BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Chương mở đầu:
TẦM QUAN TRỌNG VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1. Tầm quan trọng và sự cần thiết của đề tài:
Từ khi Việt Nam trở thành thành viên tổ chức thương mại thế giới (WTO), thị trường
chứng khoán đang sôi động, cộng với chế độ chính trị ổn định đã tạo điểm ngắm của
nhiều nhà đầu tư trên thế giới. Việt Nam từ lâu được cho là thị trường đầy tìm năng, tốc
độ phát triển kinh tế không ngừng, nhiều doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ra đời,
cùng với sự cổ phần hoá nhiều doanh nghiệp Nhà nước thì sự phát triển của các công ty
kiểm toán độc lập là một tất yếu. Sự phát triển của Việt Nam trong nhiều năm qua đã tạo
niềm tin cho các nhà đầu tư. Đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến báo
cáo tài chính của các doanh nghiệp để đưa ra các quyết định đầu tư. Khi nói đến báo cáo
tài chính thì ai cũng hiểu đó là thông tin thể hiện thực trạng của doanh nghiệp. Báo cáo
tài chính càng minh bạch thì độ tin cậy càng cao, càng tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.
Để xác định được điều này cần phải có một bên thứ ba độc lập- đó là kiểm toán độc lập
để xác định tính trung thực và hợp lí của báo cáo tài chính. Điều đầu tiên khi công ty
kiểm toán ký hợp đồng với khách hàng là tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng để xác định tính trọng yếu của báo cáo tài chính. Từ đó kiểm toán viên đưa ra
giá phí và các thủ tục kiểm toán thích hợp.
Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam đã được thành lập vào ngày 15/ 04/ 2005. Tuy
nhiên, trong thời gian đầu ngành kiểm toán chỉ mới ổn định tổ chức và tiếp nhận một số
chức năng quản lý nghề nghiệp bàn giao từ bộ tài chính. Do vậy, kiểm soát chất lượng
hoạt động kiểm toán tại Việt Nam vẫn còn có một số yếu kém. Điều này đã ảnh hưởng
đến chất lượng thông tin tài chính cung cấp cho khách hàng và xã hội.
Với những lý do trên, đề tài “ Các biện pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng
hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH kiểm toán Sao Việt ” là vấn đề quan trọng và cấp
thiếp mà em lựa chọn.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
+ Tìm hiểu về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH kiểm
toán Sao Việt.
+ Các biện pháp kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán được áp dụng tại công
Theo từ điển tiếng Việt thì: “ chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người,
của sự vật, sự việc ”.
Theo định nghĩa của TCVN 5200 – ISO thì: “ Chất lượng là mức độ phù hợp của sản
phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua”. Ngoài ra
các tổ chức khác nhau còn đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng.
Cho dù khái niệm về chất lượng được định nghĩa bằng những từ ngữ khác nhau nhưng
nhìn chung các định nghĩa trên đều cùng nhắm đến mục tiêu mà cả người sản xuất và
người tiêu dùng đều muốn đạt đến là đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của người sử dụng.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 về kiểm soát chất lượng kiểm toán “Chất
lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm
toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên, đồng thời
thỏa mãn mong muốn của các đối tượng được kiểm toán về ý kiến đóng góp của kiểm
toán viên, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định mức với
giá phí hợp lý.” Như vậy, chất lượng hoạt động kiểm toán có thể được xem xét dưới 3
góc độ:
+ Mức độ người sử dụng thông tin thỏa mãn đối với tính khách quan và độ tin
cậy của kết quả kiểm toán
+ Mức độ của đơn vị được kiểm toán thỏa mãn về ý kiến đóng góp nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh.
+ Báo cáo kiểm toán độc lập và phát hành theo đúng thời gian đã thỏa thuận
trong hợp đồng kiểm toán và phí dịch vụ kiểm toán phù hợp với mức độ kiểm
toán.
