Rèn cho học sinh kĩ năng diễn đạt trong Văn miêu tả có hiệu quả - Pdf 24

ĐỀ TÀI:
Rèn cho các em kĩ năng diễn đạt – kĩ năng viết văn miêu tả
có hiệu quả cao nhất
PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU
Để tiến kịp với thời đại, phục vụ kịp thời cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, giáo dục Tiểu học đã và đang trở thành mối quan tâm lớn của xã hội. Bậc
tiểu học được coi là bậc học nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân. Chất lượng giáo
dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc tiểu học. Vì thế giáo dục tiểu học
phải chuẩn bị tốt về mọi mặt để học sinh tiếp tục học lên các lớp trên.
Cùng với sự phát triển các bộ môn khoa học khác, môn Tiếng việt nói chung cũng
như phân môn Tập làm văn nói riêng ngày càng khẳng định được vị trí, nhiệm vụ của
nó một cách rõ ràng cụ thể và đầy đủ. Dạy Tiếng việt nói chung và dạy phân môn Tập
làm văn nói riêng như dạy kiến thức cơ bản, cung cấp những phương tiện, những cơ sở
để học tốt các môn học khác.
Thông qua phân môn Tập làm văn, học sinh tiểu học được làm quen với nhiều thể
loại, nhiều kiểu bài như quan sát tranh và trả lời câu hỏi, kể chuyện tường thuật, viết
thư,…song nổi bật lên tất cả là thể loại văn miêu tả, thể loại này chiếm phần lớn tổng số
giờ dạy- học Tập làm văn.
Dạy văn miêu tả là dạy cho học sinh kỹ năng thực hành vận dụng khả năng sử
dụng tiếng Việt và hiểu biết của mình để viết bài văn miêu tả. Văn miêu tả rèn luyện
cho các em học sinh kỹ năng quan sát, kỹ năng sử dụng các giác quan một cách tinh tế,
nhạy cảm để tiếp nhận tri thức phong phú từ cuộc sống.
Dạy văn miêu tả góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ cho học sinh (gợi ra những
cảm xúc, tình cảm, những tình cảm cao thượng, đẹp đẽ của các em). Đặc biệt là phát
triển ngôn ngữ cho các em, nắm chắc kiến thức làm văn miêu tả, các em thực sự có
thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc
sống, con người, tự nhiên, xã hội.
Để làm được một bài văn đúng yêu cầu đề và làm hay, học sinh phải biết sử dụng
những từ ngữ, cách đặt câu, viết đoạn, viết bài đúng và có sức gợi cảm. Những hình
ảnh, những chi tiết đưa vào phải chân thực, sinh động gợi cảm, nghĩa là nó còn mang tư
cách của một hình tượng nghệ thuật. Một bài văn miêu tả vừa có tư cách là một bài văn

2. 1 Mục đích ý nghĩa của đề tài.
Xuất từ tầm quan trọng của đề tài, trên cơ sở xem xét các lỗi sai học sinh thường
mắc phải, cố gắng tìm ra một số biện pháp khắc phục và sữa chữa các loại lỗi nhằm
giúp học sinh có thể tránh được việc mắc lỗi trong quá trình viết một bài văn miêu tả
đúng, chân thật sinh động và gợi cảm.
2.2 Khách thể nghiên cứu:
Học sinh lớp 5 trường .
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với đề tài này, nhiệm vụ trước tiên là điều tra, khảo sát thực tiễn bài làm của học
sinh, thống kê được lỗi của học sinh mắc phải. Dựa vào cơ sở lí luận để phân tích, đánh
giá, xem xét từng loại lỗi, từ đó tìm ra nguyên nhân mắc lỗi và có giải pháp xử lý, khắc
phục đối với từng loại lỗi.
2.4 Phương pháp nghiên cứu.
-Phương pháp hệ thống : hệ thống hóa những kiến thức lý luận cần thiết để thấy
được tính hệ thống của các đơn vị kiến thức và tính hệ thống của các phương pháp thực
hiện.
-Phương pháp thống kê, khảo sát: Trên cơ sở các bài văn của học sinh tiểu học lớp
5 thống kê các loại lỗi học sinh thường mắc phải và khảo sát loại lỗi sai đó.
