh
tế.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập tạo nên cơ sở hạ
tầng cho xã hội, tạo ra nền móng phát triển của mỗi quốc gia. Đứng trước xu thế
khu vực hóa, toàn cầu hóa, thị trường xây dựng cơ bản đang diễn ra một cách đa
dạng và phức tạp. Các doanh nghiệp luôn luôn đẩy mạnh tiến độ thi công, nâng
cao chất lượng công trình để nâng cao uy tín với các doanh nghiệp khác, và đó là
sự cạnh tranh trong thị trường xây dựng cơ bản.
Để kinh doanh có hiệu quả, có thể cạnh tranh được và đứng vững trong thị
trường đó, một biện pháp sống còn là các doanh nghiệp phải tiết kiệm chi phí sản
xuất, hạ giá thành sản phẩm song vẫn đảm bảo chất lượng cũng như tiến độ thi
công công trình.
Các thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm vì vậy trở lên vô
cùng quan trọng. Nó giúp cho các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể cũng như chi
tiết về các sự kiện đang phát sinh trực tiếp tại Công ty có ảnh hưởng đến kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và đưa ra các quyết định quản trị
đúng đắn và kịp thời.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là bộ phận cung cấp
thông tin này. Vai trò của việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm là rất quan trọng. Với doanh nghiệp thực hiện tốt công tác hạch toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là cơ sở để giám sát hoạt động,
từ đó khắc phục những tồn tại và phát huy những tiềm năng thế mạnh của mình,
không ngừng đổi mới hoàn thiện phù hợp với cơ chế tài chính hiện nay của nước
SV: Lớp :
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
Chương I
Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.1 Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập, giữ vai trò quan trọng
trong việc sản xuất vật chất mang tính công nghiệp, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật,
hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, một bộ phận lớn thu nhập quốc dân nói
chung, của quỹ nói riêng cùng với vốn đầu tư, tài chính hỗ trợ nước ngoài được
sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Cũng là ngành sản xuất vật chất, nhưng ngành xây dựng cơ bản mang
những đặc thù riêng biệt so với các ngành khác, vì vậy nó chi phối đến công tác
kế toán đòi hỏi kế toán xây dựng cơ bản phải tổ chức phù hợp với ngành nghề
của mình.
Hoạt động xây lắp ở doanh nghiệp xây dựng cơ bản được thực hiện thông
qua hình thức đấu thầu. Quá trình thi công xây dựng được chia làm nhiều giai
đoạn bao gồm nhiều công việc khác nhau. Mỗi công trình xây dựng cố định tại
nơi thi công vì thế lao động, vật tư, trang thiết bị phải di chuyển theo địa điểm
đặt sản phẩm và theo từng giai đoạn thi công.
Sản phẩm xây lắp là các công trình xây dựng, vật kiến trúc được gắn
liền với một địa điểm nhất định (bao gồm đất đai, mặt nước, mặt biển và thềm
lục địa). Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang
tính chất đơn chiếc, thời gian sử dụng lâu dài, giá trị lớn Những nét đặc thù
riêng có của ngành yêu cầu công tác tổ chức quản lý hạch toán cũng khác biệt so
với các ngành khác: sản phẩm xây lắp phải lấy dự toán làm thước đo, sản phẩm
xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư.
Mỗi công trình được tiến hành thi công theo đơn đặt hàng cụ thể, phụ
xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh
nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích hạ thấp chi phí, tăng cao lợi nhuận.
Trong ngành xây lắp nói riêng, giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí bằng
tiền để hoàn thành khối lượng sản phẩm xây lắp theo quy định. Sản phẩm xây lắp
có thể là kết cấu công việc hoặc giai đoạn công việc có thiết kế và tính toán
riêng, có thể là hạng mục công trình, công trình hoàn thành toàn bộ.
