TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI & NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
CHỦ NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY
THỜI CẬN ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ,
HẠN CHẾ CỦA NÓGiảng viên hướng dẫn : TS. Bùi Văn Mưa
Người thực hiện : Nguyễn Thùy Liên
STT : 86 – Nhóm 9
Lớp : Cao học Đêm 5
Khóa : 21
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI 3
1.1 Siêu hình học 4
1.1.1 Lý luận về Thượng đế, giới tự nhiên và con người 5
1.1.2 Lý luận về linh hồn và nhận thức của con người 6
1.1.3 Các nguyên tắc phương pháp luận nhận thức 7
1.2 Khoa học 9
1.2.1 Trong lĩnh vực vật lý học 9
1.2.2 Trong lĩnh vực toán học 9
1.2.3 Trong lĩnh vực sinh học 10
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY LÝ
TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI 10

/>PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA CHỦ
NGHĨA DUY LÝ TƯ BIỆN PHƯƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI
Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của các nước Tây Âu trên tất cả
các mặt của đời sống xã hội. Đây cũng là thời kì phương thức sản xuất tư bản chủ
3
nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xuất thống trị ở Tây Âu. Nó đã
tạo ra những cơ hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa
học tự nhiên. Triết học thời kỳ cận đại nổi bật 4 trường phái: trường phái duy vật
kinh nghiệm-duy giác, trường phái duy lý –tư biện, trường phái duy tâm-bất khả
tri, triết học khai sáng và chủ nghĩa Pháp. Descartes là người đã đặt nền móng
cho trường phái duy lý – tư biện. Và sau đó đã được B. Spinoza và G.W. Leibniz
phát triển theo khuynh hướng duy vật và duy tâm khác nhau. Trường phái này là
“Trường phái triết học – siêu hình học đề cao lý tính, cố gắng hệ thống hóa toàn
bộ tri thức mà con người đạt được lúc bấy giờ dựa trên cơ sở phương thức tư duy
lý luận, nhằm giúp con người thoát ra khỏi cách nhìn thiển cận về thế giới” [2,
tr.144]. Có thể chia hệ thống triết học của các triết gia này thành hai bộ phận là
siêu hình học và khoa học.
1.1Siêu hình học
R. Descartes (1596 - 1650) là nhà triết học xuất sắc nhất của Pháp thế kỷ
XVII, ông đã bỏ qua hệ thống triết học kinh viện để bắt đầu với sự hoài nghi mọi
cái, và “Nghi ngờ phổ biến” là nguyên tắc phương pháp luận của triết học R.
Descartes. Ông cho rằng mọi chân lý đều bắt nguồn từ lý tính, và nghi ngờ là
biện pháp cần thiết để lý tính không mắc sai lầm trong nhận thức. Ông khẳng
định phải biết hoài nghi mọi cái mà chúng ta vẫn coi là đúng, nhưng hoài nghi để
tìm ra chân lý và phải coi nó là tiền đề chứ không phải là kết luận cuối cùng. Với
tư tưởng nghi ngờ phổ biến “R. Descartes đề cao tư duy, lý tính và coi thường
kinh nghiệm, cảm tính trong hoạt động nhận thức. Theo ông, mọi cái tồn tại chỉ
có thể trở thành chân lý khi chúng được đưa ra phán xét dưới “tòa án” của lý tính
nhằm tự bào chữa cho sự tồn tại của chính mình” [2, tr.145-146].

tự nhiên là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại độc lập, vĩnh viễn, tự nó sản sinh ra
nó” [2, tr.152-153].
Descartes xem con người là một sự vật đặc biệt vừa có linh hồn bất tử (tạo
thành từ thực thể tự nhiên) vừa có tinh thần khả tử (tạo thành từ thực thể vật
chất); “Là bậc trung gian giữa Thượng đề và Hư vô, nên con người vừa cao siêu,
không mắc sai lầm; vừa thấp hèn, có thể mắc sai lầm” [2, tr.147]. Ông cho rằng
con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác. Còn trong quan niệm của
5
Spinoza thì con người chính là dạng thức của thực thể, là sản phẩm của Giới tự
nhiên vì thế hoạt động của nó phải tuân theo tự nhiên. Vì là một dạng của thực
thể nên con người có thể xác và linh hồn, mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn là
mối quan hệ hữu cơ nên chúng không tách khỏi nhau và con người cũng nằm
trong quá trình phát triển hay diệt vong vì nó chỉ là một dạng thức của thực thể.
