ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄ N THANH KHƢƠNG
ĐÁNH GIÁ KẾ T QUẢ TRỒ NG RƢ̀ NG DỰ ÁN 661
GIAI ĐOẠ N 1998-2010, HUYỆN TIÊN YÊN
TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngà nh: Lâm họ c
M s: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
đã và đang thực hiện điển hình như: Dự án PAM, Chương trình 327, Dự án
trồng rừng Việt – Đức (KfW)…Đặc biệt là Chương trình trồng mới 5 triệu ha
rừng theo Nghị quyết số 08 ngày 5/2/1998 của Quốc hội khoá X thông qua và
được Thủ tướng Chính phủ cụ thể hoá bằng quyết định số 661/QĐ-TTg ngày
29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ với số vốn lên tới 31.650 tỷ đồng. Dự án
đã được triển khai trên cả nước, với khoảng 700 dự án cơ sở. Qua 13 năm
thực hiện dự án, những nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ, phát triển rừng
của địa phương và người dân đã có những bước chuyển biến tích cực, độ che
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn3
phủ rừng đã được tăng lên qua các năm, môi trường sinh thái, nguồn sinh thủy
được cải thiện đáng kể, tạo thêm việc làm tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo,
phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là khu vực miền núi, vùng cao;
Tiên Yên là một huyện miền núi nằm ở phía đông của tỉnh Quảng Ninh,
cách thủ đô Hà Nội khoảng 240 km. Gồm 01 thị trấn và 11 xã. Tài nguyền
rừng của Tiên Yên có tính đa dạng cao. Độ che phủ của rừng đến năm 2010 là
52,8%. Diện tích tự nhiên chủ yếu là đất lâm nghiệp, mật độ dân cư thưa nằm
rải rác tại các thôn, bản, trình độ dân trí thấp, thành phần dân tộc đa dạng, tập
quán canh tác lạc hậu. Hoạt động sản xuất Nông lâm nghiệp là chính do vậy
đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn.
Dự án 661 được triển khai tại huyện Tiên Yên từ năm 1998 với mục
tiêu bảo vệ diện tích rừng hiện có, tăng độ che phủ của rừng, góp phần đảm
bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, sử dụng
có hiệu quả diện tích đất trống đồi núi trọc tạo thêm nhiều việc làm cho người
lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Kết quả và ý nghĩa mà dự án 661 mang lại trong việc xây dựng và phát
triển rừng trồng phòng hộ là rất lớn đối với huyện Tiên Yên, tuy nhiên, cho
đến nay chưa có một công trình nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện và
được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó.
+ Dự án là quá trình phát triển có kế hoạch, được thiết kế nhằm đạt
được mục tiêu cụ thể với khoản ngân sách xác định trong thời gian xác định.
Thông thường thì trong vòng 3 năm hoặc 5 năm sau khi kết thúc dự án
thì các Bộ hay Công ty độc lập sẽ tiến hành đánh giá dự án. Tâm điểm là đánh
giá tác động và tính bền vững của dự án so với mục tiêu ban đầu. Trong sổ tay
hướng dẫn Giám sát đánh giá của Ngân hàng thế giới cũng đã đưa ra nhiều
khái niệm và phương pháp đánh giá tác động cho các dự án. Tuy nhiên, tất cả
chỉ mang tính khái quát chung chung do đó việc áp dụng các lý thuyết và
hướng dẫn này cũng cần phải linh hoạt [56].
Trong quá trình thực hiện dự án, hoạt động đánh giá có thể được tiến
hành vào những giai đoạn quan trọng, thường gọi là đánh giá giai đoạn
(Gittinger 1982). Có nhiều tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành
đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan mà quan trọng nhất là người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5
hưởng lợi từ dự án (Theo Katherine Warnerm, Auguctamolnar jonh B.
Raintree, 1989-1991) [51].
Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở
đánh giá hiệu quả dự án trong đó có hiệu lực thực thi. Từ sau năm 1990 các
hoạt động đánh giá được thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tác động dự án,
tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc
không (John et al, 2000). Hiện nay, việc đánh giá tác động được coi như bắt
buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá, bao gồm tất cả các thay đổi về
sinh thái, văn hoá - xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi
các hoạt động của một chương trình, dự án.