SV: Lớp :
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
Khác với doanh nghiệp sản xuất thông thường, người ta có thể tính giá
thành cho một loại sản phẩm được sản xuất ra trong kỳ và giá thành đơn vị của
sản phẩm đó để xác định giá bán. ở doanh nghiệp xây lắp, giá thành sản phẩm
mang tính cá biệt, mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp
sau khi hoàn thành đều có giá thành riêng. Hơn nữa, khi được nhận thầu một
công trình xây dựng thì giá nhận thầu đã có ngay trước đó. Như vậy, giá bán có
trước khi xác định giá thực tế của công trình, cũng có nghĩa là giá thành thực tế
quyết định tới lãi hoặc lỗ của công trình đó.
Với những lý do ở trên đủ để nhận thấy tầm quan trọng của việc cần phải
quản lý chặt chẽ, trung thực các khoản mục chi phí và giá thành sản phẩm, nhằm
đem lại hiệu quả kinh doanh tối đa cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, để tồn tại và
phát triển trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải
thường xuyên cải tiến mặt hàng nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất
lao động và hạ giá thành sản phẩm để tăng lợi nhuận và là tiền đề để hạ giá bán
tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Về mặt bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là biểu
hiện hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì đều
cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà
doanh nghiệp đã bỏ ra, nhưng khác nhau về mặt lượng.
Chi phí sản xuất là cơ sở để hình thành nên giá thành sản phẩm. Chi phí
được xếp vào một loại gọi là yếu tố chi phí mà không phân biệt chi phí đó phát
sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào.
Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam khi quản lý và hạch toán chi
phí sản xuất của các doanh nghiệp phải theo dõi được chi phí theo năm yếu tố,
bao gồm : Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao tài sản cố
định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí nguyên vật liệu: gồm toàn bộ các nguyên liệu, vật liệu chính, vật
liệu phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã
sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả, tiền trích bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân và nhân viên hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp .
- Chi phí khâu hao tài sản cố định: bao gồm toàn bộ tiền trích khâu hao tài
sản cố định sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp tính theo thông tư số:
203/2009/TT-BTC ban hành ngày 20/10/2009.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã
trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền bưu phí…
- Chi phí khác bằng tiền: bao gồm toàn bộ số chi phí khác dùng cho hoạt
động sản xuất ngoài gồm 4 yếu tố nêu trên.
Tác dụng của cách phân loại : cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng
loại chi phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng chi
phí sản xuất của doanh nghiệp. Là cơ sở để phân tích tình hình thực hiện dự toán
SV: Lớp :
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
chi phí sản xuất, cung cấp số liệu để lập thuyết minh báo cáo tài chính từ đó để
tính và tổng hợp thu nhập quốc dân
Phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành bốn khoản mục gồm :
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng
- Căn cứ vào phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ với đối
tượng chịu chi phí, chia chi phí sản xuất thành chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp.
- Căn cứ vào nội dung cấu thành của chi phí sản xuất thành chi phí đơn
nhất, chi phí tổng hợp
Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có tác dụng riêng phục vụ
cho từng yêu cầu quản lý và từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể.
1.3.2 Các loại giá thành trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.2.1. Căn cứ vào số liệu và thời điểm tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản xuất được chia thành ba loại: giá
thành dự toán, giá thành kế hoạch, và giá thành thực tế.
- Giá thành dự toán
Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công trình là giá thành công
tác xây lắp được xác định trên khối lượng công tác xây lắp theo thiết kế được
duyệt, các dự toán và đơn giá thành xây dựng cơ bản do cấp có thẩm quyền ban
hành và dựa theo mặt bằng giá cả thị trường. Nó chính là giá nhận thầu của đơn
vị xây dựng với đơn vị chủ đầu tư. Trong điều kiện hiện nay, để thi công một
công trình xây dựng các doanh nghiệp thường phải tham gia đấu thầu. Giá thành
dự toán công tác xây lắp thường được chia thành hai loại như sau:
Giá thành đấu thầu công tác xây lắp là loại giá thành do chủ đầu tư đưa ra
để tự tổ chức xây lắp căn cứ vào đó để xây dựng giá thành dự thầu của mình.
Giá thành hợp đồng công tác xây lắp: là loại giá thành dự toán ghi trong
hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và tổ chức xây lắp sau khi đã thỏa thuận giao
nhận thầu.
Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, thời gian thi công dài, sản phẩm mang
tính đơn chiếc do vậy mỗi cồng trình, hạng mục công trình đều có giá dự toán
riêng. Căn cứ vào giá trị dự toán của công trình ta có thể xác định được giá dự
toán của chúng:
SV: Lớp :
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
toán công tác
xây lắp
_
Mức hạ giá
dự toán
- Giá thành thực tế: Phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để thực hiện khối lượng công tác xây lắp.
Giá thành thực tế công tác xây lắp không chỉ bao gồm những chi phí trong
định mức mà còn có thể bao gồm những chi phí thực tế phát sinh không cần thiết
như chi phí phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất, hao hụt vật tư do những
nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp:
Giá thành thực tế
sản xuất của
SPXL =
Chi phí
sản xuất
dở dang
đầu kỳ
+
Chi phí
sản xuất
phát sinh
trong kỳ
_
Chi phí dở
dang cuối kỳ
1.3.2.2 Căn cứ vào phạm vi chi phí nằm trong giá thành
- Giá thành sản xuất : Gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho từng công trình, hạng mục công
Trong xây lắp, với tính chất quy trình công nghệ phức tạp, thuộc loại hình
sản xuất đơn chiếc, mỗi công trình hay hạng mục công trình đều có thiết kế
riêng nên đối tượng tập hợp chi phí có thể là công trình, hạng mục công trình
hay theo đơn đặt hàng tùy theo công trình và tổ chức xây lắp công trình cụ thể.
1.4.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
SV: Lớp :
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
Có hai phương pháp thường được sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất:
- Phương pháp tập hợp trực tiếp: Phương pháp này áp dụng trong trường
hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán
tập hợp chi phí sản xuất riêng biệt. Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát
sinh được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo mức độ
chính xác cao.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: áp dụng trong trường hợp chi phí sản
xuất liên quan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí, không tổ chức ghi chép ban
đầu chi phí sản xuất phát sinh riêng cho từng đối tượng được. Trong trường hợp
này, phải tập hợp chi phí sản xuất phát sinh chung cho nhiều đối tượng theo từng
nơi phát sinh chi phí. Sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để phân bổ
khoản chi phí này cho từng đối tượng chịu chi phí. Việc phân bổ được tiến hành
theo trình tự
Xác định hệ số phân bổ:
Hệ số phân
=
Tổng số chi phí cần phân bổ
Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân
bổ
Xác định mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng
C
i
bình quân gia quyền, hệ số giá Việc lựa chọn phương pháp thích hợp phụ thuộc
vào đặ điểm của từng doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo tính nhất quán giữa các
kỳ hạch toán.
Chi phí thực tế
nguyên vật liệu trực
tiếp trong kỳ
=
Trị giá nguyên
liệu vật liệu xuất
dùng
_
Trị giá nguyên vật
liệu còn lại cuối kỳ
chưa sử dụng
_
Trị giá
phế liệu
thu hồi
Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng
TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
SV: Lớp :
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
1.4.3 Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp trong hoạt động xây lắp là những khoản phải
trả cho công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp gồm tiền lương chính, lương phụ và
các khoản phụ cấp.
Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản
622- Chi phí nhân công trực tiếp.
mà hạch toán toàn bộ chi phí xây lắp trực tiếp vào tài khoản 621,622,627.
Không hạch toán vào tài khoản này khoản trích về bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, kinh phí công đoàn tính trên lương phải trả cho công nhân sử dụng xe,
máy thi công. Phần chi phí sử dụng máy thi công vượt trên mức bình thường
không tính vào giá thành xây lắp mà được kết chuyển ngay vào TK 632.