1.1.2 Lý luận về linh hồn và nhận thức của con người.
 Lý luận về linh hồn.
Theo R. Descartes thì linh hồn của con người bắt nguồn từ Thượng đế và
bao gồm hai phần là lý trí và ý chí. Lý trí mang lại khả năng nhận thức sáng suốt,
đúng đắn (lý tính). Còn ý chí mang lại khả năng tự do chọn lựa, phán quyết, là
cội nguồn dẫn dắt linh hồn sa vào sai lầm, nhầm lẫn (từ cảm tính). Linh hồn chứa
hai loại tư tưởng. Đó là tư tưởng bẩm sinh luôn đúng đắn (hoàn thiện) và tư
tưởng phái sinh có thể sai lầm (không hoàn thiện) do linh hồn tự nghĩ ra hay đưa
từ bên ngoài vào khi linh hồn tiếp xúc với thế giới xung quanh.
Khác với quan điểm của R. Descartes, Leibniz không thừa nhận sự tồn tại
của tư tưởng bẩm sinh, mà chỉ thừa nhận sự tồn tại những khả năng bẩm sinh của
con người. “Leibniz không coi linh hồn con người là “tấm bảng trắng” mà là “
viên đá trắng” có tiềm ẩn vô số đường vân” [2, tr.159].
 Quan niệm về nhận thức
R. Descartes, B. Spinoza, G.W. Leibniz và một số người khác theo chủ
nghĩa duy lý cho rằng “Kinh nghiệm dựa trên cảm giác con người không thể trở
thành cơ sở phương pháp chung cho mọi khoa học được. Tri giác và cảm giác là

bên trong của những sự vật đơn lẻ, mang lại những chân lý vĩnh hằng.
1.1.3 Các nguyên tắc phương pháp luận nhận thức.
Theo Descartes, một linh hồn vĩ đại cũng có thể sản sinh ra những điều
nhảm nhí, nếu nó không biết dựa vào một phương pháp luận đáng tin cậy. Vì vậy
Siêu hình học đưa ra các nguyên tắc chỉ đạo lý trí trong hoạt động nhận thức
nhằm khám phá ra chân lý. Theo ông, có 4 nguyên tắc phương pháp luận nhận
thức: “Một là: chỉ coi chân lý là những gì rõ ràng, rành mạch, không gợn một
chút nghi ngờ nào cả (nhờ vào trực giác). Hai là: phải chia đối tượng phức tạp
thành các bộ phận đơn giản cấu thành để tiện lợi trong việc nghiên cứu. Ba là:
7
quá trình nhận thức phải xuất phát từ những điều đơn giản, sơ đẳng nhất, dần dần
đến những điều phức tạp hơn. Bốn là: phải xem xét toàn diện mọi dữ kiện, tài
liệu để không bỏ sót một cái gì trong quá trình nhận thức” [2, tr.148-149]. Trên
lập trường duy lý, Descartes đặc biệt đề cao vai trò của phương pháp diễn dịch
trong việc xây dựng mọi tri thức khoa học lý thuyết.
Cũng như R. Descartes và B. Spinoza; G.W. Leibniz tích cự bảo vệ truyền
thống siêu hình học nhưng ông lại không hài lòng về các hệ thống siêu hình học
trước đó (kể cả hệ thống siêu hình học của R. Descartes và B. Spinoza), nên ông
đã xây dựng một hệ thống siêu hình học mới đóng vai trò nền tảng cho mọi khoa
học và hoạt động của con người. Theo ông “Hệ thống siêu hình học mới phải
khắc phục được cả chủ nghĩa nhị nguyên của Siêu hình học Descartes, lẫn chủ
nghĩa nhất nguyên cứng nhắc, nghèo nàn của Siêu hình học Spinoza và tiếp tục
khẳng định vai trò của tư duy lý luận” [2, tr.155]. Ông đã dựa vào 11 nguyên lý
để xây dựng hai nội dung cơ bản của Siêu hình học mới:
- 11 Nguyên lý của Siêu hình học mới: Nguyên lý về sự khác nhau phổ
biến, về sự đồng nhất, tính liên tục, tính gián đoạn, tính toàn vẹn, tính hoàn thiện,
về mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực, tính cần thiết tư duy lôgích, cơ sở đầy
đủ, mối liên hệ phổ biến, tính thống nhất giữa cực đại và cực tiểu để xây dựng
hai nội dung cơ bản của Siêu hình học mới.
