rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự trong quá trình dạy văn bản tự sự cho học sinh lớp 6 - trung học sơ sở - Pdf 24

1
Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học s phạm hà nội
Lêthị anh
Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự
trong quá trình dạy văn bản tự sự cho
học sinh lớp 6 Trung học cơ sở
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Hà nội , năm 2004
Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học s phạm hà nội
Lêthị anh
Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự
trong quá trình dạy văn bản tự sự cho
học sinh lớp 6 Trung học cơ sở
Chuyên ngành: phơng pháp dạy học tiếng việt
Mã số: 50702
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Ngời hớng dẫn khoa học: GS - TS Lê A
Hà nội , năm 2004
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, em xin chân thành cảm
ơn GS – TS Lê A – Người thầy đã hết lòng tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học
Tiếng Việt, tổ Lí luận ngôn ngữ khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội
đã giúp đỡ và đóng góp cho em những ý kiến quớ bỏu.
2
Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các em học sinh ở các
trường thực nghiệm, cảm ơn tất cả bạn bè, người thân trong gia đình đã giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn này.

1.1. Một số vấn đề chung về văn bản tự sù - đoạn văn tự sự 17
1.1.1. Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt 17
1.1.2. Khái niệm về văn tự sự 18
1.1.3. Đoạn văn và đoạn văn tự sự 21
1.2. mối quan hệ giữa việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự với các
kỹ năng làm văn khác trong quá trình dạy văn tự sự cho học sinh líp 6 –
Trung học cơ sở 26
1.2.1. Khái niệm về kỹ năng 26
1.2.2. Một số kỹ năng làm văn cơ bản cần rèn luyện cho học sinh khi
dạy học văn bản tự sự 27
1.3. Thực trạng dạy và học đoạn văn tự sự ở trung học cơ sở 33
1.3.1. Khảo sát sách giáo khoa 33
1.3.2. Khảo sát tình hình dạy của giáo viên Trung học cơ sở 34
1.3.3. Khảo sát kỹ năng viết đoạn văn tự sự của học sinh 38
Stt 38
Ch ng IIươ 44
rèn luy n cho h c sinh k n ng vi t o n v n t s thông qua h ệ ọ ỹ ă ế đ ạ ă ự ự ệ
th ng b i t pố à ậ 44
2.1. Bài tập và nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 44
2.1.1. Vị trí và tầm quan trọng của bài tập 44
2.1.2. Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 45
2.2. Giới thiệu hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự 46
2.2.1. Bài tập phân tích – nhận diện đoạn văn tự sự 50
2.2.2. Bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở bài 52
2.2.3. Bài tập rèn luyện kỹ năng viết các đoạn phần thân bài 60
2.2.3.2. Bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn mô tả ngoại hình nhân
vật 62
2.2.3.3. Bài tập rèn luyện kỹ năng kể về các sự việc, các hành động
xảy ra với nhân vật 64
2.2.3.4. Bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn có lời đối thoaị 67

3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm 103
3.4.1. Đánh giá kết quả thực hiện giáo án thực nghiệm 103
3.4.2. Kết quả đo nghiệm 104
Tổng số bài đối chứng: 122 bài 104
Kết quả bài làm của học sinh ở hai líp thực nghiệm và đối chứng được
chúng tôi ghi lại trên sơ đồ sau: 104
3.5. Kết luận chung về thực nghiệm 105
Phần kết luận 106
PHỤ LỤC 1 109
5
PHỤ LỤC 2 111
Tài liệu tham khảo 117
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ý nghĩa lý luận
Tập làm văn là phõn mụn được học ở tất cả các cấp học: Tiểu học, Trung
học cơ sở, Trung học phổ thông. Ngay cả ở các trường Đại học đặc biệt là Đại
học sư phạm, môn học này chiếm một vị trí quan trọng, được xếp ngang hàng
với tất cả các môn học khác. Từ sau cải cách giáo dục Tập làm văn được xem là
phõn mụn của Tiếng Việt. Theo chương trình dạy học mới, dạy học theo quan
điểm tích hợp thì Tập làm văn được xem là phõn mụn của Ngữ văn. Phõn mụn
này cũng góp phần giúp học sinh tiếp xúc và hướng tới xây dựng các văn bản
thông thường. Ở cấp Trung học cơ sở Tập làm văn là phõn mụn chiếm nhiều số
tiết: từ tự sự, miêu tả cho đến biểu cảm, nghị luận, hành chính công vụ… Trong
những kiểu văn bản Êy thì kiểu văn bản tự sự được học ở líp 6 chiếm vị trí quan
trọng trong chương trình.
Tập làm văn là môn thực hành – tổng hợp. Dạy Tập làm văn không chỉ
dạy cho học sinh nắm được các đơn vị lý thuyết mà chủ yếu dạy những kỹ năng
thực hành như: kỹ năng tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết đoạn… Xuất phát
từ đặc trưng loại hình văn tự sự, thông qua những câu chuyện về đời sống, những