TK 623- chi phí sử dụng máy thi công, có 6 tài khoản cấp 2 :
Tài khoản 6231- Chi phí nhân công: dùng để phản ánh lương chính, lương
phụ, phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển xe, máy thi công, phục
vụ cho thi công. Tài khoản này không phản ánh các khoản trích BHXH, BHYT,
KPCĐ theo quy định hiện hành được tính trên lương của công nhân sử dụng xe,
máy thi công. Các khoản trích này được phản ánh vào chi phí sản xuất chung-
TK 627
Tài khoản 6232- chi phí vật liệu : Dùng để phản ánh chi phí nhiên
liệu( xăng, dầu, mỡ), vật liệu khác phục vụ xe máy thi công.
Tai khoản 6233- chi phí dụng cụ sản xuất : Dùng để phản ánh công cụ,
dụng cụ lao động liên quan tới hoạt động xe máy thi công.
Tài khoản 6234- Chi phí khấu hao máy thi công : Dùng để phản ánh khấu
hao máy móc thi công sử dụng vào hoạt động sản xuất sản phẩm.
SV: Lớp :
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
Tài khoản 6237- chi phí dịch vụ mua ngoài : Dùng để phản ánh dịch vụ
mua ngoài như thuê sửa chữa, bảo hiểm xe, máy thi công
Tài khoản 6238- Chi phí bằng tiền khác : Dùng để phản ánh các chi phí
bằng tiền phục vụ cho hoạt động của xe máy thi công.
Trình tự kế toán : (Biểu số 1.3)
Trường hợp không tổ chức đội máy thi công riêng biệt, thi công hỗn hợp
vừa bằng máy vừa bằng tay :
SV: Lớp :
16
Nợ TK 154 - Chi phí SXKD dở dang
Có TK 623 - Chi phí sử dụng máy thi công
SV: Lớp :
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
1.4.5. Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung phản ánh các chi phí liên quan đến việc quản lý
công trình trong phạm vi tổ, đội sản xuất thi công xây lắp bao gồm : Lương nhân
viên quản lý đội, khoản trích BHXH, BHYT,KPCĐ còn tính trên cả lương của
công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản
lý đội, khấu hao TSCĐ dùng cho phân xưởng, bộ phận sản xuất, chi phí sửa chữa
bảo hành công trình xây lắp
Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627-
Chi phí sản xuất chung, gồm 6 tài khoản cấp 2
TK 6271 Chi phí nhân viên phân xưởng
TK 6272 Chi phí vật liệu
TK 6273 Chi phí dụng cụ sản xuất
TK 6274 Chi phí khấu hao TSCĐ : Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng trực
tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, TSCĐ dùng cho hoạt động của tổ, đội sản
xuất.
TK 6277 Chi phí dịch vụ mua ngoài Phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ
cho hoạt động sản xuất của tổ, đội
TK 6278 Chi phí bằng tiền khác
Về nguyên tắc chung thì chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng
phân xưởng, bộ phận và đội công trình. Chi phí sản xuất chung của từng phân
xưởng, bộ phận, đội công trình được phân bổ cho cho công trình, hạng mục công
trình, bộ phận, đội đó thi công. Trường hợp chi phí sản xuất chung liên quan đến
nhiều công trình, hạng mục công trình, sản phẩm lao vụ, dịch vụ thì phải phân bổ
theo tiêu thức thích hợp như : Chi phí nhân công trực tiếp hoặc chi phí sản xuất
chung theo dự toán
từng đối tượng
=
Tổng chi phí
sxc
Tổng tiêu thức
phân bổ
x
Tiêu thức phân
bổ của từng đối
tượng
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
1.5. Đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ
Sản phẩm làm dở trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục
công trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng khối lượng công việc xây lắp
trong kỳ chưa được bên chủ đầu tư chấp nhận nghiệm thu và thanh toán.
Đánh giá sản phẩm làm dở là việc tính toán xác định chi phí sản xuất đã
phát sinh liên quan đến khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo nguyên tắc
nhất định.
Do đặc điểm riêng có của sản phẩm ngành xây lắp nên việc tính toán và
đánh giá sản phẩm làm dở trong sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào phương pháp
thanh toán khối lượng công tác xây lắp hoàn thành với đơn vị giao thầu ( chủ đầu
tư) như theo hợp đồng giao thầu quy định.
