Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
NIÊN LUẬN
TÌM HIỂU TỤC LỆ “ĂN TRẦU” TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI VIỆT
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Bảo Trang
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Mai
Lớp : K49 Lịch sử
Hà Nội -2007
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam ta có 54 dân tộc sinh sống, đa dân tộc,
đồng thời cũng đa bản sắc dân tộc , mỗi dân tộc có một nét văn hoá
riêng, nhưng do sự giao thoa, tiếp xúc giữa các nền văn hoá, mà các
dân tộc này có những phong tục, tập quán giống nhau. Trong đó có
tục lệ ăn trầu, một phong tục văn hoá truyền thống của người Việt,
không chỉ dân tộc kinh ăn trầu mà ở một số dân tộc khác cũng ăn
trầu, mà còn dùng trầu cau vào các nghi lễ lớn như cưới xin, cúng gia
tiên, đám ma, ngày lễ tết… có lẽ trầu cau là một thứ mà không thể
thiếu được trong văn hoá cổ truyền của dân tộc ta. Mặc dù ngày nay,
một số nghi thức đã mất dần đi, thêm vào đó là những nét văn hoá
hiện đại, tục lệ ăn trầu bắt nguồn từ sự tích trầu cau được trích trong
Lĩnh Nam chích quái, mà Trần Thế Pháp đã nêu ra. Gắn liền với tục
ăn trầu là những hiện tượng văn hoá phong phú mà người xưa thường
làm. Qua tục ăn trầu ta có thể hiểu thêm về nếp sống, một nếp cảm
nghĩ, mối quan hệ tình cảm giữa những người lao động cùng những
ước mơ lành mạnh của họ bắt nguồn từ xa xưa. Ngày nay, số người
vặt, còn mờ nhạt trong dân gian trở thành một truyện cổ tích có đầu
đuôi, vừa lý thú hấp dẫn, vừa hàm chứa nhiều ý nghĩa thâm thuý.
+ Ở giai đoạn đầu truyện có tính hiện thực với dấu vết hiện đại,
với những tên tuổi rõ ràng, có ý nghĩa, với những tình tiết hợp lý, tự
nhiên. Ở giai đoạn cuối, truyện trở nên huyễn hoặc hai anh em họ
Cao và vợ người anh vì không hiểu nhau nên đã tự chia lìa chỉ đến
khi cả ba người cùng chết đi và chết bên nhau, người anh hoá cây
cau, người em hoá phiến đá, vợ người anh hoá cây trầu không, họ
mới có được sự cảm thông hoàn toàn, từ nay họ sẽ mãi mãi gắn bó
bên nhau và kết hợp làm một qua miếng trầu tình nghĩa , một dòng
nước đỏ tươi như máu được tiết ra, tượng trưng cho tình gia đình
muôn đời thiêng liêng, bền chặt.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trần Thế Pháp, cũng như các tác giả đời Lê khác, khi viết lại
sự tích trầu cau nói riêng, dàn dựng lại những truyện huyền thoại dân
gian trong Lĩnh Nam Chích Quái nói chung, hiển nhiên đã có hậu ý
đề cao những giá trị cũ của dân tộc với mục đích phổ biến để giáo
dục con em theo tinh thần 24 điều dụ của Lê Thánh Tông. Có lẽ bắt
đầu từ đấy (cuối thế kỷ XV) các truyện cổ tích, thần thoại nói chung,
truyện trầu cau nói riêng mới được truyền bá rộng rãi trong toàn
quốc.
Riêng trong sự tích Trầu cau, các tác giả muốn giải thích cho
mọi người rằng, dân tộc ta đã có một đời sống văn hoá khá cao ngay
từ xưa từ thời Hùng Vương kia (Theo Đại việt sử lược, vào khoảng
thế kỷ VII trước Tây lịch). Ngay từ thuở đó, xã hội Việt Nam có
truyền thống lấy gia đình làm gốc, anh em biết thương quý nhau, trên
kính dưới nhường, vợ chồng lấy nhau vì tình, vì nghĩa, và người đàn
bà đã biết chọn đời chung thuỷ son sắt với chồng… Không phải đợi
đến khi bọn phong kiến Trung Hoa sang đô hộ nước ta, giáo hoá ta,
thuốc lào”.