FAO (1979) đã xuất bản tài liệu “Phân tích các dự án Lâm nghiệp” do Hans
M - Gregersen và Amoldo H. Contresal biên soạn. Đây là tài liệu giảng dạy dùng
địa lý khác nhau.
Việc nghiên cứu định lượng ảnh hưởng của các yếu tố tới xói mòn đất
lần đầu tiên được V.A. Sing (1940) đưa ra khi tìm cách xác định ảnh hưởng
của chiều dài sườn dốc (L) và độ dốc (S) đến hoạt động của xói mòn. Sau đó
Smith D.D (1941) đã xác định lượng đất xói mòn cho phép và lần đầu tiên đã
đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố cây trồng (C), cũng như việc áp dụng các
biện pháp bảo vệ đất (P) ở các mức độ khác nhau đến xói mòn đất bằng các
công trình nhân tạo. Tiếp đó, nhiều phương trình dự báo xói mòn đã được
nghiên cứu và công bố, trong đó phương trình của Wischmeier W.H - Smith
D.D đã được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi.
Lượng nước mưa giữ lại trên tán là một trong những chỉ tiêu phản ánh
khả năng giữ nước, từ đó ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng. Các
công trình nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lượng nước mưa giữ lại trên tán lá rừng
lá kim ôn đới chiếm tới 20 - 40% (Vương Lễ Tiên và Lý Á Quang, 1991 [36]).
Những nghiên cứu về tỷ lệ lượng mưa ngăn giữ bởi tán rừng ở các kiểu thảm
thực vật rừng tương ứng với các đới khí hậu khác nhau ở Trung Quốc cho
thấy, phạm vi biến động của tỷ lệ lượng mưa bị ngăn giữ lại trong khoảng
11,4 - 34,3%, hệ số biến động 6,68 - 55,05%, trong đó tỷ lệ lượng nước mưa
giữ lại trên tán rừng lá kim thường xanh á nhiệt đới, trên núi cao ở miền Tây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7
là lớn nhất, của rừng hỗn giao cây lá rộng thường xanh với cây lá rộng rụng lá
á nhiệt đới, miền núi là nhỏ nhất (Vu Chí Dân - Christohp Peisert - Dư Tân
Hiểu, 2001 [5]).
Vật rơi rụng có khả năng ngăn giữ nước tương đối lớn, nên có tác dụng
bổ sung nước cho đất và cung cấp nước cho thực vật (Vu Chí Dân & Vương
Lễ Tiên, 2001 [6]). Ngoài ra, do vật rơi rụng có những lỗ hổng lớn và nhiều
hơn so với đất, nên lượng nước ngăn giữ lại dễ dàng bốc hơi đi. Những
các băng rừng đã chặt.
Biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ ven biển cũng được quan
tâm nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu của V.A Lômitcôsku (1809),
Dokuchaep (1982), X. A Timiriazep (1983, 1909, 1911) đều cho rằng trên các
hoang mạc muốn cải thiện tiểu khí hậu và cải tạo đất phải trồng rừng phòng
hộ thành hệ thống đai theo mạng lưới ô vuông, có kết cấu kín, có hỗn giao
nhiều tầng. Ở Trung Quốc và các nước Trung Đông, miền Đông và Tây Châu
Phi thì Phi lao được coi là loài cây chủ đạo trồng trên các vùng cát thành các
hệ thống đai có chiều rộng ít nhất ít nhất 100 - 200 m. Sau đai rừng Phi lao là
các đai rừng hỗn giao hoặc thuần loài của Bạch đàn, Keo, Thông nhựa, phía
trong cùng sau các đai rừng dùng để canh tác nông nghiệp.
1.1.4. Các chính sách tổ chức, quản lý rừng phòng hộ
Từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị
giảm sút nghiêm trọng, môi trường sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền
núi bị đe doạ thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích
hợp nữa. Người ta đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua
việc ban bố một số chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia
quản lý và sử dụng tài nguyên rừng. Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay
lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần dần biến thái thành
các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội
(Nêpan, Thái Lan, Philippin, ) [34].