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 3
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1.2 Khái niệm về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán:
Kiểm soát chất lượng là một khâu quan trọng và thường là một gian đoạn cuối cùng trong
quy trình sản xuất, quy trình thực hiện các dịch vụ nhằm đảm bảo sản phẩm, dịch vụ tạo
ra phù hợp với các tiêu chuẩn được thiết lập. Đây là một khâu quan trọng đối với mọi
ngành nghề và đặc biệt là các dịch vụ vô hình như dịch vụ kiểm toán.
Hiểu theo nghĩa hẹp, kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán là quá trình kiểm toán
lợi ích của công ty. Vì vậy, những chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng do từng
công ty kiểm toán xây dựng sẽ có sự khác nhau.
Các chính sách và những thủ tục kiểm tra chất lượng của một công ty kiểm toán phải
được phổ biến đến tất cả các nhân viên của công ty để giúp họ có thể hiểu và thực hiện
đúng các chính sách và thủ tục đó. Kiểm toán viên phải áp dụng những chính sách và thủ
tục kiểm soát chất lượng chung của công ty cho từng hợp đồng kiểm toán một cách thích
hợp.
Để thực hiện được quá trình kiểm soát chất lượng các công ty kiểm toán cần phải thực
hiện các thủ tục kiểm soát cơ bản sau:
+ Mỗi văn phòng, chi nhánh hay công ty đều phải thiết lập một thủ tục kiểm
soát chất lượng .
+ Các công ty phải thành lập một bộ phận kiểm soát chất lượng và phải trực
thuộc trực tiếp Ban Giám đốc. Các nhân viên thuộc bộ phận này phải được Ban
Giám đốc đề cử và ít nhất là kiểm toán viên chính.
+ Các thủ tục kiểm soát chất lượng trong công ty phải được xác định và thiết
lập cho các lĩnh vực sau:
Thủ tục đánh giá khách hàng.
Thủ tục kiểm tra hồ sơ.
Thủ tục đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng.
Các thủ tục quản lý nội bộ khác.
Các thủ tục kiểm soát.
1.1.3.2 Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài:
Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài đối với các công ty kiểm toán là quá trình kiểm tra
chất lượng các loại dịch vụ mà các công ty kiểm toán đã cung cấp cho khách hàng được
thực hiện bởi các tổ chức nghề nghiệp hoặc các cơ quan chức năng Nhà nước.
Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài đối với hoạt động kiểm toán rất cần thiết ở tất cả các
quốc gia, đặc biệt là đối với những quốc gia mà nghề nghiệp kế toán được tổ chức và
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 5
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
quản lý không phải do Nhà nước. Điều này xuất phát từ đặc điểm về tính hữu dụng của
kiệm thời gian và hợp lý hóa giá phí.
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 6
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
+ Giúp doanh nghiệp kiểm toán hoàn thiện quy trình kiểm toán, hạn chế rủi
ro trong quá trình thực hiện kiểm toán.
b. Lợi ích của việc kiểm soát chất lượng kiểm toán từ bên ngoài:
Xem xét việc xây dựng và thực hiện các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng dịch
vụ của các công ty kiểm toán để đảm bảo các dịch vụ và các cuộc kiểm toán đều được
tiến hành phù hợp với quy định của pháp luật và các chuẩn mực nghề nghiệp.
Đánh giá tình hình tuân thủ các quy định của Nhà nước về kiểm toán độc lập và các yêu
cầu của chuẩn mực nghề nghiệp trong việc thực hiện dịch vụ kiểm toán.
Phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra phương
hướng biện pháp khắc phục, góp phần hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và phương pháp
làm việc nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán, làm tăng độ tin cậy của xã hội đối
với nghề nghiệp kiểm toán.
Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về kiểm toán do Nhà nước ban
hành và Hội nghề nghiệp hướng dẫn.
Củng cố, nâng cao uy tín nghề nghiệp.