-Phương pháp phân tích ngôn ngữ : Phân tích các lỗi sai và tìm hiểu nguyên nhân
mắc lỗi của học sinh, từ đó nêu cách khắc phục, sửa chữa.
____________________________________________________________________
____NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
2
PHẦN II: KẾT QUẢ
I. Cơ sở lý luận:
1.Con đường đi từ thực tế bài làm của học sinh để hình thành kỹ năng làm văn cho
học sinh.
Đây là một trong ba phương pháp đem lại hiệu quả thực tế cao trong việc giảng dạy
Tập làm văn, vì chỉ thông qua việc chấm bài cho học sinh, tiếp cận bài viết của học
sinh, người giáo viên mới nắm vững đối tượng học sinh của mình, thấy được cái đúng

bản ( dùng từ, đặt câu, dựng đoạn về tổ chức bài văn) để thông tin, trình bày và tái hiện
một đối tượng, một vấn đề nào đó.
-Nội dung giao tiếp ; thông qua việc tìm hiểu đề người làm bài cần xác định rõ:
+ Điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp: Điều kiện về thời gian, không gian tài liệu, vốn
hiểu biết của học sinh…khi viết bài.
+ Cách thức giao tiếp : Những yêu cầu, gợi ý về thể loại văn bản.
____________________________________________________________________
____NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
3
3. Bước lập đề cương ( hay còn gọi là lập dàn bài):
Đề cương bao gồm những ý chính, những luận điểm cơ bản. Nó là nền tảng cho
việc viết một văn bản hoàn chỉnh. Muốn lập được đề cương cần thực hiện theo trình tự
công việc sau:
+ Xác lập các thành tố nội dung.
+Sắp xếp các thành tố nội dung.
+ Trình bày đề cương.
4. Viết văn:
Muốn viết văn bản cần phải dựa vào đề cương. Từ đề cương đã có người viết
chuyển hóa thành văn bản. Để viết được văn bản hoàn chỉnh người viết phải vận dụng
các khả năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, liên kết đoạn và viết thành văn bản hoàn
chỉnh.
5. Kiểm tra và hoàn thiện văn bản:
Khi viết xong văn bản người viết cần đọc, soát lại để kiểm tra văn bản,
phát hiện những lỗi sai sót và tiến hành sửa chữa.
II. Văn miêu tả và những yêu cầu cơ bản trong quá trình xây dựng bài văn miêu
tả:
1.Khái niệm về văn miêu tả.
1.1 Thế nào là văn miêu tả:
Văn miêu tả là văn dùng để tả sự vật hiện tượng…một cách sinh động cụ thể như
nó vốn có, là lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện trên trang viết của mình những lời

đời sống thực. Từ đó các em in lại hình ảnh và diễn đạt lại hình ảnh đối tượng ấy trên
trang viết thông qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ một cách sinh động, tạo hình.
- Văn miêu tả nhằm hướng dẫn cho học sinh biết cách nhận thức cuộc sống ấy bằng
ngôn từ. Dạng văn miêu tả là dạy các em biết yêu quý môi trường, thiên nhiên, yêu quý
con người, biết nhìn thấy cái đẹp, cái mới lạ ở đối tượng miêu tả.
- Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm người viết. Đó là
tình cảm yêu, ghét hay những ý kiến đánh giá, bình luận của người viết về đối tượng
miêu tả.
- Văn miêu tả sinh động và tạo hình: mọi bài văn miêu tả bao giờ cũng là sự gắn
bó, hòa quyện cảm xúc chủ quan của người viết với thiên nhiên, với hiện thực khách
quan. Người viết phải huy động vốn kiến thức của mình về ngôn ngữ để “ tô điểm” cho
người và vật. Biết chọn lọc những chi tiết sống gây ấn tượng mạnh mẽ cho bài văn miêu
tả.
Ngôn ngữ của bài văn miêu tả bao giờ cũng là ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc.
Khi văn miêu tả có được đặc điểm trên thì mới có khả năng chuyển tải được ý đồ của
người viết, mới vẽ được sinh động đối tượng miêu tả.
1.3 Phân loại:
Căn cứ vào đối tượng miêu tả người ta chia văn miêu tả thành những kiểu bài sau:
-Tả đồ vật.
-Tả cây cối.
-Tả loài vật.
-Tả cảnh sinh hoạt.
2. Những yếu tố cơ bản khi xây dựng một bài văn miêu tả:
Làm văn miêu tả là tái tạo lại hình ảnh của đối tượng miêu tả bằng ngôn ngữ (nghệ
thuật sử dụng ngôn từ). Khi xây dựng một bài văn miêu tả, người viết
cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
Xác định số đối tượng miêu tả.
Có hiểu biết tương đối đầy đủ về đối tượng.
Biết cách tiếp cận đối tượng cần miêu tả: lựa chọn vị trí quan sát dựa trên những
chỉ dẫn về phương diện lí luận (các loại bài miêu tả) sử dụng các giác quan để quan sát

Qua khảo sát tôi thấy tỷ lệ mắc lỗi ở các em trong các bài viết khá cao, đặc biết là
các em học yếu và trung bình. Còn các em khá giỏi tỉ lệ thấp. Khi khảo sát phát hiện ra
được các lỗi sai của học sinh chúng ta phải tìm nguyên nhân tại sao học sinh lại mắc lỗi
sai như vậy? Lỗi sai ấy như thế nào? Từ đó giúp học sinh nhận ra cái sai và có biện
pháp khắc phục sửa chữa.
Từ những thực trạng trên tôi đã tìm ra một số giải pháp để sửa chữa các
lỗi cơ bản đó.
III.Giải pháp nghiên cứu và kết quả:
* Giải pháp:
Một số lỗi mà học sinh thường mắc trong bài văn miêu tả.
1 Lỗi dùng từ:
Trong bài văn miêu tả qua khảo sát thực tế viết văn của học sinh tôi thu được
30bài mắc loại lỗi này. Trong bài viết của mình, các em thường dùng từ thiếu chính xác,
có khi từ ngữ trùng lặp. Khi đi vào xem xét và đưa ra hướng khắc phục, tôi sẽ chia ra
thành các lỗi cụ thể hơn cho tiện phân tích khảo sát.
a.Dùng từ thiếu chuẩn xác:
Loại từ này khá phổ niến ở học sinh tiểu học hiện nay không thể không kể đến
loại lỗi sai do học sinh dùng từ thiếu chuẩn xác làm cho nội dung tối nghĩa, mơ hồ, đọc
lên ta thấy rất ngây ngô. Có khi các em lại dùng khẩu ngữ nói năng hàng ngày vào bài
viết của mình.
Ví dụ 1: Tả vườn rau.
“. . .Em rất thích vườn rau đó vì hằng ngày mẹ em không phải tốn một đồng xu nào để
____________________________________________________________________
____NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
6
mua rau . . .”
Đây là câu văn muốn nói đến lợi ích của vườn rau đối với gia đình mình ,nhưng lại
không biết cánh dùng từ diễn đạt trong hành văn như thế nào cho đúng . Người viết đã
đưa khẩu ngữ nói năng hằng ngày “chỉ dùng khi nói miệng “ vào câu văn làm cho câu
văn thiếu đi giá trị thẩm mĩ .

trường được bao bởi hàng rào dây thép gai. Quang cảnh yên tĩnh, và giữa sân có hàng
cây phượng rất đẹp, và chính giữa sân có cột cờ cao, có lá quốc kì đỏ thắm đang tung
bay phất phới, và phòng bảo vệ nằm ở bên phải…”
Em học sinh này tả về trường mình tương đối đầy đủ nhưng không theo thứ tự nào.
Quan sát được gì viết nấy, dùng từ ngữ một cách tùy tiện, dấu câu dùng không hợp lí.
Từ “ và” lặp lại quá nhiều.
Ta có thể chữa đoạn văn bằng một số ý, bỏ bớt một số từ “và” thay vào đó một số
dấu câu để nội dung đoạn văn mạch lạc hơn, rõ ràng hơn.
____________________________________________________________________
____NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
7
“ . . .Trường em nằm cạnh đường liên thôn. Ngôi trường chỉ có một dãy phòng học nằm
song song với con đường. Bên phải là nhà bảo vệ, chính giữa sân là cột cơ cao ,…”
Ngoài ví dụ tôi đã phân tích ở trên còn nhiều ví dụ về lỗi tương tự song không có
điều kiện nêu lên ở đây. Điều này chứng minh rằng: Lỗi về dùng từ thiếu chính xác,
dùng lặp từ ngữ ở học sinh còn khá phổ biến. Đây là vấn đề nan giải mà người giáo viên
phải có trách nhiệm trước thực trạng này .
*Nguyên nhân mắc lỗi :
Qua các ví dụ trên tôi thấy nguyên nhân mắc lỗi là do :
- Học sinh không hiểu hết ý nghĩa của từ ngữ nên từ đó không hiểu từ đó có nghĩa
thế nào. Bởi vậy khi viết văn các em dùng từ ngữ thiếu chuẩn
xác làm cho nội dung thông báo nặng nề nhàm chán.
-Do vốn từ của các em hạn chế (đặc biệt là vốn từ cùng nghĩa). Khả năng sử dụng
vốn từ chưa thành thạo, linh hoạt khiến cho câu văn nghèo
nàn đơn điệu, không diễn tả đúng ý mình muốn diễn đạt.
*Cách khắc phục sửa chữa:
Để khắc phục tình trạng này người giáo viên cần :
-Phải xây dựng và rèn luyện cho học sinh ý thức tự giác cẩn trọng trong việc làm
văn, cụ thể là trong việc chọn lựa từ ngữ để đặt câu, diễn đạt.
- Phải cung cấp và bồi dưỡng cho học sinh có vốn từ phong phú để các em có thể

văn lủng củng, tối nghĩa.
Ta có thể sửa đoạn văn trên như sau:
“… Đây là cơ hội được ngắm nhìn quang cảnh yên tĩnh của ngôi trường. Đúng là nó
khác hẳn với quang cảnh của trường vào giữa buổi học, mà chỉ cần đến sớm nửa giờ
thôi là ta cảm nhận được điều đó…”
b. Kết hợp từ thiếu hợp lí làm cho nội dung thông báo của câu văn sai lạc.
Qua khảo sát tôi thấy học sinh do không nắm được nghĩa của từ, quy tắc kết hợp từ
nên trong bài viết của các em có nhiều câu đoạn được tạo nên bởi sự gắn kết các từ
nhưng ngữ nghĩa lại không hợp lí làm cho câu văn thiếu rành mạch, sai lạc nội dung
thông báo.
Ví dụ : Tả quang cảnh trường em trước buổi học.
“ … Sân chơi của chúng em rất rộng, có đủ chỗ cho các em chơi và các bạn nam chơi
bóng. Sân trường của chúng em không còn bồn hoa vì các chú công nhân đã bới nó lên
để làm phòng học cho chúng em rồi. Bây giờ chỉ còn đủ chỗ cho chúng em tập thể dục
và các bạn qua lại mà thôi…”
Đây là một đoạn văn người viết muốn tả về sân trường của mình trước đây rất
rộng, đủ chỗ cho các em vui chơi nhưng nay bị thu hẹp. . . nhưng do người viết kết hợp
từ không hợp lí nên đoạn văn trở nên khó hiểu.
Ta có thể sửa lại như sau:
“…Trước đây, sân chơi rất rộng, có đủ chỗ cho chúng em vui chơi. Dạo này, do trường
đang được xây dựng thêm khu phòng học cho nên sân trường bị thu hẹp …”
Nguyên nhân mắc lỗi :
Qua thực tế phân tích các ví dụ trên tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng
mắc lỗi này rất đa dạng nhưng có thể kể đến một số nguyên nhân sau đây:
-Do hạn chế về trình độ, hạn chế về những kiến thức tiếng Việt (từ ngữ, ngữ
pháp. . .) nên các em không hiểu, không ý thức được mối quan hệ giữa các từ ngữ mình
sử dụng.
-Do chưa nắm vững cấu tạo ngữ pháp của câu, các quy tắc, cách đặt câu cho nên
các em còn lạm dụng từ ngữ tiếng Việt vào trong bài viết của mình. Nhiều khi các em
không ý thức được điều mình cần diễn đạt để viết làm sao cho đúng cho hay. Chính vì

Trong văn chương, so sánh là phương thức tạo hình, phương thức gợi cảm, so sánh
nghệ thuật là đôi cánh giúp chúng bay vào thế giới của cái đẹp của tưởng tượng.
Tuy nhiên do chưa hiểu rõ bản chất của biện pháp của so sánh tu từ nên khi sử
dụng biện pháp này, các em đã đưa ra một số hình ảnh so sánh không tương hợp.
Ví dụ 1: Tả vườn hoa nơi em ở.
“ . . .Những cây hoa lan nở những bông hoa xinh xinh trắng ngần. Hoa tầng tầng
lớp lớp, hương hoa lan tỏa khắp khu vườn. Khu vườn sáng rực lên như một đốm lửa
giữa những tán lá xanh ngắt. Hàng ngàn chú bướm đủ các màu sắc chập chờn trên
những nhụy hoa tạo nên một cảnh rất thơ mộng…” .
Ở đoạn văn trên người viết miêu tả vườn hoa rất sinh động với đầy đủ các màu sắc
mỗi loài hoa. Người viết muốn nói hoa ở đây rất nhiều “hoa tầng tầng lớp lớp”. Đứng
trước vườn hoa đẹp như vậy ta có cảm giác cả vườn đó sáng rực lên. Phải có tâm hồn
rất nhạy cảm thì người mới có những cảm xúc, những phát hiện tinh tế như vậy. Đoạn
văn sẽ hay hơn và hoàn thiện hơn nếu người sử dụng hình ảnh so sánh phù hợp. Tiếc
rằng, hình ảnh so sánh “khu vườn sáng rực lên như một đốm lửa” đã làm mất đi vẻ đẹp
của đối tượng miêu tả. Cả khu vườn sáng rực lên mà chỉ như một đốm lửa, hình ảnh so
sánh không hợp lí.
Ta có thể chữa lại hình ảnh so sánh ấy trong đoạn văn trên cho hợp lí hơn:
“. . . Những cây hoa lan nở những bông hoa xinh xinh trắng ngần. Hoa tầng tầng lớp
lớp, hương hoa tỏa khắp khu vườn. Khu vườn sáng rực lên như muôn vàn đốm lửa được
thắp lên giữa những tán lá xanh ngắt…”
Ví dụ 2: Tả hình dáng và tính nết thơ ngây của một em bé đang tuổi tập đi.
“…Bé có đôi mắt đen tròn, đen lay láy và trong veo như hồ nước. Mái tóc bé mỏng
manh như mảnh giấy được tạo nên bởi những sợi tơ ngắn. Cái miệng nhỏ xíu luôn cười
làm lộ rõ mấy chiếc răng đang nhú như những hạt ngô non ”
Hình ảnh em bé người viết miêu tả thật đáng yêu: đôi mắt tròn, đen lay láy, cái
____________________________________________________________________
____NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
10
miệng nhỏ xinh. Duy chỉ có mái tóc: “mỏng manh như tờ giấy được tạo nên bởi những

như từ ngữ, ngữ pháp, chính tả, tập làm văn để giúp các em có vốn từ để sử dụng. Hiểu
được nghĩa của từ để không sử dụng sai, nhất là những từ gần nghĩa, đồng nghĩa để các
em sử dụng trong từng văn cảnh một cách linh hoạt. Ngoài ra cho công việc này đạt
hiệu quả cao, người giáo viên cần nhận biết được vai trò của công việc chấm bài và tiết
học trả bài là vô cùng quan trọng. Nó là bước đi đầu tiên, là cơ sở tiền đề để các em tiến
vào thế giới huyền diệu của văn chương. Nếu như không có sự tỉ mỉ, cẩn trọng, nghiêm
túc, khoa học trong việc thực hiện những công việc này thì không còn con đường nào
khác có thể giúp học sinh thoát khỏi tình trạng yếu kém về năng lực diễn đạt trong bài
tập làm văn như hiện nay.
* Công việc chấm bài:
Chấm bài là công việc lao động vất vả, phức tạp đòi hỏi người giáo viên phải có
tinh thần trách nhiệm cao, thái độ cẩn trọng, đúng đắn. Giáo viên tiếp xúc với sản phẩm
____________________________________________________________________
____NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
11
tinh thần của học sinh. Kiểm nghiệm thành quả lao động giảng dạy và giáo dục của
mình.
Khi chấm bài, giáo viên phải có thái độ yêu thương, tôn trọng học sinh. Bài văn là
kết quả lao động của các em. Vì thế, nó hay hoặc dở giáo viên vẫn phải tôn trọng. Cần
nghiêm khắc, tránh tuyệt đối tình trạng “chấm bài cho xong việc” mà coi thường sản
phẩm học sinh làm ra.
Trong khi chấm giáo viên cần chỉ ra chính xác các loại lỗi mà học sinh đã phạm
phải. Ghi chú rõ đó là lỗi gì? Sai như thế nào? Cụ thể hơn giáo viên có thể ghi cụ thể
vào cuốn sổ công tác để tiện cho việc sửa chữa khắc phục đối với bài viết học sinh trong
giờ trả bài. Việc ghi lại những lỗi sai đó nhằm mục đích phục vụ cho công việc giảng
dạy lí thuyết hay sử dụng tư
liệu cho giờ trả bài.
Qua việc chấm bài, nắm được thực tế bài làm của học sinh (bài viết đã mang đặc
trưng của thể loại hay chưa? Học sinh còn mắc những loại lỗi nào? ). Qua đó định
hướng những công việc chính trong tiết trả bài sau đó.

12
học văn hơn. Giờ học đã sôi nổi hơn. Việc diễn đạt trong bài văn cũng rõ ràng hơn.
____________________________________________________________________
____NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
13
PHẦN III: KẾT LUẬN
Thực trạng hiện nay học sinh tiểu học thường coi trọng môn Toán và coi nhẹ môn
Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng trong nhà trường. Vì vậy, người
giáo viên tiểu học phải đặc biệt quan tâm đến giờ học Tiếng Việt. Đặc biệt là trong giờ
học Tập làm văn cần quan tâm nhiều hơn đến kĩ năng diễn đạt cho học sinh.
Trồng cây, cây lớn từ gốc chứ không phải cây lớn từ ngọn. Trồng người cũng
vậy. . . Bởi vậy, người giáo viên tiểu học không chỉ dạy “ văn” rèn kĩ năng diễn đạt cho
học sinh trong giờ tập làm văn mà phải biết kết hợp đồng bộ ở tất cả các môn học.
Trong bất cứ giờ học của môn học nào, khi giảng bài giáo viên đều phải lựa chọn những
từ ngữ đúng chuẩn xác, dễ hiểu với cách diễn đạt rõ ràng rành mạch… để từ đó học sinh
học hỏi và noi theo.
Những công việc trên đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Có như
vậy mới từng bước nâng cao hiệu quả của việc dạy và học của thầy và trò hiện nay. Tất
cả những vấn đề nêu trên chỉ nhằm giải quyết những khó khăn nhất thời về tình trạng
mắc lỗi trong bài viết văn miêu tả nói riêng và trong các bài văn nói chung của học sinh
tiểu học hiện nay.
Sự nghiệp giáo dục của nước ta đã, đang và sẽ còn phát triển và không ngừng đổi
mới trong việc dạy – học. Chính vì thế, đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ nhận
thức nhất định, có tâm huyết với nghề. Bên cạnh đó, sự nghiệp giáo dục cần có những
cải tiến đáng kể cho phù hợp với tình hình hiện nay.
Khi chữa các lỗi cho học sinh, giáo viên nên lấy thực tế bài làm, tránh chữa lỗi áp
đặt, công thức sáo rỗng. Từ thực tế bài làm đó, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu để
các em phát hiện ra nguyên nhân vì sao mình lại sai, cách sửa chữa thế nào cho đúng để
bài viết của mình đạt hiệu quả cao, có sức thuyết phục.
Người giáo viên phải luôn luôn coi trọng việc chấm bài và trả bài cho học sinh, bởi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status