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học
cũng đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng
như: Các nhà lâm học Đức (G.L.Hartig - 1840; Heyer - 1883; Hundeshagen -
1926) [55] đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại
đồng tuổi; Các nhà lâm học Pháp (Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley -
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn9
10
lĩnh vực trước và sau dự án. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác
động tích cực mà chưa đi sâu phân tích những tác động tiêu cực của dự án.
Dự án “Đánh giá tác động môi trường Lâm nghiệp Việt Nam qua một
số mô hình liên kết quản lý rừng cộng đồng tại Yên Bái và Hà Giang” cũng
đã có các nghiên cứu đánh giá chính sách Lâm nghiệp thông qua các mô hình
liên kết quản lý rừng tại hai tỉnh miền núi phía Bắc và cũng có những kết luận
và kiến nghị để có thể duy trì các thành công của dự án: (i) rà soát lại các quỹ
đất rừng do Lâm nghiệp quản lý (ii) rà soát lại các hợp đồng khoán QLBV,
khoanh nuôi và trồng rừng do các đơn vị kinh doanh quản lý (iii) kết hợp chặt
chẽ chức năng phòng hộ với chức năng sản xuất (iv) có chính sách cho người
hưởng lợi từ khi được giao đất giao rừng hay khoán BVR và trồng rừng (v)
phát triển thị trường lâm sản địa phương (vi) xây dựng quỹ bảo vệ và tái tạo
rừng của thôn bản (vii) khẳng định vị trí pháp lý của cộng đồng thôn bản để
quản lý sử dụng rừng như những chủ thể khác [1].
1.2.2. Nghiên cứu xói mòn đất và thủy văn rừng
Nghiên cứu về xói mòn đất là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây
dựng rừng phòng hộ đầu nguồn. Ở nước ta vấn đề này được nhiều tác giả rất
quan tâm. Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) [18] thì vấn đề xói mòn đất đã bắt
đầu được quan tâm ở nước ta từ trước những năm 1954, bước đầu mới chỉ là
những biện pháp chống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè
cống.
Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói
mòn đất và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và
công nghiệp, đặc biệt là ở các tỉnh vùng Tây Nguyên. Trong thời gian này
nhiều khu nghiên cứu quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch
và xi măng, gỗ, kim loại, Hàng loạt công trình mang nhiều sắc thái và đi vào
định lượng như công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ, Quách Cao
3
nước, do đó không đảm bảo nước cho sản xuất nông
nghiệp trên diện tích 6 nghìn ha.
Các nghiên cứu của Bùi Ngạnh và Nguyễn Danh Mô (1977) [19]; Bùi
Ngạnh và Nguyễn Ngọc Đích (1985) [20] cho thấy sự thay đổi dòng chảy mặt
ở một số dạng rừng khác nhau, trên cơ sở đó các tác giả đã đề xuất những mô
hình bố trí các đai rừng giữ nước trên sườn dốc. Năm 1981, Lê Đăng Giảng
và Nguyễn Thị Hoài Thu (1981) [9] đã tổng kết kết quả nghiên cứu về khả
năng giữ nước, điều tiết dòng chảy của rừng thứ sinh hỗn giao lá rộng tại núi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn12
Tiên, Hữu Lũng, Lạng Sơn. Các tác giả đã đề nghị việc xây dựng và thiết kế
rừng phòng hộ ở các triền sông phải phát huy được khả năng giữ nước cao
nhất của nó trong những thời điểm lượng mưa mùa tập trung cao.
Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) [12], Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại
Hải (1997) [17] cho thấy vai trò điều tiết nước, chống xói mòn đất của rừng
rất lớn: lượng nước mưa bị tán rừng ngăn cản dao động từ 5,75 - 11,6% tùy
thuộc vào từng loại rừng; lượng nước tạo thành dòng chảy ngầm và các dạng
khác từ 88,2% - 92,5% tổng lượng nước mưa; lượng nước tạo thành dòng
chảy bề mặt ở những nơi có rừng rất thấp, qua đó hạn chế khả năng hình
thành lũ và lũ quét. Một thành quả được thể hiện rõ nét qua công trình nghiên
cứu này là việc xác định cấu trúc hợp lý của thảm thực vật rừng chống xói
mòn đất. Hai tác giả đã xây dựng được bảng tra hệ số thảm thực vật (hệ số C)
tương ứng với đặc điểm và cấu trúc của một số thảm rừng. Đỗ Đình Sâm, Ngô
Đình Quế và Vũ Tấn Phương (2002) [30] đã đưa ra dẫn liệu lưu lượng dòng
chảy tại nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với khu vực canh tác nông
nghiệp, rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn rừng trồng trong việc giảm dòng
chảy mặt; dòng chảy kiệt ở nơi có rừng cao hơn ở nơi không có rừng.