1.2 Nội dung của chuẩn mực số 220 về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm
toán:
a. Mục đích của chuẩn mực:
Mục đích của chuẩn mực là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể
thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản trong việc kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán trên các phương diện:
+ Các chính sách và thủ tục của công ty kiểm toán liên quan đến hoạt động
kiểm toán.
+ Những thủ tục liên quan đến công việc được giao cho kiểm toán viên và trợ lý
kiểm toán trong một cuộc kiểm toán cụ thể.
b. Trách nhiệm của người lãnh đạo về chất lượng của cuộc kiểm toán:
Chủ phần hùn phụ trách hợp đồng phải chịu trách nhiệm chung về chất lượng trong mỗi
+ Xác định rằng kết luận từ việc tư vấn đã được thực hiện
i. Khác biệt về ý kiến:
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 8
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nếu có sự khác biệt ý kiến của nhóm kiểm toán với ý kiến của người tư vấn giữa chủ
phần hùn phụ trách hợp đồng với người xét duyệt hồ sơ, nhóm kiểm toán nên tuân thủ
chính sách và các thủ tục giải quyết mâu thuẫn ý kiến của công ty.
j. Soát xét việc kiểm soát chất lượng hợp đồng:
Đối với các cuộc kiểm toán cho các công ty niêm yết, chủ phần hùn nên:
+ Chỉ định người soát xét việc kiểm soát chất lượng hợp đồng kiểm toán.
+ Thảo luận các vấn đề phát sinh trong cuộc kiểm toán gồm cả những người được
chỉ định soát xét việc kiểm soát chất lượng hợp đồng.
+ Không phát hành báo cáo cho đến khi thực hiện đầy đủ việc kiểm soát chất
lượng hợp đồng.
k. Giám sát:
Công ty cần thiết lập chính sách và thủ tục để cung cấp bảo đảm hợp lý rằng chính sách
thủ tục liên quan đến hệ thống kiểm soát là phù hợp, đầy đủ, hoạt động hữu hiệu và áp
dụng trong thực tế.
1.3 Kinh nghiệm kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán từ bên ngoài của
Hoa Kỳ:
Khởi điểm vào những năm 1970, chương trình kiểm soát chất lượng là chương trình tự
nguyện trong giai đoạn đầu. Giai đoạn này chỉ được thực hiện thử nghiệm và sau đó trở
thành bắt buộc vào năm 1988.
Chương trình này được điều hành bởi Ủy ban Kiểm tra chéo Hiệp hội kế toán viên công
chứng Hoa Kỳ ( AISCPA Peer Review Board).
Theo chuẩn mực thực hiện và báo cáo việc kiểm tra chéo ( Standars on Performing and
Reporting on Peer Review ), có thể rút ra các nội dung chủ yếu sau đây:
1.3.1 Về mục đích của chương trình kiểm soát chất lượng:
Mục tiêu chủ yếu khi thiết lập chương trình kiểm tra chất lượng hợp đồng nghề nghiệp là
nhằm:
chọn người kiểm tra họ.
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 10
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.3.6 Trình độ và kinh nghiệm của chủ thể kiểm soát:
Kiểm tra viên phải là thành viên có năng lực và đạo đức tốt của AICPA đồng thời cũng
phải đăng ký hành nghề trong một công ty kiểm toán. Và công ty kiểm toán này phải có
báo cáo kiểm soát chất lượng loại chấp nhận (unmodified report) do Ủy ban Kiểm tra
chéo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ công bố liên tục trong 3 năm gần nhất.
Kiểm toán viên phải có 5 năm kinh nghiệm ở cấp chủ phần hùn (partner) hoặc kiểm toán
viên điều hành (chủ nhiệm) hoặc cấp tương đương có trách nhiệm giám sát trong lĩnh vực
kiểm toán.