Muốn đánh giá được sản phẩm dở dang được chính xác trước hết phải tổ
chức kiểm kê chính xác khối lượng sản phẩm hiện có mà còn xác định được mức
độ hoàn thành sản phẩm.
Việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ có ý nghĩa to lớn cho việc tính
giá thành sản phẩm một cách khách quan và chính xác. Việc đánh giá sản phẩm
dở dang được tiến hành vào cuối kỳ sau khi đã tập hợp đầy đủ chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ. Vì trong quá trình tập hợp chi phí sản xuất không thể tập hợp
Ctk : Chi phí xây lắp thực tế phát sinh trong kỳ.
Chtdt : Chi phí ( hay giá trị) của khối lượng hay giai đoạn xây lắp hoàn thành
trong kỳ theo dự toán.
C
’
ckdt : Chi phí ( hay giá trị) của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ theo dự
toán tính theo mức độ hoàn thành.
1.6. Tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.6.1 Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, công việc, lao cụ do doanh
nghiệp sản xuất ra cần phải được tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên trong
toàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm của kế toán. Xác định đúng và phù
hợp với điều kiện, đặc điểm của doanh nghiệp sẽ giúp cho kế toán tổ chức mở sổ
kế toán, lập bảng tính giá thành sản phẩm một cách chính xác. Đồng thời giúp
SV: Lớp :
Cddck =
Cdk + Ctk
Chtdt + C
’
ckdt
x
C
’
ckdt
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
cho công tác quản lý và kiểm tra được tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý nội bộ doanh nghiệp.
Kế toán căn cứ vào điều kiện sản xuất của doanh nghiệp, các loại sản phẩm mà
cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành trong mỗi kỳ báo cáo và cách tính
lại đơn giản, dễ dàng.
Theo phương pháp này, tập hợp chi phí sản xuất trực tiếp cho một công
trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá
thành của công trình, hạng mục công trình đó.
Trong trường hợp công trình, hạng nục công trình xây dựng chưa hoàn
thành mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì
Giá thành thực tế CFSX
Khối lượng xây lắp = dở dang + thực tế phát sinh - dở dang
hoàn thành bàn giao đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Trong trường hợp chi phí sản xuất tập hợp theo công trường hoặc cả công
trường nhưng giá thành thực tế phải tính riêng cho từng hạng mục công trình thì
kế toán có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ số kinh tế kỹ thuật
đã quy định cho từng hạng mục công trình để tính giá thành thực tế cho hạng
mục công trình đó.
Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau
nhưng thi công trên cùng một địa điểm do một công trường đảm nhiệm, kế toán
không có điều kiện theo dõi, quản lý riêng các loại chi phí khác nhau thì chi phí
sản xuất đã tập hợp được phân bổ cho từng hạng mục công trình theo những tiêu
chuẩn thích hợp với hệ số kinh tế kỹ thuật cho từng hạng mục công trình.
Hệ số phân bổ được xác định như sau:
Tổng chi phí thực tế của cả công trường
H = x 100%
Tổng dự toán của cả công trình
Khi đó giá thành thực tế của từng hạng mục công trình là:
Giá thành hạng mục = Giá dự toán của hạng mục đó x Hệ số phân bổ
1.6.3.2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhận thầu xây
lắp theo đơn đặt hàng và khi đó đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành là
SV: Lớp :
Giá th nh à
định mức của
sản phẩm
xây lắp
+
_
Chênh lệch
do thay đổi
định mức
+
_
Chênh
lệch do
thoát ly
định mức
Giá th nh à
thực tế của
sản phẩm
xây lắp
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Học viện Tài chính
đổi định mức ít xảy ra chỉ khi nhà nước thay đổi định mức thì mới phát sinh chênh
lệch này.
Ngoài các phương pháp đã trình bày ở trên, trong các doanh nghiệp xây
lắp còn có thể áp dụng các phương pháp tính giá theo hệ số, theo tỷ lệ…
Trên đây chỉ là những lý luận chung còn trên thực tế các doanh nghiệp phải lựa
chọn phương pháp cụ thể cho việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
1.6.4 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong
điều kiện khoán