bản, cách xây dựng các kiểu văn bản trong đó có dạy học kiểu văn bản tự sự ở
líp 6 Trung học cơ sở. Vì là môn mang tính chất thực hành - tổng hợp, lý
thuyết Tập làm văn là lý thuyết về kỹ năng, lý thuyết của những cách thức và
phương pháp, cho nên giáo viên ở trường Trung học cơ sở phần lớn là ngại dạy,
học sinh thì ngại làm bài. Nằm trong tình trạng đú thỡ việc dạy học kiểu văn bản
tự sự vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm.
7
Theo quan điểm dạy học tích hợp, lấy học sinh làm trung tâm, từ đó phát
huy vai trò chủ động, sáng tạo của học sinh, sách giáo khoa Ngữ văn 6 so với
sách chỉnh lý có cấu trúc rất khác về nội dung và hình thức, trong đó có cả Tập
làm văn. Đây là một sự thay đổi lớn không chỉ về nội dung hình thức, mà cả về
phương pháp dạy và học.
Sù thay đổi các văn bản mẫu, các ngữ liệu dạy và học Tập làm văn đòi hỏi
yêu cầu rất lớn đối với người dạy. Giáo viên trực tiếp dạy chương trình Ngữ văn
6 còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh dựng đoạn. Làm sao để một giê
học vừa đảm bảo định hướng tích hợp, vừa không khô khan cứng nhắc. Dạy Văn
phải hé mở được phần Tiếng Việt và Tập làm văn. Dạy Tập làm văn và Tiếng
Việt phải hướng tới Văn học. Đó là vấn đề tương đối khó đặt ra cho phía người
dạy. Về phía học sinh chất lượng làm bài về kiểu văn bản tự sự còn chưa đáp
ứng được yêu cầu, đặc biệt ở một số kỹ năng: phân tích đề, chọn ý, lập dàn ý,
viết lời giới thiệu thuyết minh, dựng đoạn văn tự sự, liên kết đoạn văn tự sù.
Xuất phát từ thực trạng trên, luận văn của chúng tôi mong muốn đề xuất
được hệ thống bài tập viết đoạn văn tự sự tương ứng với lí thuyết về đoạn văn,
phù hợp với điều kiện giảng dạy trong nhà trường phổ thông hiện nay.
Định ra hệ thống bài tập thích hợp, chúng ta vừa giúp cho giáo viên cú thờm
tài liệu, điều kiện giảng dạy vừa giúp học sinh có khả năng, phương tiện và điều
kiện vận dụng lí thuyết, để hình thành những kỹ năng cần có trong việc xây dựng
đoạn văn nói chung và đoạn văn tự sự nói riêng. Do đó chúng tôi chọn “Rốn
luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự trong quá trình dạy văn bản tự sự cho học sinh
líp 6 – Trung học cơ sở” làm vấn đề nghiên cứu.