Ngoài ra, theo bản dự thảo tháng 5 năm 2003 thì kiểm tra viên còn phải tham gia và hoàn
tất khóa huấn luyện do Ủy ban Kiểm tra chéo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
tổ chức.
1.3.7 Báo cáo:
Kết thúc quá trình kiểm tra, kiểm tra viên phải lập báo cáo.
Yêu cầu báo cáo gồm 2 phần: Báo cáo kiểm tra và thư nhận xét. Trong đó thư nhận xét là
phụ lục cho báo cáo kiểm tra để liệt kê chi tiết các sai sót trọng yếu và các kiến nghị cần
sửa đổi cho các sai sót này.
Báo cáo có hình thức tương tự như báo cáo kiểm toán (dạng chấp nhận toàn phần –
unmodified, hoặc chấp nhận từng phần – modified, hoặc ý kiến trái ngược – adverse).
Các báo cáo kiểm tra phải được lập đúng quy cách, hình thức nhằm đưa đến một sự thống
nhất về báo cáo. Bởi lẽ, nếu người kiểm tra chỉ phải báo cáo khi phát hiện sai sót lớn thì
quá trình kiểm tra trở nên chủ quan. Do vậy, báo cáo đòi hỏi phải tiêu chuẩn hóa và các
tiêu chuẩn tối thiểu phải được phổ biến cho các công ty thành viên như những mục tiêu
cần đạt được.
1.3.8 Biện pháp sửa chữa:
Mục tiêu của chương trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán là nhằm đào tạo và
đề xuất thực hiện những hành động sửa chữa, chứ không phải là trừng phạt. AICPA cố
gắng tích cực không làm cho các công ty thành viên của họ bị thiệt hại qua các cuộc kiểm
động nghề nghiệp đối với các thành viên của Hiệp hội chuyên gia kế toán và Hiệp hội
chuyên gia kiểm toán đã được cấp giấy phép hành nghề.
Sắc lệnh này quy định:
+ Trách nhiệm tổ chức kiểm tra hoạt động nghề nghiệp đối với các chuyên gia
hành nghề kiểm toán độc lập thuộc Hội đồng cấp cao toàn quốc và các Hội đồng
địa phương của Hiệp hội chuyên gia kế toán và Hiệp hội chuyên gia kiểm toán
Cộng Hòa Pháp.
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 12
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
+ Nội dung kiểm tra hoạt động nghề nghiệp bao gồm việc phân tích các phương
thức hoạt động và tổ chức của văn phòng kiểm toán, đánh giá việc áp dụng các
yêu cầu về tính thận trọng và năng lực chuyên môn
+ Các chuẩn mực chung và chuẩn mực chuyên môn về kiểm toán làm cơ sở để
thực hiện kiểm toán và kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán bao gồm:
Độc lập.
Trình độ nghiệp vụ.
Chất lượng công việc.
Bí mật nghề nghiệp và các nghĩa vụ phải bí mật.
Chấp nhận và duy trì các khách hàng và dịch vụ.
Kế hoạch kiểm toán.
Thư hẹn kiểm toán.
Ủy quyền và giám sát.
Sử dụng tư liệu của các chuyên gia.
Tài liệu làm việc của kiểm toán viên.
Các chuẩn mực báo cáo.
1.4.2 Chủ thể kiểm soát chất lượng:
a. Điều kiện:
Theo quy định của Hiệp hội kế toán Pháp thì kiểm tra viên phải đảm bảo các điều kiện
sau:
+ Là chuyên gia kế toán kiểm toán thành viên của Hiệp hội ít nhất là 5 năm.
cuộc kiểm tra trước khi được chỉ định làm kiểm tra viên.
1.4.3 Đối tượng chịu kiểm soát chất lượng:
Kiểm tra chất lượng được thực hiện đối với tất cả các công ty kiểm toán và đối với tất cả
các dịch vụ của công ty kiểm toán, bất kể công ty đó thuộc loại hình sở hữu nào.