Trầu có trong miệng, mỗi miếng trầu gồm một miếng cau khô
hoặc tươi, một miếng lá trầu không quét vôi, một miếng vỏ cây chát
(cây chay, cây vỏ đỏ) ăn trầu có vị cay thơm, nó trừ được mùi hôi
trong mồm, các chất trong lá trầu, hạt cau và vôi có tác dụng làm
chắc chân răng. Mùa đông giá rét, ở những người làm nông nghiệp đó
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
họ thường phải lội xuống nước, làm việc không ngơi nghỉ, nhai trầu
làm cho người ấm lên, đỡ được phần giá buốt.
Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm tục ăn trầu nó tiềm ẩn một triết
lý về sự tổng hợp của nhiều chất khác nhau:
+ Cây cạu vườn cao là biểu tượng của trời (dương).
+ Vôi - chất đá là biểu tượng của đất (âm)
+ Dây trầu mọc lên từ đất quân quýt lấy thân cây biểu tượng
cho vũ trụ trung gian hoà hợp. Sự tổng hợp biện chứng của âm dương
tam tài ấy tạo nên một kết hợp hết sức hài hoà. Miếng trầu có cái tươi
ngọt từ hạt cau, cái cay của lá trầu, cái nồng nàn của vôi, cái bùi của
rễ… Tất cả tạo nên một chất kích thích, làm cho thơm mồm, đỏ môi
và khuôn mặt người ăn bừng bong như say rượu. Ăn trầu có nhai mà
không nốt, nó mang một tính cách linh hoạt khó thấy - không thuộc
loại ăn, mà cũng không thuộc loại uống, cũng không thuộc loại hút”.
Chính vì vậy trầu cau đã trở thành một thứ không thể thiếu
trong sinh hoạt tinh thần của người Việt.
II. TRỒNGTRẦU CAU:
Cây cau thẳng tắp, cây trầu không mềm mại trên mảnh vườn
nho nhỏ của mỗi gia đình người Việt xưa kia, chúng là những thứ cây
quý giá, thể hiện một lối sống thanh bình, yên ả, một cuộc sống định
canh, định cư thuộc nền nông nghiệp lú nước. Trong xã hội Âu Lạc
nền văm minh nông nghiệp khá phát triển cho nên “nhà nào cũng có
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quê, để thể hiện cốt cách. “sống thẳng như cau, sống thơm như quế”.
Thậm chí có người còn “chơi” cau Ta lẫn với cau Nhật (lùn)ư, câu
sâm banh “bụng phệ”. Buồng cau, khay trầu chỉ còn là chút lễ nghĩa
tượng trưng trong ngày cưới hỏi. Trái cau được dán têm cánh phượng
màu đỏ, hồng lấp lánh, cách điệu, song không còn “thay chủ” gửi
gắm những thông điệp, ý nghĩa sâu xa như ngày xưa.
Dẫu vậy, các miền quê ở Quảng Nam, vẫn còn xanh mướt
những vườn cau ngút thẳng. Cây cau được trồng rộ khắp nơi, vừa
phục vụ ăn trầu, lễ lạt, vừa xuất khẩu sang nước ngoài, và chuyển
sang dịch vụ cây. Việc gìn giữ và khôi phục nét văn hoá Trầu cau
không phải quá khó với vùng quê này.
Cây cau thẳng, dây trầu mềm, khắp xứ sở Việt Nam đâu mà
không thấy, hàng cau phía trước bên bể nước mưa và giàn trầu trong
mỗi ngôi nhà nơi thôn dã luôn là biểu hiện của sự thái bình. Trong
Nam có 18 thôn vườn trầu, tổng diện tích hàng trăm câu số vuông.
Ngoài Bắc, dọc các thôn xóm ven sông Hồng, ngày xưa tới đâu mà
chẳng nghe câu hát:
“Ru con con ngủ cho rồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam phố, mua trầu chợ Dinh”.
Và ở miền Trung, đâu đâu cũng thấy thấp thoáng bóng cau và
văng vẳng đâu đây câu hát:
“Bồng em mà bỏ vô nôi.
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu,
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mau cau Bát Nhị, mua trầu Hội An”.
voe chay, chứng tò người Việt dã tự giác làm tăng vị đạm cho miếng
trầu trong quá trình giao lưu văn hoá với các dân tộc khác
1.2. Bổ cau:
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm 6 mời anh xơi trầu.
Quả cau to có thểbổ làm 6miếng, mỗi khẩu trầu ding 1/6 quả
cau, quảnhỏ hơn, bổ tư. Ở Nam bộ, quả cau to người ta thường bổ
làm 8 miêng, quả cau được dóc vỏ xanh, tiện bỏ chũm rồi mới bổ ra
thành miếng. Dao bổ cau phỉ chọn dao sắc miếng cau mới đẹp do đó
ngôn ngữ Việt có từ “dao cau” để chỉdao sắc và lion dó là sự hình
thành mỹ từ pháp “mắt sắc như dao cau”.
Mùa cau là mùa nắng hanh, người Việt phơi cau để dành ding
quanh năm. Quả cau cũng được bổ thành miếng đem phơi. Trong lúc
phơi phải biết dữ cho hạt khỏi long. Miếng cau có đẹp là miếng cau
còn nguyên hạt không bị long ra khỏi miếng cau, gọi là cau đậu. Cau
đậu là loại cau quí, vì khi miếng cau đã khô hạt dễ long, muốn có cau
đâu lúc phơi cau cần phải công phu.
Cắt vỏ chay hoặc rễ quạch. Vỏ chay được cắt thành miếng
mỏng hình vồ hoặc hình chữ nhật, khi ding mới đem cây vỏ ra cắt để
miếng vỏ khỏi khô.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhiều loại dụng cụ được tạo nên gắn liền với tục ăn trầu.
-Âu đồng hình tròn có nắp đậy kín ding đựng lá trầu chưa têm,
để giữ cho lá trầu được tươi lâu. Đồng có khi được thay bằng thiếc.
Bình vôi và chìa vôi là loại dụng cụ phổ biến của mọi gia đình.
Bình đựng vôi đã tôi, chia vôi cắm ngay trong bình, dài như chiếc
đũa, một đầu nhọn, vừa để quệt vôi vừa để têm trầu, ởnong thôn, con
dao vôi ding để rọc lá trầu, và quệt vôi têm trầu là dụng cụ thông
dụng (hình)
“Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phố, mua trầu chợ Dinh.”
Chợ Cầu, chợ Quán là các chợ lẻ, chợ phụ dọc đường, Nam phố
là tên cũ của phố Hàng Bè bây giờ, nơi xưa bán rất nhiều cau tươi,
cau khô. Chợ Dinh gần dinh quan phủ Phụng thiên (quãng phố Phủ
Doãn và ngõ Huyện bây giờ). Ngày nay, người Hà Nội ít ăn trầu hơn
trước nên không còn những phố bán trầu mà tập trung phần lớn ở
những chợ một số ít được đem bán rong. Người Hà Nội rất công phu
trong cách chọn trầu. Cau ngon phải là cau bánh tẻ, không già, không
non, vừa tới hạt (nửa màu nửa hạt). Người sành ăn thường kén mua
cau Đông ở tỉnh Hải Hưng (cũ) . Từ tháng 8 có thêm cau miền Nam
nhưng người ta ít ăn vì loại cau này nhiều hạt không ngon. Mua tràu
phải chọn lá hơi ánh vàng, nhỏ, dày, tươi. Ngày trứơc có trầu không
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
làng Chả ngon nổi tiếng vì lá nhỏ, vừa thơm vừa cay, để có được lá
trầu như vậy, người làng Chả ngày đó trồng cũng rất công phu, dàn
trầu không phải được trồng trên đất trồng gong. Ngày nay người Hà
Nội ăn trầu Hưng Yên, vào dịp lễ hỏi người ta mua trầu Tây Sơn vì lá
to đẹp. Người ăn sành trầu chọn vôi xứ Đoài - Sơn Tây
Bộ đồ ăn trầu của người Hà Nội gồm có: cơi đựng trầubằng
đồng hoặc quả trầu sơn khảm xà cừ, ống vôi chạm bạc, ống nhổ bằng
đồng thau dung quết trầu. Những cụ già ăn trầu còn có thêm cối giã
trầu bằng đồng chạm trổ khá tinh vi chỉ bỏ vừa miếng trầu, miếng
cau, vỏ để giã. Dao bổ cau phải sắc để bổ cau cho đẹp và hạt không
bị vỡ. Cũng chỉ là “Quả cau nho nhỏ, lá trầu xanh” nhưng cách ăn
trầu của người Hà Nội rất duyên dáng, họ ăn trầu không những làm
đỏ môi, răng đen mà còn tạo nét môi cắn chỉ rất đẹp. Người ta không
cho cả cau, trầu và rễ vào cùng một lúc mà ăng từng thứ một. Cau
được nhai dập mới cho trầu vào và sau cùng là rễ quệt thêm một ít
nàng dâu tương lai, nhà trai đòi bằng đựơc cô gái ra têm trầu, trước là
để xem mặt cô dâu, sau làđể xem cử chỉ têm trầu của cô gái mà phán
đoán tính nết. Miếng trầu têm vụng là người không khéo tay; miếng
trầu nhỏ miếng, cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng
trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa.
Việc “têm” miếng trầu, nhìn miếng trầu được têm thì người
thưởng thức còn đánh giá được sự khéo tay của người têm trầu (ở cái
dáng đẹp hay xấu, ở nếp gấp, ở cánh trầu…). Chàng hoàng tử trong
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
truyện cổ Tấm Cám nhờ nhìn vào miếng trầu được têm khéo léo mà
nhận ra được vợ mình. Trần Quốc Vượng viết: “Ăn miếng trầu, càng
biết được “tính nết” người têm nó. Giản dị hay cầu kỳ. Đậm đà hay
nhạt nhẽo. Do chất lượng và số lượng vôi bôi trên lá trầu. Và khi có
miếng trầu “ở giữa đậm quế hai đầu thơm cay…”
1
.
Trong dân gian, một cơi trầu được têm khéo được dùng để đánh
giá về nề nếp, công - dung - ngôn - hạnh củamột cô con gái trong một
gia đình. Chính vì vậy, chỉ mỗi việc têm trầu, người xưa cũng nghĩ ra
được kiểu dáng cho miếng trầu. Tuỳ vào hoàn cảnh, tình huống
sửdụng mà miếng trầu được têm theo những cách khác nhau gắn với
những ý nghĩa tượng trưng, ngụ ý gửi gắm của người têm: trầu cánh
phượng, trầu cánh quế, trầu cánh dơi, trầu mũi kiếm, trầu mũi mắc…
Như trong ca dao đã ghi lại hình ảnh miếng trầu.
Túi gấm lẫn với túi hồng
Têm trầu cánh kiếm cho chồng đi quân.
Têm trầu mũi mác cho chồng đi quân.
Câu ca dao trên, gắn liền với những truyện kể về cuộc khởi
nghĩa bà Triệu (quân ba Triệu mang túi trầu đi đánh giặc, miếng trầu
trưởng thành. Em bé cưới nụ cười đầu tiên, người mẹ nựng “mụ dạy”,
em bé bắt đầu hang chuyêbnj, bà khen “mụ dạy khôn”, chạp chững
bước những bước đi đầu tiên em được người lớn khuyến khích “gắng
lên, mụ đỡ…”. Trong năm đầu tiên của cuộc đời, cha mẹ em bé sửa lễ
cúng mụ ba lần, trong dịp:
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Bé ba ngày
- Bé đầy tháng.
- Bé đầy năm.
Để tỏ lòng biết ơn các bà mụ và cầu mong cho bé mau lớn
khôn. Tuỳ theo gia cảnh cỗ cúng có thể thịnh soạn, có thể đơn giản
nhưng nhất thiết có một đĩa trầu gồm 12 miếng dâng lên 12 bà mụ.
Lễ vật chủ yếu là 12 miếng trầu. Trong nhân dân lao động, cùng với
đĩa trầu thường có hương, hoa quả (mùa nào thức ấy) xôi chè ít khi
cúng cỗ mặn. Dây là những ngày vui trong gia đình, họ hàng, bè bạn
đến chơi mưng cháu bé, tặng quà cho cháu. Lễ cúng mụ thường
không kèm theo ăn uống linh đình, xa hơn, lãng phí hơn.
3.2. Trong nghi lễ hôn nhân.
Hôn nhân là một lễ nghi quan trọng trong đời sống mỗi con
người, trong hôn nhân, miếng trầu, quả cau là nền tảng, dân gian ta
có âu: miếng trầu là đầu câu chuyện, miếng trầu nên dâu nhà người.
Trong mâm cỗ cúng tổ hông - vị thần của hôn nhân bao giờ cũng có
buồng cau và tệp lá trầu, tục lên này không chỉ tồn tại từ xưa nữa mà
nó còng tồn tại cho đến tận ngày nay. Không như các tục lệ khác như
tục lệ cưới xin của người Việt, một số nghi lễ trong cưới xin trong lễ
cưới hay vào các ngày cúng gia tiên, lễ tết như trong dịp lễ tết, ở một
số nơi, vào lúc đón giao thừa người chủ nhà sẽ chọn một người hợp
tuổi để xông nhà cho năm mới để sang năm mới, gia đình có nhiều
niềm vui, ăn nên làm ra, thì người xông nhà đó thường mang trầu cau
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
gái đặt vấn đề chính thức cho đôi nam nữ được tự do đi lại tiếp tục
qúa trình tìm hiểu nhau trước khi đi đến hôn nhân, và nếu nhà gái
nhận trầu cau của nhà trai là nhận lời gả con gái sau lễ giạm thì cô
gái đã là người có nơi có chốn, không tìm hiểu ai nữa. Nếu cô vẫn
thầm yêu người khác cũng chỉ còn luyến tiếc mà thôi.
“Yêu nhau chẳng nói khi đầu
Để cho thầy mẹ nhận trầu người ta”.
Sau khi nhận trầu cau, mà do một nguyên nhân nào đó mà hai
người không đến với nhau được, nhà gái trả lại trầu cau cho nhà trai.
b. Cau trầu trong lễ ăn hỏi: là lễ vật mà nhà trai đem đến nhà
gái để biếu họ hàng, lễ ăn hỏi này là một thông báo chính thức về sự
kết giao của hai gia đình và hai họ, đánh dấu một sự chuyển đoạn
quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái được hỏi đã trở thành vợ
chưa cưới của chàng trai đi hỏi. Trong nghi thức này lễ vật thường là:
cau tươi, bánh cốm, chè, tượi, bánh xu xê (phu thê) đó là những lễ
vật tối thiểu tỏng tục lễ cưới cổ truyền trong các lễ vật đó thì trầu cau
luôn đặt lên hàng đầu, đứng thứ nhất trong các lễ vật, có nghĩa là nó
mang một vai trò quan trọng trong nghi thức này. Quả cau tuy là lễ
vật để nhà gái đem biếu họ hàng, bnos không lớn lăm, và không có
giá trị về vật chất nhiều nhưng nó lại mang nhiều ý nghĩa, là thông
điệp báo tin với họ hàng, làng xóm rằng đám cưới sẽ diễn ra, xưa kia
nó thay cho lời mời (thay cho thiếp mời ngày nay). Trong nghi thức
này, nhà trai phải mang đến nhà gái hàng trăm, có khi hàng ngàn quả
cau. Trong thời kỳ xã hội phong kiến suy tàn, tục thách cưới trở
thành một tục lệ hạ thấp phẩm giá người con gái, thì số lượng cau
trong lễ ăn hỏi lại phản ánh mặt hạn chế của phong tục. Từ chỗ quả
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ăn miếng trầu, uống bát nước chè xanh, tinh thần thoải mái, người dễ
chịu. Đó là một nếp sống ấm cúng của bà con nông dân ta trong làng
xóm. Ngày nay, những hình thức sinh hoạt này không còn như trước
nữa nhưng ở một số vùng, địa phương hình thức này vẫn giữ được.