về kết quả dạy học. Việc sử dụng hệ thống bài tập kỹ năng xây dựng đoạn văn tự
sù như là một phương tiện dạy học có cơ sở khoa học và thực tiễn cao cần được
phối hợp với các kỹ năng khác để hình thành một hệ thống kỹ năng tổng hợp
trong làm văn.
9
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chúng tôi xây dựng nhằm hướng hiệu quả đến việc làm văn (cũng
như học Ngữ văn) của học sinh líp 6 – Trung học cơ sở. Vì vậy vấn đề đặt ra
cũng đòi hỏi phải phù hợp với đối tượng là học sinh líp 6.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào nội dung, cách thức tổ chức
dạy và học viết đoạn văn tự sự cho học sinh líp 6 – Trung học cơ sở.
Dùa vào các kỹ năng xây dựng đoạn văn, hệ thống bài tập đề xuất trong
luận văn được chia thành:
- Bài tập phân tích - nhận diện đoạn văn tự sự.
- Bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở bài.
- Bài tập rèn luyện kỹ năng viết các đoạn thân bài.
- Bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn kết bài.
- Bài tập liên kết các đoạn văn tự sự.
Việc luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự sẽ được chúng tôi tìm hiểu trong
quá trình dạy và học văn bản tự sự ở líp 6. Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài “Rốn
luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự” chúng tôi tập trung vào nội dung cách thức tổ
chức dạy và học cách viết đoạn văn tự sự cho học sinh líp 6 theo chương trình
Ngữ văn từ năm học 2002 – 2003.
4. Lịch sử vấn đề
Những vấn đề về văn bản được đề cập đến từ những năm 50, 60 ở thế kỷ
xx với những tên tuổi như: T.A.Van Djk, R.de.Beaugude, Dvessler, G.kasai…
Tỏc giả H.Harmann đã từng khẳng định: “Cỏc kớ hiệu ngôn ngữ chỉ bộc lộ
mỡnh chừng nào chúng là những cái gắn bó với nhau trong văn bản” [10, 40],

cũng không đặt ra yêu cầu sáng tạo một câu chuyện mà chỉ dùa vào văn bản
mẫu, kể lại bằng điệu bộ, ngôn ngữ của người kể.
11
Đến năm học 2002 – 2003, sách giáo khoa Ngữ văn 6 được áp dụng trên
toàn quốc. Thay vì học 15 thể loại như trước đây, chương trình Ngữ văn theo
quan điểm tích hợp tập trung vào sáu kiểu văn bản – tương ứng với sáu phương
thức diễn đạt: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh, điều hành. Văn tự
sự được hình thành từ ba thể loại văn trước đây: Trần thuật - tường thuật - kể
chuyện. Trong sách giáo viên “Ngữ văn 6” đã Ýt nhiều bàn đến phương pháp
dạy học kiểu văn bản tự sự nhưng chủ yếu là những gợi ý, định hướng chung
nhất. Điều đó khẳng định một phần vị trí quan trọng của kiểu văn bản tự sự trong
chương trình dạy học phổ thông cũng như vị trí của nó trong việc tạo lập và lĩnh
hội văn bản nói chung. Qua sự khảo sát một số tài liệu, chúng tôi thấy có thể
khẳng định rằng: những vấn đề liên quan đến văn tự sự cần có sự quan tâm ở
mức độ sâu sắc hơn, tương xứng với vị trí của kiểu loại văn bản này.
Từ vấn đề văn tự sự ở nhà trường Trung học cơ sở, vấn đề đoạn văn tự sự
và việc dạy học đoạn văn tự sự lại càng là vấn đề mới mẻ. Bởi vì, đoạn văn tự sự
và khái niệm đoạn văn đã được các nhà nghiên cứu Ngữ pháp văn bản đề cập
đến trong các tài liệu mà chúng tôi đã dẫn ra ở trên. Trong cuốn “Luyện tập cách
lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thụng” (Nguyễn Quang Ninh
chủ biên, nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội) có một hệ thống bài tập khá
phong phú về các loại đoạn văn nghị luận.
Từ những năm 1989, các tác giả Lê A - Đình Cao đã đưa ra cách hiểu về
đoạn văn, các kiểu mô hình cấu trúc đoạn văn, cỏch tỏch đoạn, liên kết đoạn
văn, qui trình viết đoạn văn vào nội dung của sách giáo khoa Làm văn 11. Bên
cạnh việc đưa ra mét quan niệm khoa học về đoạn văn các tác giả còn đề xuất
một hệ thống bài tập phong phú nhằm rèn luyện kỹ năng nhận diện và viết đoạn
văn. Cùng thời gian này, cuốn “150 bài tập rèn luyện rèn luyện kỹ năng dựng
đoạn” của tác giả Nguyễn Quang Ninh cũng đã đề xuất một hệ thống bài tập
dựng đoạn, biến đổi đoạn…với những kiểu dạng bài tập và cách thức chuyển,

13
Bên cạnh đó, chúng tôi tập trung đọc và phân tích những vấn đề lý thuyết về
đoạn văn, xung quanh đoạn văn:
+ Quan điểm về đoạn văn
+ Cách luyện viết đoạn văn trong văn bản
+ Các kỹ năng sử dụng khi viết đoạn văn
Ngoài ra, chúng tôi còn sưu tầm, tuyển chọn những bài tập, những đoạn văn
mẫu hoàn thiện cả nội dung và hình thức, thuộc kiểu văn bản tự sự. Với cách làm
này, một mặt chúng tôi dễ dàng định hướng được đề tài, mặt khác xác định phạm
vi lý thuyết phù hợp với đề tài đưa ra.
Như vậy, để hình thành kỹ năng viết đoạn văn tự sự cho học sinh líp 6, chúng
tôi kết hợp cả lý thuyết và thực hành. Qua phân tích, chúng tôi sẽ tìm ra con
đường ngắn nhất để giúp học sinh rèn luyện được kỹ năng viết đoạn văn tự sự.
5.2. Phương pháp điều tra khảo sát
Thông thường, để đi đến một kết luận, một nhận định đúng đắn người nghiên
cứu cần phải thông qua cỏc khõu điều tra, khảo sát thực tế để có những cơ sở
thiết thực trong việc nghiên cứu.
Với phương pháp này, chúng tôi đã chọn đối tượng khảo sát là một số trường
Trung học cơ sở thuộc hai đối tượng: học sinh quốc lập thành phố và học sinh
quốc lập nông thôn.
Trong quá trình khảo sát chúng tôi tiến hành khảo sát bài làm về kiểu văn
bản tự sự: học sinh viết theo hình thức nào, những kỹ năng dựng đoạn được được
các em vận dụng khi viết đoạn văn ra sao, dung lượng đoạn văn như thế nào…
Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành khảo sát các giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ
môn Ngữ văn líp 6 ở nhà trường Trung học cơ sở về cách tổ chức dạy học sinh
cách viết đoạn văn tự sù.
Ngoài ra, còng qua tiến hành khảo sát, chúng tôi cú thờm những ý kiến
đóng góp từ phía đồng nghiệp và học sinh.
14
5.3. Phương pháp thực nghiệm

1.1. Mét số vấn đề chung về văn bản tự sù - đoạn văn tự sự.
1.2. Mối quan hệ giữa việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn tự sự
với các kỹ năng làm văn khác trong quá trình dạy văn bản tự
sự cho học sinh líp 6 - Trung học cơ sở.
1.3. Khảo sát thực trạng của việc dạy và học đoạn văn tự sự ở
Trung học cơ sở.
Chương hai: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đoạn văn tự sự thông
qua hệ thống bài tập.
Nội dung chương này gồm:
2.1. Bài tập và nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập
2.2. Giới thiệu hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn
tự sự
2.3. Hiện thực hoá, triển khai việc dạy hệ thống bài tập viết đoạn
văn tự sự qua cỏc giờ dạy.
Chương ba: Thực nghiệm sư phạm.
Chương này nêu rõ mục đích, đối tượng và phương pháp thực nghiệm. Mô
tả toàn bộ quá trình thực nghiệm và bước đầu có những đánh giá nhất định về
tính khả thi của đề tài.
Phần kết luận
Trong phần này, chúng tôi khái quát lại những nội dung cơ bản đã trình
bày trong luận văn, khẳng định việc có thể thực thi những vấn đề đó nờu ở phần
nội dung vào thực tế giảng dạy.
16
phần nội dung
chương I
Đoạn văn tự sự và việc dạy Đoạn văn tự sự ở líp 6
Trung học cơ sở
1.1. Một số vấn đề chung về văn bản tự sù - đoạn văn tự sự
1.1.1. Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt
Tập làm văn là phõn mụn được học ở tất cả cỏc cỏc cấp học, với nhiều thể

Thứ ba: Văn tự sự góp phần làm cho học sinh hiểu hơn về phần Văn học
và Tiếng Việt, đảm bảo phương pháp dạy học tích hợp của môn Ngữ văn.
1.1.2. Khái niệm về văn tự sự
Lí luận văn học quan niệm: “Tự sự là phương thức tái hiện đời sống bên
cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại
tác phẩm văn học”. [45, 328]
Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống
trong không gian, thời gian, các sự kiện xảy ra trong cuộc đời con người.
18
Trong tác phẩm tự sự nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài
mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh là một thế
giới tạo hình xác định đang tự phát triển, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn
của nhà văn.
Tác phẩm tự sù bao giê cũng có cốt truyện. Gắn liền với cốt truyện là một
hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và
kịch. Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện được triển khai, nhân vật được khắc họa
nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng bao gồm chi tiết sự kiện
xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, ngoại cảnh, phong cảnh… và
cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng mà không nghệ thuật nào tái hiện được.
Những đặc điểm nói trên làm cho tác phẩm tự sù trở thành loại văn học có
khả năng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người hiện đại.
Có thể dùa vào tiêu chí nội dung hoặc tiêu chí hình thức để phân chia tác
phẩm tự sự thành các thể loại nhỏ hơn. Chia theo nội dung thể loại, ta sẽ có: tác
phẩm mang chủ đề lịch sử dõn tộc, thế sù - đạo đức, đời tư. Chia theo hình thức
ta sẽ cú cỏc loại cơ bản: anh hùng ca, truyện, tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ
ngụn…
Tập làm văn quan niệm: “Tự sự là phương thức trình bày một chuỗi sự
việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng thể hiện một kết thúc, thể hiện
một ý nghĩa. Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn
đề và bày tỏ thái độ khen chờ.” [ 48, 49]

20
động kể việc, thuật việc trình bày diễn biến sự việc, còn thể loại tự sự trong văn
học bao gồm cả kể và miêu tả.
Trong văn tự sự có văn miêu tả. Văn miêu tả trong văn tự sự không chỉ
đơn thuần là “vẽ” lại chân dung nhân vật đơn lẻ như ở miêu tả người. Văn tự sự
cũng khắc họa chân dung nhân vật nhưng là chân dung nhân vật tồn tại trong
hoạt động, trong mối quan hệ với nhiều nhân vật khác và sự biến đổi không
ngừng của câu chuyện.
Như vậy, thao tác chính trong bài văn tự sự là kể, trình bày. Vì thế để học
sinh dễ hiểu khái niệm “tự sự” thường được thay bằng khái niệm “kể chuyện”
nhưng nó bao hàm cả tường thuật, trần thuật.
Văn tù sự chia làm hai dạng: kể chuyện từ đời sống và kể chuyện tưởng
tượng.
Kể chuyện từ đời sống là kể người thực, việc thực ta thường gặp trong
cuộc sống hàng ngày. Yêu cầu của dạng văn này là phải tôn trọng sự thực. Có
thể phân
làm hai loại: kể chuyện danh nhân và kể chuyện đời thường.
Khái niệm, kể chuyện tưởng tượng chỉ mang tính chất ước lệ. Bởi vì kể
chuyện bao giê cũng phải tưởng tượng để hình dung sự việc và kể cho người
khác nghe. Kể chuyện tưởng tượng là tưởng tượng cụ thể về số phận và cuộc
sống của một sự việc, về một kết thúc khác của câu chuyện đã viết. Kể lại
chuyện cổ tích theo cách nhìn mới, một cách hiểu mới. Người kể phải hoỏ thõn
thành nhân vật, thậm trí phải thay đổi ngôi kể để chuyện hấp dẫn hợp lý.
1.1.3. Đoạn văn và đoạn văn tự sự
1.1.3.1. Quan niệm về đoạn văn
Xung quanh khái niệm đoạn văn đã tồn tại những cách hiểu khác nhau. Có
quan niệm cho rằng: Đoạn văn bắt đầu bằng dấu hiệu mở đoạn (lùi vào đầu
dòng, viết hoa) và được kết thúc bằng dấu hiệu ngắt đoạn (dấu ngắt phát ngôn và
xuống dòng).
21

toàn hợp lí. Sách Tiếng Việt líp 9 quan niệm đoạn văn trên một số phương diện
sau:
Đoạn văn là phần văn bản tính từ chỗ viết hoa lùi vào đầu dòng đến chỗ
chấm qua dòng.
- Đề tài trong đoạn văn là vật, việc, hiện tượng chính được đề cập đến
trong đoạn văn.
1.1.3.2. Đoạn văn tự sự
Xột các ví dụ sau đây:
Vớ dô 1: “Trỏng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun
lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chỳng đỏnh hết líp này
đến lớp khỏc, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gẫy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre
cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy
trèn, tráng sĩ đuổi đến chõn nỳi Súc. Đến đây, một mình một ngựa, tráng sĩ lên
đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời”.
(Thỏnh Gióng –Ngữ văn 6, tập I)
Vớ dô 2: “Khi đã luống tuổi, Ngọc Hoàng thượng đế sinh một người con
gái, mặt hoa da tuyết, thợ giỏi khó vẽ hết tinh thần, nét hoạ cung đàn, tài giỏi
không chỉ riêng nghề mọn. Nếu là một gã râu mày, thì quyết đứng đầu hàng khoa
giáp. Tuổi vừa đôi tám, tên gọi là Ngọc Tỷ. Ngọc Hoàng mở một lầu kén rể, biển
đề là “Đói phượng lõu”. Cho tất cả thiên hạ được tự do đến ứng tuyển.”
(Ngọc nữ về tay chân chủ [26])
Vớ dô 3: “Chẳng bao lâu, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa bé không
chân, không tay, tròn như một quả dừa. Bà buồn lắm, toan vứt đi thì đứa con
bảo:
- Mẹ ơi, con là người đấy. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp.
Nghĩ lại, thấy thương con, bà đành để con lại nuôi và đặt tên cho nó là Sọ
Dừa.”
(Sọ Dừa, Ngữ văn 6, tập I)
23
Vớ dô 4: “Vị quan nọ bảo:

nhau về ngữ nghĩa (một chủ đề duy nhất) hoặc về ngữ dụng (tính duy nhất về
đớch)” [12, 313].
Cấu trúc tổng quát của mét đoạn thoại có thể là:
- Đoạn thoại mở thoại
- Thân cuộc thoại.
- Đoạn thoại kết thúc.
Từ những khái niệm trên, có thể đi đến khẳng định: Tự sự là phương thức
trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn
đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.
Bài văn tự sự gồm nhiều đoạn văn. Đoạn văn tự sự là đoạn văn góp phần
tạo nên bài văn tự sự. Đoạn văn tự sự có thể giới thiệu về nhân vật (lai lịch, tên
họ, quan hệ, tính tình, tài năng…) hoặc kể về các việc làm, hành động, lời nói,
kết quả và sù thay đổi do các hành động Êy đem lại. Đoạn văn tự sự có thể là
những đoạn có sử dụng đối thoại. Ở những đoạn thoại có lời đối đáp giữa các
nhân vật thường tương ứng với một đoạn thoại, tức là đoạn đối thoại Êy nhằm
hướng đến một nội dung nào đó trong toàn bộ nội dung của văn bản. Đoạn thoại
có thể gồm nhiều cặp thoại cùng hướng đến một nội dung nào đó trong toàn bộ
cuộc thoại.
Như vậy, phần văn bản (1) trích dẫn ở trên là một đoạn văn tự sự tương
ứng với nội dung: Gióng trở thành tráng sĩ xông trận, đánh giặc xong, cởi áo giáp
sắt để lại, bay thẳng về trời. Phần văn bản (2) là một đoạn văn tự sự với nội dung
giới thiệu về tài sắc của nhân vật Ngọc Tỷ con gái Ngọc Hoàng thượng đế. Phần
văn bản (3) với nội dung: tâm trạng của bà mẹ sau khi sinh con và thái độ của Sọ
Dừa khi nói với mẹ. Phần văn bản (2) gồm hai đoạn văn tự sự, tương ứng với hai
nội dung: mong muốn được dâng ngọc quý cho vua của người nông dân và điều
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status