Cuộc kiểm tra phải bao quát toàn bộ hoạt động của công ty kiểm toán. Thông thường
cuộc kiểm tra được thực hiện trong vòng 3 đến 4 tháng sau khi kết thúc năm kiểm tra.
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 14
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nếu hợp đồng của năm kiểm tra chưa kết thúc thì có thể kiểm tra hợp đồng của năm
trước.
1.4.4 Nội dung kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán:
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán bao gồm 2 nội dung:Kiểm tra cơ cấu và kiểm
tra kỹ thuật.
a. Kiểm tra cơ cấu:
Kiểm tra cơ cấu hay còn gọi là kiểm tra theo chiều ngang là việc kiểm tra xem xét hệ
thống tổ chức của công ty hoặc chi nhánh để đánh giá khả năng đảm bảo các chương
trình kiểm toán của công ty phù hợp với các chuẩn mực và các nguyên tắc nghề nghiệp.
Từ đó có thể đánh giá chất lượng dịch vụ kiểm toán do công ty cung cấp và lựa chọn hồ
sơ phục vụ cho kiểm tra kỹ thuật.
Kiểm tra cơ cấu được tiến hành dựa trên các cơ sở quy tắc và chuẩn mực nghề nghiệp.
Mỗi công ty được tổ chức theo cách riêng của mình nhưng phải tuân theo các quy tắc và
chuẩn mực nghề nghiệp. Vì vậy, các kiểm tra viên phải dựa vào quy tắc và chuẩn mực để
đánh giá xem phương pháp tổ chức của công ty có cho phép thực hiện được các nghiệp
vụ của mình một cách hợp lý hay không.
Một trong những phương pháp kiểm tra cơ cấu là bảng câu hỏi theo chiều ngang. Nhiều
vấn đề khác nhau được đề cập trong bản câu hỏi theo chiều ngang về thủ tục kiểm soát.
Cơ cấu của công ty kiểm toán:
+ Phạm vi mạng
+ Đạo đức nghề nghiệp
+ Nhân sự
Quyền từ chối các kiểm tra viên: Các công ty được thông báo sẽ bị kiểm tra chất lượng
có quyền từ chối kiểm tra viên được chỉ định. Việc từ chối này có thể được thực hiện
trong một thời gian nhất định kể từ khi công ty nhận được thông báo về cuộc kiểm tra và
tên của kiểm tra viên chỉ định cho cuộc kiểm tra này và việc từ chối kiểm tra chỉ được từ
chối một lần duy nhất.
Công ty được kiểm tra có quyền cùng ký vào biên bản kiểm tra chất lượng thì biên bản
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 16
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
mới có giá trị.
b. Nghĩa vụ:
Nghĩa vụ cung cấp các tài liệu và thông tin: công ty được kiểm tra có trách nhiệm cung
cấp đầy đủ các tài liệu cần thiết cho cuộc kiểm tra tại trụ sở chính, chi nhánh hoặc các
văn phòng và các bộ phận liên quan. Đồng thời phải cung cấp cho các kiểm tra viên mọi
giải thích cần thiết phục vụ cho hoạt động kiểm tra chất lượng.
c. Chu kỳ kiểm tra:
Một công ty chỉ có thể bị kiểm tra sau thời hạn 3 năm kể từ khi kết thúc cuộc kiểm tra
trước. Trong trường hợp đặc biệt thì cuộc kiểm tra này cũng chỉ được thực hiện sau 1
năm. Thời gian cho một cuộc kiểm tra phải phù hợp với tầm cỡ và quy mô của công ty
được kiểm tra.
Công ty được kiểm tra được thông báo về kết quả kiểm tra: Kết thúc cuộc kiểm tra chất
lượng, công ty bị kiểm tra được thông báo về ưu điểm, nhược điểm của hoạt động kiểm
toán tại công ty và những ý kiến tư vấn.