Tiên - Đà Lạt. Đây đều là các đối tượng rừng sau khai thác kiệt và rừng phục
hồi sau nương rẫy. Sau khi áp dụng khoanh nuôi có trồng bổ sung các đối
tượng rừng trên đều phục hồi tốt.
Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ làm cơ
sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng được
quan tâm. Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã công bố công
trình “Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một
số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn
nước”, trong đó các tác giả đã đánh giá được năng lực phòng hộ của một số
dạng cấu trúc thảm thực vật rừng về mặt chống xói mòn và điều tiết nguồn
nước. Trên cơ sở đó đề xuất những mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn có cấu
trúc hợp lý.
Theo Hoàng Liên Sơn và các cộng sự (2005) [33] cho biết Dự án 661
giai đoạn 1998 - 2004 đã xây dựng được khá nhiều mô hình rừng trồng phòng
hộ đầu nguồn. Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh có trồng rừng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14
phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số có tới 188 mô
hình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, mật độ trồng rừng rất khác nhau tuỳ
thuộc vào từng loài cây và kỹ thuật áp dụng trong mỗi mô hình. Căn cứ vào
các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có thể chia các mô hình trồng
rừng phòng hộ đầu nguồn thành 4 nhóm chính là cây bản địa trồng hỗn giao
với nhau và cây bản địa hỗn giao với cây phù trợ; các loài Thông trồng thuần
loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Keo trồng thuần
loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác; các loài Tre, luồng trồng
thuần loài. Trong những năm gần đây, các mô hình này đa dạng và được phát
triển rộng hơn ở nhiều tỉnh. Ngoài ra, rừng tre luồng có khả năng chống xói
mòn tốt do lá rụng nhiều và khó phân huỷ, rễ cây nhiều chủ yếu phân bố ở bề
diện tích tập trung từ 5.000 ha trở lên được thành lập Ban quản lý, hoạt động
theo cơ chế đơn vị sự nghiệp kinh tế có thu. Khu rừng phòng hộ có diện tích
tập trung từ 20.000 ha trở lên, được tổ chức Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban
quản lý rừng phòng hộ, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ
của cơ quan Kiểm lâm cấp tỉnh. Những khu rừng phòng hộ có diện tích dưới
5.000 ha (tập trung hoặc không tập trung) không thành lập Ban quản lý mà
giao cho các tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ, xây dựng.
1.3. Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
có thể rút ra một số nhận xét sau đây.
- Rừng phòng hộ, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn được quan tâm
chú ý ở nhiều nước trên thế giới. Các công trình nghiên cứu được tiến hành
khá đồng bộ trên nhiều các khía cạnh khác nhau, chủ yếu tập trung vào xói
mòn đất, xác định cấu trúc hợp lý của rừng, thuỷ văn rừng, các biện pháp kỹ
thuật xây dựng rừng và các chính sách tổ chức quản lý rừng, Về đánh giá dự
án cũng đã có nhiều nghiên cứu thực hiện ở các mức độ khác nhau, nhìn
chung đã xây dựng được phương pháp luận, nội dung đánh giá các tác động
của dự án, đặc biệt chú trọng về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Kết
quả các nghiên cứu này là những tài liệu tham khảo có giá trị, định hướng cho
đề tài nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn16
- Ở Việt Nam, việc nghiên cứu xây dựng và phát triển rừng phòng,
rừng phòng hộ đầu nguồn được Nhà nước đặc biệt quan tâm, rất nhiều các
công trình nghiên cứu, các Dự án quy hoạch vùng phòng hộ đầu nguồn được
phê duyệt và triển khai. Các văn bản pháp luật được ban hành đã tạo hành
lang pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ở
nước ta. Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào
2.1. Mục tiêu đề tài
* Về khoa học:
- Tổng kết và đánh giá được kết quả trồng rừng phòng hộ, các biện
pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách, suất đầu tư, các mô hình lâm sinh đã áp
dụng trong dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010 tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng
Ninh.