Người ta còn mời trầu để làm quen và để tỏ lòng tin cậy. Một
người phương Tây đến Việt Nam thế kỷ 17 nhận xét: “Người Việt
Nam đi đâu cũng có túi trầu mang theo. Gặp nhau, sau câu chào hỏi,
cởi túi trầu, người nọ lấy miếng trầu ở túi người kia, rồi vừa ăn trầu
“của nhau” vừa trò chuyện… Mến yêu, tin cậy, lịch sự biết bao! đó
là nét giao tiếp đặc sắc của Việt Nam. Trong tục lệ mời trầu xưa kia
là người Việt, người ta mời nhau miếng trầu để nói chuyện thân mật
với nhau hơn. Và giáo sư Trần Quốc Vượng đã so sánh mời trầu tiếp
khách với mời thuốc lá để tiếp khách giữa xã hội xưa và nay. Theo
giáo sư thì “miếng trầu đơn giản thế thôi; trầu, cau, vôi, nếu có thể
thêm tí vỏ, viên thuốc lào (với người ăn trầu thuốc”), ấy thế mà
miếng trầu nó mang đậm “cá tính con người”, người ta têm trầu là để
mời trầu, mời người khác ăn trầu. Điếu thuốc lá công nghiệp ngày
nay thật phi cá tính. Ăn miếng trầu người ta biết được tính nết” của
người têm nó: và ông còn cho rằng, ăn trầu không hại sức khỏe còn
hút thuốc là thì ngược lại và ông đưa ra ưu điểm của việc ăn trầu như,
ăn trầu chắc răng, bền rằng, chống rét, kích thích nhè nhẹ hệ tuần
hoàn, kích thích thần kinh, ăn trầu hông đôi má, thêm duyên, ăn trầu
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hơi say say, câu chuyện tâm tình cởi mở rồi từ đó ông đưa ra một câu
hỏi: “người xưa cởi mở hơn người nay, một phần vì thế chăng?
-Mời trầu để bắt chuyện làm quen.
“Tiện đây ăn một miếng trẩu
Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là.
Xưa kia au biết ai đâu
Miếng trầu còn là vật giao duyên. Chàng trai và cô gái gặp
nhau, mời trầu là để ướm lời thử lòng.
“ Gặp nhau ăn một miếng trầu
Gọi là nghĩa cử về sau mà chào”.
Với hương vị của trầu, cau, vôi luôn luôn gợi cho nam nữ liên
tưởng đến những chuyện tình yêu, chuyện duyên phận lứa đôi.
“Vào vườn hái quả cau non
Anh thấy em giòn muốn kết nhân duyên”.
Trong hình thức này, người con trai thường chủ động mời trầu
trước và lợi dụng lúc mời trầu để tán tỉnh người con gái, nếu người
con gái đó từ chối không nhận trầu thì dù sự từ chối ấy lịch sự, tế nhị
đến đâu cũng phải hiểu đó là sự từ chối tình yêu, nếu người con gái
đó tỏ ý ngần ngại, muốn hiểu thêm tình ý đối phương thì
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
“Miếng trầu ăn nặng bằng chì
Ăn rồi em biết lấy gì trả ơn.
Trong trường hợp này, người con trai phải trấn an và thổ lộ rõ
tình ý đứng đắn, muốn xây dựng gia đình của mình, nếu người con
gái thấy hợp ý, lòng ưa rồi thì người con gái mới nhận trầu.
Cách giao duyên trên vừa kín đáo, vừa duyên dáng, và miếng
trầu lúc này không phải là một vật chất đơn thuần nữa mà nó còn là
một biểu tượng của tình yêu.
4.4.Ăn trầu còn gắn liền với tục nhuộm răng đen của người việt
có thể nói rằng ăn trầu và nhuộm răng đen có mối liên hệ gần
gũi với nhau. Từ ngàn xưa con người đã có tục nhuộm răng đen,
không như ngày nay người ta coi hàm răng trắng là cái đẹp thì ngày
xưa người ta coi răng đen là cái đẹp . Vậy nên ,để có một hàm răng
đẹp các thiếu nữ xưa đến tuổi trưởng thành đều học ăn trầu
“Răng đen ai nhuộm cho mình.