1.4.7 Nguyên tắc của kiểm soát chất lượng:
Khi tổ chức kiểm tra chất lượng hoạt động kiểm toán cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc đồng nghiệp
+ Nguyên tắc toàn thể
+ Nguyên tắc phù hợp
+ Nguyên tắc kết hợp
+ Nguyên tắc bí mật
+ Nguyên tắc độc lập, chính trực, khách quan
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 18
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
có 3 dạng sau:
+ Dạng nhận xét chất lượng kiểm toán tốt, không có các sai phạm hoặc ý kiến
lưu ý.
+ Dạng nhận xét chất lượng kiểm toán có hạn chế, kèm theo các ý kiến lưu ý
và có thể kèm theo giấy triệu tập lãnh đạo công ty kiểm toán đến văn phòng
của Chủ tịch Hội đồng của Hiệp hội địa phương.
+ Dạng nhận xét chất lượng kiểm toán có hạn chế nghiêm trọng kèm theo
quyết định về một cuộc kiểm tra mới tại công ty sau thời hạn 1 năm. Trường
hợp phát hiện những sai phạm mới hoặc những sai phạm đã được thông báo
nhưng không sửa chữa, ủy ban kỷ luật của Hiệp hội sẽ can thiệp và xử lý .
+ Hồ sơ kiểm tra sẽ bị hủy sau 3 năm. Các kết luận của Chủ tịch Hội đồng địa
phương và báo cáo của kiểm tra viên được lưu giữ cho đến khi công ty bị một
cuộc kiểm tra mới.
d. Phương pháp kiểm tra chất lượng:
Trong các cuộc kiểm tra chất lượng, kiểm tra viên phải thu thập các bằng chứng đầy đủ
về số lượng và chất lượng để khẳng định phương pháp thực hiện các dịch vụ tại một công
ty (kiểm tra cơ cấu ), cũng như để khẳng định kết luận về kiểm tra kỹ thuật ở công ty
được kiểm tra. Những kỹ thuật thường dùng là:
+ Điều tra
+ Kiểm tra tài liệu
+ Phỏng vấn
+ Quan sát
Tuỳ thuộc vào các nội dung và mục đích kiểm tra khác nhau mà các kỹ thuật trên đây
được lựa chọn và sử dụng cho phù hợp nhằm mang lại kết quả cao nhất.
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 19
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.5 Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
1.5.1 Cơ quan tiến hành:
+ Các công ty Việt Nam (nói chung ) và người Việt Nam nói riêng vẫn còn
mang tư tưởng tôn trọng, chấp hành những quy định do cơ quan quyền lực ban
hành hơn là do Hội nghề nghiệp.
+ Hội nghề nghiệp kế toán của Việt Nam còn quá non trẻ chưa đủ kinh
nghiệm và năng lực để thực hiện.
Do vậy, Việt Nam nên áp dụng mô hình tương tự nhu mô hình của Pháp nhưng có sự
điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và yêu cầu quản lý thực tế hiện nay như
trước mắt: Bộ Tài Chính vẫn đóng vai trò chủ yếu, về lâu dài có thể do Ủy ban trực thuộc
Hội đồng quốc gia thực hiện.
1.5.2 Nội dung kiểm soát chất lượng:
Mô hình của Hoa Kỳ và Pháp có cùng chung mục đích về kiểm soát chất lượng về kiểm
soát chất lượng:Gia tăng độ tin cậy của xã hội đối với nghề nghiệp kiểm toán và đảm bảo
việc tuân thủ các yêu cầu chuẩn mực nghề nghiệp. Do có cùng mục đích nên những quy
định đòi hỏi đối với kiểm tra viên của hai quốc gia này đều có những tiêu chuẩn khá khắc
khe. Tùy điều kiện thực tế mỗi quốc gia mà tiêu chuẩn chọn lựa các kiểm tra viên khác
nhau. Nhưng nhìn chung họ đều tuyển chọn những người có tư cách đạo đức và kinh
nghiệm chuyên môn nghề nghiệp tốt nhất trong đội ngũ các chuyên gia kiểm toán hiện có
họ.
Tuy nhiên cơ cấu tuyển chọn và chỉ định kiểm tra viên để tiến hành kiểm tra chất lượng
kiểm toán tại hai quốc gia này lại khác nhau. Tại Hoa Kỳ hoạt động trên giả định rằng
nếu các doanh nghiệp được chọn công ty kiểm toán thì các công ty kiểm toán phải được
chọn lựa người kiểm tra họ. Trong khi đó, tại Pháp các công ty kiểm toán sẽ được kiểm
tra bởi các kiểm tra viên do Hội đồng cấp cao chỉ định.
Với những đặc điểm đã phân tích ở trên, Việt Nam có thể áp dụng cơ chế tuyển chọn và
chỉ định kiểm tra viên này tương tự như cách thực hiện của pháp.
Tuy nhiên, xét về đối tượng chịu sự kiểm soát chất lượng thì hai mô hình này có điểm dị
đồng với nhau. Đối với mô hình của Hoa Kỳ, các công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán
phải chịu sự kiểm tra chéo nhằm đảm bảo kiểm soát chất lượng chặt chẽ; các công ty chỉ
cung cấp dịch vụ soát xét và biên soạn thì chịu sự khắc khe ít hơn; và kiểm soát các dịch
vụ liên quan đến thuế được thực hiện cơ sở tình nguyện. Còn tại Pháp thì kiểm soát chất
+ Có kiến thức cập nhật về các chuẩn mực nghề nghiệp về các quy định của
Nhà nước về lĩnh vực mà mình kiểm tra.
+ Có chứng chỉ kiểm toán viên từ sau hai năm trở lên.
+ Có đạo đức nghề nghiệp, trung thực, khách quan, có tinh thần trách nhiệm
cao.
+ Đã tham dự khóa đào tạo về các yêu cầu theo quy định của Bộ Tài Chính
hoặc Hội nghề nghiệp.
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 23
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Chương 2:
THỰC TẾ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN SAO VIỆT
2.1 Giới thiệu về đơn vị thực tập:
2.1.1 Quá trình hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn kiểm toán Sao Việt:
Trong những năm gần đây, nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi theo cơ
chế thị trường và hội nhập quốc tế, hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã hình
thành và phát triển không ngừng.
Để tạo hành lang pháp lí cho sự ra đời, phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập, Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm 2004 về kiểm
toán độc lập và Nghị định số 133/2005/NĐ-CP ngày 31/10/2005 về sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghi định 105.
Theo đó, kể từ ngày Nghị định số 133/2005/NĐ-CP ngày 31/10/2005 có hiệu lực, doanh
nghiệp kiểm toán trong nước được thành lập mới theo các hình thức: Công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam. Doanh nghiệp Nhà nước kiểm toán, công ty cổ phần kiểm toán đã thành lập và
hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp từ trước ngày Nghị định số
105/2004/NĐ-CP có hiệu lực được phép chuyển đổi theo một trong các hình thức doanh
nghiệp quy định nêu trên trong thời hạn 3 năm kể từ ngày Nghị định số 105/2004/NĐ-CP
có hiệu lực.
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức:
Công ty TNHH kiểm toán SaoViệt được phân loại theo dịch vụ:
+ Kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán
+ Kế toán và tư vấn thuế
2.1.2.2 Chức năng và lĩnh vực hoạt động:
Công ty trách nhiệm hữu hạn Sao Việt có chức năng cung cấp các dịch vụ sau:
+ Dịch vụ kiểm toán:
Kiểm toán báo cáo tài chính.
Kiểm toán thông tin tài chính.
Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và dịch vụ quyết toán thuế.
Kiểm toán hoạt động; kiểm toán tuân thủ; kiểm toán nội bộ.
SVTH: VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG Trang 25
GIÁM ĐỐC