MỞ ĐẦU
Nền triết học phương Tây ra đời vào giai đoạn 600 – 430 trước Công
nguyên và trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm cùng với lịch sử của nhân loại.
Nếu như ở thời kỳ trung cổ, nền triết học phương Tây rơi vào thời kỳ đen tối khi
nó trở thành một bộ môn của thần học và chỉ có nhiệm vụ củng cố niềm tin cho
tôn giáo thì đến thời Phục hưng, triết học đã được khôi phục và giữ một vai trò
hết sức quan trọng trong nền kinh tế, chính trị của các nước đang hình thành và
phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quan niệm coi triết học là “
người mẹ” của các ngành khoa học đã được khôi phục và phát triển rực rỡ thành
quan điểm coi triết học là “ khoa học của các ngành khoa học” ở thời kỳ Cận
đại. Đóng góp cho sự phát triển của triết học thời kỳ này là bốn trường phái triết
học tiêu biểu: trường phái duy vật kinh nghiệm-duy giác, trường phái duy lý –tư
biện, trường phái duy tâm-bất khả tri, triết học khai sáng và chủ nghĩa Pháp. Trong
đó, trường phái duy lý tư biện có vai trò hết sức quan trọng và ảnh hưởng to lớn
đến sự phát triển của triết học nhân loại với các triết gia tiêu biểu là René
Descartes, Baruc Xpinôda, Gôtphơriet Vinhem Lépnít. Quan niệm đề cao lý
tính, cố gắng hệ thống hóa toàn bộ tri thức mà con người đạt được lúc bấy giờ
dựa trên cơ sở phương thức tư duy lý luận đã góp phần tạo nên nhiều thành tựu
khoa học vĩ đại cho nhân loại đặc biệt là trong ngành toán học, vũ trụ học, sinh lý
học…Bên cạnh đó, quan niệm này còn ảnh hưởng không nhỏ đến mọi lĩnh vực
trong đời sống xã hội, đặc biệt là lối tư duy lý tính đã trở thành một phong cách,
một lối sống đặc trưng cho xã hội Tây phương. Con người không hài lòng với
những gì đang hiện hữu, đang diễn ra mà luôn hoài nghi để từ đó không ngừng
sáng tạo ra những thành tựu khoa học mới. Chính vai trò tạo ra một cuộc cách
mạng trong lịch sử tư tưởng triết học đó, người viết đã chọn nghiên cứu đề tài :
“Chủ nghĩa duy lý tư biện phương Tây thời cận đại và những giá trị, hạn chế của
nó”. Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu chính là sách Triết học Phần 1-Đại cương về
lịch sử triết học của TS Bùi Văn Mưa và các sách, trang web khác, đề tài sẽ làm
sáng rõ hơn những ưu điểm có thể ứng dụng vào thực tế cuộc sống và tư duy lý luận
đồng thời tìm ra những khuyết điểm để khắc phục và hoàn thiện.
1
2
Phương Tây lên đỉnh cao. Ông đã đặt nền móng vững chắc cho khoa học lý
thuyết, lịch sử triết học, khoa học và văn minh tinh thần của Phương Tây chịu
ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng của ông [1,trang 145].
Siêu hình học: Trong siêu hình học của Descarter nổi bật những tư tưởng
sau:
- “Nghi ngờ phổ biến” – nguyên tắc xuất phát để xây dựng triết học và khoa
học mới:[1, trang 145]
+ Descarter đòi hỏi phải xây dựng triết học mới. Triết học mới phải
được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, triết học là tổng thể tri thức
của con người về các lĩnh vực; còn theo nghĩa hẹp, triết học là siêu hình
học-cơ sở thế giới quan của con người. Triết học mới phải bàn về khả
năng và phương pháp đạt được tri thức đúng đắn, vì vậy, nhiệm vụ của nó
trước hết là phải khắc phục chủ nghĩa hoài nghi, và sau đó là xây dựng các
nguyên tắc chỉ đạo các ngành khoa học khám phá ra các quy luật của giới
tự nhiên, xây dựng các chân lý khoa học, giúp con người chinh phục giới
tự nhiên, phục vụ lợi ích cho mình. Nói vắn tắt, triết học mới là triết học
gắn liền với khoa học nhằm làm chủ tư duy, nâng cao trình độc lý luận
cho con người
+ Descarter cho rằng, cơ sở của chân lý là lý tính, và để nhận thức đúng
cần phải nghi ngờ phổ biến – nghi ngờ mọi cái, kể cả cái mà người đời
cho là chân lý ta cũng phải nghi ngờ; tức nghi ngờ mang tính phương pháp
luận để không mắc sai lầm và có được niềm tin chắc chắn trong nhận
thức. Với nguyên tắc nghi ngờ trên, Descarter đề cao tư duy lý tính và coi
thường kinh nghiệm, cảm tính trong hoạt động nhận thức; vì vậy ông đã
xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa duy lý thời cận đại. Theo ông, mọi cái tồn
tại chỉ có thể trở thành chân lý khi chúng được đưa ra phán xét dưới tòa án
của lý tính nhằm tự bào chữa cho sự tồn tại của chính mình. Nghi ngờ phổ
biến, vì vậy, là cơ sở phương pháp luận của triết học Descarter. Quan
điểm duy lý này của Descarter có ý nghĩa tích cực trong quá trình đấu
vừa thấp hèn, có thể mắc sai lầm [1, trang 147].
- Lý luận về linh hồn: Linh hồn con người không chỉ bao gồm lý trí mà còn
có cả ý chí. Lý trí mang lại khả năng nhận thức sáng suốt, đúng đắn. Ý chí
mang lại khả năng chọn lựa, phán quyết ( khẳng định hay phủ định), khả
năng tự do giải quyết. Hoạt động bản chất của linh hồn con người là nghi
ngờ, tức suy nghĩ, tư duy [1, trang 147].
4
- Quan niệm về nhận thức: Xuất phát từ quan niệm coi hoạt động bản chất
của linh hồn là nhận thức, và mọi chân lý đều bắt nguồn từ linh hồn lý tính
( trí tuệ), Descarter cho rằng: nhận thức là quá trình linh hồn lý tính xâm
nhập vào chính mình để khám phá ra tư tưởng bẩm sinh ( các nguyên lý,
quy luật của logic hay của toán học ) chứa đựng trong mình và sử dụng
chúng để tiếp cận thế giới; Trực giác – năng lực linh cảm của linh hồn lý
tính mang lại những ý niệm rõ ràng, rành mạch, hiển nhiên là hình thức
nhận thức tối cao khám phá ra các tư tưởng bẩm sinh đó[1, trang 148].
- Các nguyên tắc phương pháp luận nhận thức: Theo ông, có 4
nguyên tắc phương pháp luận nhận thức:[1, trang 148].
• Một là, chỉ coi chân lý là những gì rõ ràng, rành mạch, không gợn
một chút nghi ngờ nào cả (nhờ vào trực giác).
• Hai là, phải chia đối tượng phức tạp thành các bộ phận đơn giản
cấu thành để tiện lợi trong việc nghiên cứu.
• Ba là, quá trình nhận thức phải xuất phát từ những điều đơn giản,
sơ đẳng nhất, dần dần đến những điều phức tạp hơn.
• Bốn là, phải xem xét toàn diện mọi dữ kiện, tài liệu để không bỏ
sót một cái gì trong quá trình nhận thức.
Như vậy, theo Descarter, quá trình nhận thức đúng đắn phải dựa vào năng
lực trực giác của linh hồn lý tính để khám phá ra những tri thức bẩm sinh chứa
sẵn trong nó. Sau đó, linh hồn lý tính sử dụng hiệu quả tư duy phân tích một cách
toàn diện và phép suy diễn hợp lý ( diễn dịch toán học) để xây dựng mọi tri thức
khoa học lý thuyết; đồng thời, qua đó mà hoàn chỉnh lý trí khúc chiết để phát
các vật thể là thể cách hữu hạn của tư tưởng. Linh hồn chỉ là ý tưởng
của thân xác.
f. Về luân lý, Spinosa quan niệm ý chí và trí tuệ là một [2, trang 45].
Ý chí là sức mạnh của ý tưởng nên giá trị luân lý của các ước vọng tùy
vào giá trị của chân lý, của ý tưởng mà chúng ta gán cho đối tượng được ước
muốn. Nếu ta có những ý tưởng bất tương xứng về sự vật thì ta không làm chủ
được sự vật mà lệ thuộc nó. Các ước vọng của ta trở thành tính dục xấu. Nếu ta
6
có những ý tưởng tương xứng do lý trí, thì các ước vọng trở thành nhân đức. Đời
sống luận lý dựa trên những tri thức phân minh. Nếu ta dùng trực giác để ý tưởng
tương xứng với đời sống luận lý của ta còn hoàn toàn hơn. Vạn vật ở trong
Thượng Đế, Trực giác là biết được Thượng đế. Nó sinh ra tình yêu Thượng Đế
bằng tinh thần, là cái tạo ra toàn phúc vĩnh cửu [2, trang 44].
1.2.3. GỐTPHƠRIÉT VINHEM LÉPNÍT
Gottfried W. Leibniz (1646-1716) là một triết gia lỗi lạc, một nhà luận lý
học và nhà toán học – ông phát triển phép tính tích phân và vi phân trong thời kỳ
ông chưa biết tới những nghiên cứu của Newton trong lĩnh vực toán học này.
Ông là nhà triết học đầu tiên nhận thấy trong triết học Phương Tây có hai trào lưu
đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, và theo ông cả hai trào
lưu này đều có mặt tích cực và hạn chế. [1, Bùi, 154-155]. Ông không hài lòng
về các hệ thống siêu hình học trước đó nên đã xây dựng một hệ thống siêu hình
học mới đóng vai trò nền tảng cho mọi khoa học và hoạt động con người.[1,
trang 154-155].
Siêu hình học
Theo ông hệ thống siêu hình học mới phải khắc phục được cả chủ nghĩa
nhị nguyên của Siêu hình học Đềcáttơ và chủ nghĩa nhất nguyên của Siêu hình
học Xpinôda. [1, Bùi, 154-155]. Và ông đã dựa vào 11 nguyên lý sau để xây
dựng hai nội dung cơ bản của Siêu hình học mới: nguyên lý về sự khác nhau phổ
biến, về sự đồng nhất, tính liên tục, tính gián đoạn, tính toàn vẹn, tính hoàn thiện,
mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực, tính cần thiết tư duy lôgích, cơ sở đầy
Thượng đế tạo ra. [1, trang 158].
- Trong nhận thức luận, Ông coi nhận thức là một quá trình tương đối đi
từ những hiểu biết mơ hồ đến hiểu biết chính xác chứ không phải là hành động
trực giác, như Đềcáctơ đã thừa nhận. Ông không thừa nhận sự tồn tại tư tưởng
bẩm sinh, mà chỉ thừa nhận sự tồn tại những khả năng bẩm sinh của con người.
Theo ông nhận thức có hai loại là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận
thức cảm tính mang lại những chân lý sự kiện, nói về dáng vẻ bên ngoài cũa
những sự vật đơn lẻ. Nhận thức lý tính mang lại những chân lý vĩnh hằng, nói về
bản chất bên trong của sự vật. Tiêu chuẩn của chân lý là tính phi mâu thuẫn. [1,
trang 159].
CHƯƠNG 2
8
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ
TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
2.1. NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG
TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
Chủ nghĩa duy lý của các triết gia mà tiêu biểu là Descartes qua câu nói
bất hủ “Tôi tư duy nên tôi tồn tại” đã giúp cho nền triết học của phương Tây nói
riêng mà còn cho cả thế giới nói chung phát triển một cách mạnh mẻ. Chính vì sự
nghi ngờ mà con người không an phận với những gì hiện hữu trong tự nhiên,
chấp nhận những gì thiên nhiên đã tạo. Con người không chấp nhận mình phụ
thuộc vào thiên nhiên và những thế lực siêu nhiên chi phối. Con người không chỉ
tin vào khả năng của mình mà bắt thiên nhiên phải phục vụ cho mình qua tư duy
sáng tạo [4, trang 8-9]. Hiện nay, trong tất cả lĩnh vực nào cũng đòi hỏi sự tư
duy, vì tư duy để sáng tạo và sáng tạo để giúp cho con người tồn tại trong xu thế
“toàn cầu hoá”. Với nền kinh tế hội nhập trên thế giới thì sự tư duy để tìm ra
những phát minh mới rất cần thiết. Bên cạnh tư tưởng chủ đạo của chủ nghĩa duy
lý là đề cao nhận thức lý tính, tư tưởng của các nhà triết học duy lý còn để lại cho
đời nhiều giá trị quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Giá trị thứ 1: Đề cao vai trò của lý trí trong lý luận về nhận thức
ra hệ thống ký hiệu để mô tả lũy thừa của các số (chẳng hạn trong biểu thức x²)
[4, trang 3].
Giá trị thứ 3: Lý luận về con người
Descartes khẳng định, con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác.
Theo quan điểm nhị nguyên luận, ông hoàn toàn tách biệt thể xác và linh hồn, coi
chúng có nguồn gốc từ hai thực thể tư duy và quảng tính hoàn toàn tách biệt. Ông
coi linh hồn con người là một thực thể mà bản chất của nó là tư duy, tồn tại
không cần đến và không phụ thuộc vào bất kì một sự vật vật chất nào. Linh hồn
là bất diệt, nó không bị phân huỷ khi con người chết. Con người có được là do
Thượng đế ghép linh hồn vào thể xác. Cơ thể con người là chỗ trú chân tạm thời
của linh hồn khi anh ta sống [8, trang 14].
Giá trị thứ 4: Chủ nghĩa nhân đạo mang sắc thái mới (chủ nghĩa dân chủ) mang
lại hạnh phúc, tự do cho con người từ khả năng chinh phục tự nhiên, chứ không
dừng lại ở lý tưởng như thời kỳ phục hưng. Chính vì tư tưởng đề cao lý trí mà
con người không an phận với những gì hiện hữu trong tự nhiên, chấp nhận những
10
gì thiên nhiên đã tạo. Con người không chấp nhận mình phụ thuộc vào thiên
nhiên và những thế lực siêu nhiên chi phối. Con người không chỉ tin vào khả
năng của mình mà bắt thiên nhiên phải phục vụ cho mình qua tư duy sáng tạo [4,
trang 9].
2.2. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN
PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI.
Hạn chế thứ 1: Chỉ thấy một mặt của quá trình nhận thức-mặt lý tính, do đó cơ
sở phương pháp luận này cũng mang tính siêu hình, phiếm diện (phương pháp
siêu hình tư biện).
Hạn chế thứ 2: Có những quan điểm triết học tiến bộ về lĩnh vực xã hội, nhưng
nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm trong việc giải thích vấn đề
xã hội và lịch sử.
Hạn chế thứ 3: Chịu ảnh hưởng của các quan niệm cơ học, cơ giới nên quan
điểm về thế giới mang tính duy vật siêu hình, máy móc; coi vận động không phải
tương tác giữa chủ thể ý thức - tri thức và đối tượng khách quan mà các hệ thống
triết học phổ thông trước không quan tâm đến vấn đề này. Descartes đã đặt vấn
đề về sự tương xứng giữa thế giới bên ngoài và nội dung của tri thức con người ;
và ông khởi đi từ một tiền đề không thể chối cãi về chủ thể ý thức - tri thức để
xây dựng một hệ thống triết học về sự hiện hữu của thế giới khách quan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Văn Mưa, Triết học phần I-Đại cương về lịch sử triết học, Thành
phố Hồ Chí Minh, Năm 2011.
2. Hoàng Xuân Việt, Lược sử Triết học Phương Tây, Nhà xuất bản tổng
hợp thành phố Hồ Chí Minh, Ngày xuất bản 05/04/2004.
12
3. Nguyễn Ước, Đại cương Triết học Tây Phương, Nhà xuất bản Tri
Thức, Ngày xuất bản 01/04/2009.
4. />nghia-duy-ly-trong-triet-hoc-descartes.html.
5. />part=thegioi&opt=triethoc&code=main&mainmenu=kienthuc
6. />7. />8. />Itemid=265&id=376&option=com_content&task=view
13