- Hai nội dung của Siêu hình học mới:

Do đó mặc dù công nhận vạn vật trong giới tự nhiên chỉ tuân theo các quy luật
Newton nhưng ông phủ nhận quan điểm của Newton về không gian tuyệt đối và
thời gian tuyệt đối. “Ông đưa ra quan niệm về không gian tương đối và thời gian
tương đối. Bởi vì chúng chỉ là quan hệ tương đối của những sự vật với nhau và
thể hiện sự vật nằm trong sự vận động, phát triển” [2, tr.158].
1.2.2 Trong lĩnh vực toán học
Descartes có những tư tưởng biện chứng vượt trước thời đại. “Ông đã sửa
đổi lại đại số, dùng hình chỉ số và dùng số chỉ hình; dùng chữ để chỉ những đại
lượng biến thiên (x, y, z ), và đưa các đại lượng biến thiên vào trong toán học
bên cạnh những đại lượng không đổi (a, b, c )” [2, tr.150]. Từ đó, ông phát minh
ra hình học giải tích, hàm số và phương pháp đồ thị Với ý tưởng biện chứng
9
này, ông đã đặt nền móng cho toán học hiện đại. Đối với Descartes, toán học là
khoa học chính xác, rõ ràng, rành mạch nhất. Và phương pháp diễn dịch toán học
thể hiện rõ 4 nguyên tắc mà lý trí phải tuân theo để đạt chân lý nên nó là phương
pháp chung để thu được tri thức đúng đắn.
1.2.3 Trong lĩnh vực sinh học
Descartes khẳng định sự hình thành và phát triển của giới thực vật và
động vật mang tính tự nhiên. Cơ thể sinh vật là các cỗ máy có sẵn cơ chế phản
xạ, khi hoạt động nó sẽ sinh ra linh hồn thực vật và linh hồn động vật khả tử.
Theo ông con người là một cổ máy – hệ thống vừa có thể xác khả tử gắn liền với
linh hồn lý tính bất tử. Thể xác là khí quan vật chất của linh hồn (đời sống tinh
thần). Còn linh hồn là hoạt động tinh thần của thể xác. Trong nhân bản học,
Leibniz xem con người là sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác. Theo ông “Thể
xác chỉ là cái vỏ bề ngoài, linh hồn là cái bản chất tiềm ẩn bên trong. Ông cũng
xem con người là cái máy tự nhiên có tính tổ chức cao do Thượng đế tạo ra” [2,
tr.158-159].
Như vậy, có thể nói, tư tưởng triết học của trường phái duy lý tư biện vừa
là siêu hình học, vừa là vật lý học. Những lập luận có tính xác thực và khoa học
của các ông luôn pha lẫn với sự diễn dịch trừu tượng. Tuy nhiên, không phải vì

mạnh mẽ đến sự phát triển của khoa học, kĩ thuật sau đó. Trong toán học, “Ông
là nhà toán học đầu tiên phân loại các đường cong dựa theo tính chất của các
phương trình tạo nên chúng. Ông đã đóng góp vào lý thuyết về các đẳng thức và
là người đầu tiên dùng các chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái để chỉ các ẩn số và
dùng các chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái để chỉ các giá trị đã biết” [9]. “Ông đã
sáng tạo ra hệ thống ký hiệu để mô tả lũy thừa của các số và thiết lập ra phương
pháp để tìm số nghiệm âm, dương của bất cứ phương trình đại số nào” [9].
Descartes là tác giả của giả thuyết gió xoáy, một trong những giả thuyết
đầu tiên về sự hình thành của vũ trụ và thế giới. Ông cũng là người phát hiện ra
cơ chế phản xạ. Về quang học, “Descartes đã khám phá ra định luật cơ bản của
sự phản xạ: góc tới bằng góc phản xạ. Việc ông xem ánh sáng như một thứ áp lực
trên môi trường chất rắn đã dẫn đường cho lý thuyết sóng của ánh sáng” [9].
11
Descartes đã vạch rõ đường lối cho những người đi sau khi chứng thực
được giá trị của khoa học và của những phương pháp mà xưa kia người ta tìm ra
một cách mò mẫm. “Ông đưa những nhà triết học vào thế giới vật chất và cấm họ
không được lạc sang thế giới huyền bí nhưng viển vông của tinh thần” [6]. Ngoài
ra, “Những bác sĩ kiêm nhà triết học như Leroi, Lametri, Cabanis đã áp dụng
phương pháp của Descartes để nghiên cứu về thân thể. Kết quả của những cuộc
tìm kiếm ấy trong giới y học đã hình thành khoa thực nghiệm y học sau này” [6].
Đánh giá cao chủ trương xây đựng một hệ thống phương pháp luận mới,
một logic học mới của Descartes, “Hegel đã cố gắng xây dựng một hệ thống
logic học mới trên cơ sở tiếp thu những mặt tích cực của logic học trước đây
đồng thời khắc phục hạn chế của nó, đưa lại cho con người một phương pháp
luận triết học làm nền tảng cho mọi khoa học khác. Đó là phép biện chứng với tư
cách là học thuyết về sự phát triển” [6]. Trong học thuyết về tự nhiên, luận điểm
của Descartes về tính không bị tiêu diệt của vận động được Engels đánh giá như
một thành tựu khoa học vĩ đại.
Bên cạnh Descartes, Leibniz cũng đã công hiến cho nhân loại phép tính vi
tích phân. “Chính bằng những phương trình của phép tính này ông đã giải quyết

khoa học về mặt bản thể luận và phương pháp luận như mẫu lý tưởng về cái có
tính người trong con người và qua đó, cũng đã chứng minh được khả năng làm
người của mỗi người. Đây chính là tính chất nhân văn sâu sắc của triết học cận
đại và nó đánh dấu sự thống trị dường như tuyệt đối của triết học duy lý” [7].
Tư tưởng triết học gắn liền với con người thể hiện rõ nét trong quan điểm
của Spinoda, ông cho rằng tất cả các khoa học đi đến một mục đích là làm sao đi
đến sự hoàn thiện cao nhất của con người. Sự phát triển to lớn của sản xuất và
khoa học đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con người trong hoạt động thực
tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội theo nhu cầu của mình. “Spinoza coi con người là
mục đích cuối cùng của triết học” [2, tr.153]. Mặc dù trong triết học thời kỳ này,
con người mới được đề cập đến chủ yếu ở khía cạnh cá thể, còn mặt bản chất xã
hội con người chưa được đề cao, nhưng vị trí, vai trò của con người rất nổi bật.
“Spinoza là người sáng lập chế độ dân chủ và thúc giục giáo hội phải lệ
thuộc vào quốc gia. Ông bảo vệ quyền tự do bày tỏ ý kiến và trên tất cả, tìm cách
13
giải phóng con người khỏi sự sợ hãi” [4, tr.374]. Ông coi sự sùng bái tôn giáo là
sự ngưỡng mộ sai lầm do ảo tưởng của một tâm hồn yếu đuối. Theo ông “Sự bất
lực của con người trong cuộc đấu tranh với những ham muốn là sự “nô lệ”.
Nhiệm vụ của đạo đức làm tìm ra con đường khắc phục sự nô lệ ấy, tức là làm
chủ được tình cảm, điều khiển được ham muốn để đạt tới sự phát triển lành mạnh
và hạnh phúc chân chính của con người” [3, tr.127].
2.2. Những hạn chế của chủ nghĩa duy lý tư biện phương Tây thời cận đại.
 Hạn chế thứ 1: Chỉ thấy một mặt của quá trình nhận thức là mặt lý tính, do
đó cơ sở phương pháp luận này mang tính siêu hình, phiến diện.
Nếu chủ nghĩa kinh nghiệm tuyệt đối hóa nhận thức cảm tính thì các nhà
triết học duy lý lại tuyệt đối hóa vai trò của nhận thức lý tính, coi thường kinh
nghiệm cảm tính. Cả chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý đều phạm phải
sai lầm là sự phiến diện khi tuyệt đối hóa một mặt của nhận thức. Chủ nghĩa duy
lý với phương pháp diễn dịch có những hạn chế. Vì phương pháp suy diễn không
thể thực hiện được nếu không có những tiền đề được rút ra bằng phương pháp

vật chất. Điều này biểu hiện quan điểm duy tâm trong triết học Descartes” [10].