- Phân tích các khoảng trống, sự thiếu hụt trong hướng dẫn kỹ thuật,
suất đầu tư và việc áp dụng trong thực tiễn dự án 661 trên địa bàn.
* Về thực tiễn:
- Đề xuất được loài cây và mô hình rừng trồng phòng hộ có triển vọng
tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất được một số khuyến nghị về các biện pháp kỹ thuật, cơ chế
chính sách, suất đầu tư cho Dự án 661 giai đoạn 2008 - 2010 và trồng rừng
phòng hộ tại huyện Tiên Yên.
2.2. Đi tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rừng trồng phòng hộ tại huyện Tiên
Yên, tỉnh Quảng Ninh thuộc Dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
- Về địa bàn nghiên cứu: Giới hạn trong huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng
Ninh.
- Về nội dung nghiên cứu:
+ Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ dự án 661: giới hạn trong việc
đánh giá diện tích trồng rừng, cơ cấu nguồn vốn đầu tư trồng rừng phòng hộ,
loài cây, lập địa, biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ;
+ Đánh giá chất lượng rừng trồng phòng hộ: Chỉ đánh giá tình hình
sinh trưởng của rừng trên các dạng lập địa theo các chỉ tiêu D
0
, D
1,3
, Hvn, Dt,
cáo tổng kết đánh giá thực hiện dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010 với kết quả
khảo sát, đánh giá trên thực tế.
+ Tiếp cận kết quả tổng kết và đánh giá Dự án 661 của địa phương:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn19
Tham khảo báo cáo kết quả thực hiện dự án 661 giai đoạn 1998 - 2010
của huyện Tiên Yên, của tỉnh Quảng Ninh, các hướng dẫn kỹ thuật, cơ chế
chính sách đã áp dụng trong dự án 661 của tỉnh .
+ Tiếp cận, khảo sát tình hình thực hiện, triển khai dự án và các cơ chế
chính sách, các hướng dẫn kỹ thuật và các mô hình lâm sinh trên thực tế: Lựa
chọn các xã thực hiện dự án 661 để khảo sát, đánh giá chi tiết.
- Việc áp dụng, triển khai các hướng dẫn kỹ thuật, các cơ chế chính
sách và các mô hình lâm sinh trên thực tế phải dựa trên sự đồng bộ, phù hợp
và thống nhất với trình độ dân trí, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương.
2.5.2. Phương hướng giải quyết vấn đề
Đề tài bắt đầu từ việc thu thập các tài liệu, số liệu đã có liên quan đến
các nội dung của đề tài ở Ban quản lí dự án 661 Trung ương, Ban quản lí dự
án 661 tỉnh Quảng Ninh và dự án 661 ở Tiên Yên về 2 vấn đề:
i) Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ;
ii) Cơ chế, chính sách và suất đầu tư.
Từ đó tiến hành điều tra, khảo sát thực địa để tổng kết và đánh giá các
mô hình rừng trồng phòng hộ, các biện pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách đã áp
dụng trong thực tiễn để tìm ra những khoảng trống, thiếu hụt về kỹ thuật và
chính sách làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp cho giai đoạn tới.