Cùng quan điểm với Descartes, Leibniz cũng xem “Con người là cái máy
tự nhiên có tính tổ chức cao do Thượng đế tạo ra” [3, tr.158]. Còn Spinoza là nhà
vô thần. “Nhưng chủ nghĩa vô thần của Spinoza còn hạn chế vì ông cho rằng mê
tín là cần thiết để xác định đạo đức, hành vi của quần chúng “ [7]. “Spinoza đưa
ra một quan niệm sai lầm khi gọi thực thể - giới tự nhiên là thần, tư tưởng là
thuộc tính của mọi vật chất, vạn vật đều có linh hồn. Vì vậy, triết học duy vật của
Spinoza được nhiều người coi là biểu hiện dưới cái vỏ phiếm thần luận” [12].
 Hạn chế thứ 3: Quan điểm về thế giới của các triết gia mang tính duy vật
siêu hình, máy móc. Vì vậy không vạch ra được mối liên hệ giữa các sự vật hiện
tượng và không xác định đúng đắn nguyên nhân của sự vận động và phát triển.
Do đặc điểm của khoa học tự nhiên thời kỳ cận đại ở các nước Tây Âu là
khoa học tự nhiên - thực nghiệm nên dẫn đến thói quen nhìn nhận đối tượng nhận
thức trong sự trừu tượng tách rời, cô lập, không vận động, không phát triển, nếu
có nói đến vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới, máy móc, kể cả con người
như những cổ máy. Descartes quy toàn bộ các dạng vận động thành vận động cơ
15
học thuần; không coi vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất mà chỉ xem là
biểu hiện cá biệt của các sự vật một cách bề ngoài. Giữa vận động và đứng yên
chẳng có mối quan hệ gì với nhau.
“Có thể nói hạn chế lớn nhất nhưng không thể tránh khỏi của triết học duy
vật thời cận đại là phương pháp siêu hình” [1, Tr.64]. Descartes phân biệt linh
hồn với thể xác và cho rằng “Thế giới vật chất là một thế giới riêng biệt và nó chỉ
tuân theo những luật của vật chất” [6]. Điều này cho thấy quan điểm siêu hình
trong lý luận của Descartes.
Học thuyết về thực thể của Spinoza cũng chưa thoát khỏi tính siêu hình
khi cho rằng “Thực thể bất động và bất biến, vận động không phải là thuộc tính
vốn có thực thể mà là một dạng thức vận động vô tận tách rời thực thể. Đây là
hạn chế của Spinoza trong việc giải thích nguồn gốc của vận động” [10].
“Spinoza không quan niệm được vật chất tiến triển tới một mức cao thì thành

cho con người tồn tại trong xu thế toàn cầu hoá. Với nền kinh tế hội nhập trên thế
giới thì sự tư duy để tìm ra những phát minh mới rất cần thiết. Và mỗi người ai
cũng cần tư duy để không phải lạc hậu giữa thế giới công nghệ thông tin phát
triển như hiện nay.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Văn Mưa, Triết học & Bức tranh vật lý học về thế giới, Nxb Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008.
2. Bùi Văn Mưa (chủ biên), Triết học phần I: Đại cương về lịch sử triết học
(dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành
triết học), Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, 2010.
3. Đoàn Quang Thọ, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và
nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb Lý luận Chính
trị, Hà Nội, 2006.
4. Nguyễn Ước, Đại cương Triết học phương Tây, Nxb Tri thức, 2009.
5. Nguyễn Tấn Hùng, Những quan niệm khác nhau trong lịch sử triết học về
bản chất, con đường nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý.
< />vientriet=articles_deltails&id=611&cat=48&pcat=>
6. Lê Thanh Sinh, Vị thế và ảnh hưởng của triết học Descartes trong lịch sử
triết học, Tạp chí Triết học, 2007.
< />7. Trần Đức Thảo, Lịch sử tư tưởng trước Marx, Nxb Khoa học Xã hội,
1995, trang 342-373.
< />option=com_content&view=article&id=251:lch-s-t-tng-trc-marx-phn-
8&catid=40:trn-c-tho&Itemid=203>
8. />Itemid=265&id=376&option=com_content&task=view
9. />10. />11. />12. />Xpinoda
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status