Phương hướng và cách giải quyết vấn đề của đề tài được mô hình hoá
theo sơ đồ dưới đây:
Hình 2.1: Sơ đồ phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài
2.5.3. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.5.3.1. Thu thập các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu đã có
Thu thập các thông
tin, số liệu đã có
Các thông tin ở Ban
điều hành dự án
661 TW và của tỉnh
Các thông tin về kỹ
thuật
Các thông tin về cơ
chế, chính sách, suất
đầu tư
Điều tra, khảo sát
các mô hình rừng
trồng phòng hộ
Đề xuất các khuyến
nghị
Phân tích, xử lý
thông tin, số liệu
Các thông tin ở dự
án 661 huyện Tiên
Yên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong Dự án 661, tình hình tổ chức thực hiện, những khó khăn, vướng mắc mà
các địa phương gặp phải và các kiến nghị, đề xuất của lãnh đạo, cán bộ và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn22
người dân địa phương. Từ đó chọn ra các địa điểm để điều tra, khảo sát và
đánh giá chi tiết. Cụ thể như sau:
Điều tra thực địa 4 địa điểm nghiên cứu thuộc các xã có diện tích rừng
trồng phòng hộ lớn là xã Hà Lâu; Yên Than, Đại Dực, Đông Ngũ; tại mỗi
điểm nghiên cứu, lập 3 ô tiêu chuẩn hình chữ nhật diện tích 500 m
2
(20m x
25m), trong trường hợp số cây còn lại < 30 cây thì diện tích OTC sẽ được mở
rộng hơn để đảm bảo có ít nhất 30 cây còn sống cho mỗi loài.
Dung lượng mẫu: Sẽ đo đếm đại diện rừng trồng phòng hộ thuộc dự án
661 trồng từ năm 1998-2010.
+ Trên các ô tiêu chuẩn, tiến hành đo đếm thu thập các số liệu về: loài
cây, phương thức trồng, lập địa trồng, kỹ thuật trồng, năm trồng (tuổi rừng),
Do, D
1,3
, Hvn, Dt, độ tàn che, che phủ, tỷ lệ sống, đặc biệt là cách bố trí các
cây hỗn giao, khoảng cách giữa các cây, mối quan hệ của chúng với nhau. kết
quả điều tra sẽ được ghi vào mẫu phiếu điều tra chi tiết sau:
Mẫu biểu 01: phiếu điều tra cây gỗ trên ÔTC rừng trồng
Số ÔTC:………… Hướng dốc:……………… Độ che phủ:………….
Vị trí:…………… Độ dốc: ………………… Ngày điều tra:…………
Tọa độ địa lý:…… độ tàn che: …………… Người điều tra:…………
STT
Loài
2.5.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu điều tra ô tiêu chuẩn rừng
trồng, tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn23
Chƣơng 3
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí.
Tiên Yên là huyện miền núi hải đảo, là ngã ba niềm đông của tỉnh
Quảng Ninh, trung tâm huyện lỵ cách Thành phố Hạ Long 90 km về phía
Đông, huyện có toạ độ địa lý như sau:
- Từ 21
o
11’ - 21
o
24
khô, mùa mưa thường xảy ra lũ quét làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi, gây ảnh
hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện.
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
Tiên Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió ẩm, gió mùa vùng núi
nên nóng ẩm, mưa nhiều. Theo số liệu của trạm dự báo và phục vụ khí tượng
thuỷ văn Quảng Ninh [31] thì khí hậu Tiên Yên có những đặc trưng như sau:
- Nhiệt độ không khí trung bình năm 21 - 23
o
C, về mùa hè nhiệt độ
trung bình giao động từ 26 -28
o
C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới 37,6
o
C vào
tháng 6, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 1
o
C vào tháng 1.
- Độ ẩm không khí tương đối trung bình hàng năm là 83%, cao nhất
vào tháng 3, tháng 4 đạt 88%, thấp nhất vào tháng 11, 12 đạt 76%.
- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.285 mm. Lượng mưa
phân bố không đều trong năm, phân hoá theo mùa tạo ra hai mùa rõ rệt, mùa
mưa nóng ẩm bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô hanh, lạnh, ít mưa có
rét kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
- Lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm 868 mm. Lượng bốc hơi
tăng mạnh vào mùa khô hanh, các đợt gió mùa Đông Bắc thổi mạnh.
- Tiên Yên thịnh hành 2 loại gió chính là gió đông bắc và gió đông
nam:
+ Gió Đông Bắc: Thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau là gió
78
2
33,6
89,1
15,3
82
3
61,1
83,1
18,6
83
4
121,9
70,5
24,5
84
5
288,8
76,0
27,7
85
6
328,4
56,3
28,2
86
7
476,2
62,7
28,4
83
Từ số liệu tại bảng 3.1, mô tả Biểu đồ biến động 3 yếu tố khí hậu thuỷ văn
qua hình 3.1:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn