phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo trong phân môn tập làm văn học sinh lớp 3 - Pdf 24


I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khi xã hội ngày càng phát triển, yêu cầu đối với mỗi cá nhân ngày càng
cao.Vai trò của giáo dục & đào tạo nói chung và đào tạo Bậc tiểu nói riêng có
một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho đất
nước, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đã gia nhập WTO và phấn
đấu trở thành đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện chỉ thị 06 -
CT/TW của Bộ chính trị về thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”; chỉ thị 33/2006/CT-TTG của Thủ tướng Chính
phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục thông qua
cuộc vận động “Hai không” của ngành, thực hiện cuộc vận động “ Mỗi thầy cô
giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”.
Tôi nhận thức được rằng : Bậc tiểu học là bậc học nền tảng mang tính hội
tụ toàn diện ở cả 9 môn học. Tiếng việt chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và
chiếm thời lượng nhiều nhất trong trường Tiểu học hiện nay. Học sinh sau khi
hoàn thành chương trình bậc Tiểu học phải đạt được bốn kĩ năng: Nghe, nói,
đọc, viết. Mỗi môn học giúp các em nẵm vững kiến thức, đặt nền tảng vững
chắc để các em tiếp tục học lên bậc học mới. Làm hành trang cho các em vững
bước trên con đường học tập của mình. Mỗi giáo viên giảng dạy đều phải thực
sự tâm huyết, nhiệt tình trong công tác, không ngừng học hỏi để nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng với nhu cầu giáo dục hóa hiện nay.
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là môn học
khó trong các phân môn của môn Tiếng việt. Do đặc thù của môn học phải hình
thành và rèn cho học sinh khả năng nói và viết một văn bản ở nhiều thể loại
khác nhau. Chính vì vậy, phân môn Tập làm văn ở tiểu học có nhiệm vụ quan
trọng đối với học sinh là rèn kĩ năng nói, viết, giao tiếp, Nói và viết hỗ trợ rất
nhiều cho các môn học khác. Đặc biệt hơn nữa, Ở lớp 2, các em bước đầu làm
quen với môn học này, viết một đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu qua hình thức
1
quan sát tranh ảnh, nghe chuyện, Nhưng bước sang lớp 3 kỹ năng hình thành

- Học sinh Lớp 3A2 năm học: 2011 – 2012 Trường TH Nguyễn Viết Xuân
- Học sinh Lớp 3A2 năm học: 2012 – 2013
4. Phạm vi nghiên cứu:
Do điều kiện và đặc thù của trường, tôi chỉ áp dụng nghiên cứu học sinh ở
lớp 3, cụ thể trong phân môn tập làm văn với nội dung: Phát huy tính tích cực,
chủ động và sáng tạo cho học sinh Lớp 3.
5.Phương pháp nghiên cứu:
Với đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nắm bắt, khảo sát từng cá nhân học sinh về chất lượng dạy học.
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu liên quan đến phân môn tập làm
văn.
- Phương pháp phối hợp quan sát và cùng phối hợp kiểm tra đối chứng.
- Phương pháp lập kế hoạch với nội dung cụ thể cho từng tiết dạy.
- Phương pháp thực hành dạy trên lớp.
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm.
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận:
Dạy cho học sinh học tiếng việt chính là dạy học tiếng mẹ đẻ. Khi các học
sinh được đi học lớp mở lòng chính là học sinh đã tiếp cận môn tiếng việt. Vì
vậy, tiếng việt đã giúp các em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết.
Phân môn tập làm văn giúp cá em hội tụ đủ bốn kỹ năng trên. Đối với học sinh
lớp 3 thì đây là một phân môn rất khó. Bởi ở lứa tuổi các em, vốn kiến thức và
hiểu biết còn hạn hẹp. Bên cạnh đó còn một số khó khăn khách quan như: Điều
kiện hoàn cảnh sống của HS, gia đình, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu
về kiến thức khá chậm, HS nghèo vốn từ ngữ,…điều này ảnh hưởng nhiều đến
việc học tập của học sinh. Trong nhiều năm trực tiếp giảng dạyhọc hỏi đồng
nghiệp. Bản thân tôi nhận thấy rằng học sinh trường của tôi không thích
học phân môn này vì Bài viết của học sinh chưa được hay, nhiều em trình bày
3
chưa đúng câu, lúng túng khi làm bài, thường lặp lại câu, dùng từ sai nghĩa hoặc

lúng túng trong quá trình lên lớp, nhiều giáo viên phụ thuộc, rập khuôn theo
sách giáo khoa, hay áp đặt học sinh,…
- Phần cơ sở vật chất về bàn ghế tuy đủ nhưng chưa đúng theo quy định bàn
chuẩn của Bộ GD & ĐT đưa ra giành cho học sinh tiểu học.
- Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em tiếp thu nhanh nhưng cũng nhanh
quên, mức độ tập trung học tập chưa cao.
- Kiến thức về cuộc sống đối với các em còn hạn chế, vốn từ vựng chưa nhiều.
- Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc,
chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối văn của riêng mình.
- Nhiều học sinh thiếu sự quan tâm của một số gia đình, nhiều phụ huynh chưa
thực sự quan tâm đến việc học của các em mà tất cả là phó mặc cho giáo viên.
Dẫn đến các em không hứng thú khi học phân môn này.
*Thành công và hạn chế:
Năm học nào cũng vậy, hầu như các khối lớp ở tiểu học đều có học sinh
đạt tỉ lệ khá giỏi rất nhiều. Tỷ lệ học sinh trung bình, học sinh yếu chiếm một
phần ít. Song vốn ngôn ngữ để hình thành một đoạn văn theo yêu cầu ở lớp 3
trong phân môn Tập làm văn còn gặp nhiều khó khăn đối với học sinh. Bên
cạnh đó, một số giáo viên chưa nhận thức tầm quan trọng của phân dẫn đến quy
trình và phương pháp dạy học chưa thích hợp. Phần thì học sinh hiểu biết chưa
sâu rộng về nghĩa của các từ ngữ và bản chất của câu văn nên khi các em viết
một đoạn văn thường hay mắc lỗi diễn đạt như: từ lặp lại nhiều, câu văn không
rõ nghĩa, ý theo không trình tự rất lộn xộn, nhiều em thì mang tính chất trả lời
câu hỏi gợi ý bằng cách gạch đầu dòng,
Bên cạnh những thuận lợi và khó khăn, kết hợp với việc khảo sát đầu năm
về kỹ năng viết câu, dùng từ, dùng câu để viết một đoạn văn theo yêu cầu bài.
Qua thu thập báo cáo của các đồng chí trong tổ khối và cụ thể tại lớp 3A5 tuần
2, lớp 3A2 tuần 3, lớp 3A4 tuần 6 trường tiểu học Nguyễn Viết Xuân, tôi đã thu
nhập được kết quả như sau:
5
+ Bảng thống kê thực trạng các lớp trong 3 năm học :

phát huy được tính tự học, tự nghiên cứu, việc đổi mới phương pháp dạy học,…
của đội ngũ giáo viên.
+ Phần cơ sở vật chất : Đồ dùng dạy học và thiết bị dạy học như : Tranh ảnh
minh họa, máy chiếu, video,… còn hạn chế.
6
+ Đối với giáo viên: Chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học. Một số
giáo viên coi nhẹ tầm quan trọng của phân môn Tập làm văn.
+ Đối với Học sinh : Trình độ học sinh không đồng đều, ý thức học tập chưa
cao.
+ Đối với phụ huynh học sinh : Phần thì phụ huynh học sinh chưa thật sự quan
tâm đến việc học của con em mình do điều kiện kinh tế còn nghèo khó nên ít có
thời gian quan tâm thực tế, chuẩn bị đồ dùng học tập cho con em mình.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng đã đề ra:
Nhìn nhận thực tế phân môn tập làm văn có phần quan trọng đặc biệt như
ở lớp 2 các em bắt đầu được làm quen và hình thành một đoạn văn ngắn ( từ 3
đến 5 câu ) theo hình thức quan sát tranh, nghe và trả lời câu hỏi. Khi các em
bước sang lớp 3, kỹ năng phát triển cao hơn như: nghe, quan sát , luyện nói,
luyện viết thành một đoạn văn ngắn bằng tư duy của mình. Để đạt những mục
tiêu trên, người giáo viên không phải đòi hỏi ở học sinh những gì mà giáo viên
nêu ra, yêu cầu học sinh đạt được. Giáo viên trực tiếp giảng dạy phải biết học
sinh của mình hiểu bài như thế nào? để các em dễ dàng hơn khi tiếp cận học các
lớp trên. Chính vì vậy, qua khảo sát ta thấy chất lượng phân môn Tập làm văn
không cao, tôi bắt đầu tìm hiểu những nguyên nhân nào dẫn đến học sinh không
hứng thú, tự giác học tập trong phân môn Tập làm văn ?
Bước 1: Tiếp cận với học sinh trong lớp và trong khối:
Trực tiếp nói chuyện tìm hiểu nguyên vì sao các em không thích học phân
môn Tập làm văn ? Tôi bắt đầu tiếp cận với học sinh bằng nhiều hình thức tâm
sự, trò chuyện, chơi chung học cùng, các em rất mạnh dạn trap đổi nhiều vấn
đề xoay quay trong học tập và cuộc sống đó là: Cô ơi ! Làm sao để hcoj giỏi,
đọc đúng và hay, làm toán đúng nhanh, viết chữ đẹp, kể chuyện hay, hát hay

phụ huynh trong việc giáo dục đạo đức, ý thức học tập cho học sinh ở nhà cũng
như ở trường.
8
Từ những nguyên nhân tìm hiểu trên, Tôi có thể khẳng định rằng: Những
nguyên nhân chính dẫn đến học sinh chưa thực sự phát huy được tính tích cực,
chủ động và sáng tạo trong phân môn Tập làm văn đó là:
+ Hoàn cảnh gia đình, lối sống và sinh hoạt trong gia đình đã ảnh hưởng trực
tiếp với các em về ngôn ngữ giao tiếp.
+ Vốn ngôn ngữ của học sinh còn hạn chế.
+ Học sinh thì chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập của bản thân như: lười
học, ham chơi, không chăm chỉ, siêng năng, học trước quên sau, học đối phó,…
Từ những nguyên nhân trên đã thúc dục tôi tìm những giải pháp, biện pháp
để tạo cho học sinh có hưng phấn và tíc cực phát huy tính mạnh dạn học tập
trong phân môn Tập làm văn.
II. 3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu:
Chương trình và sách giáo khoa Tiếng việt lớp 3 nói chung và phân môn Tập
làm văn nói riêng giúp học sinh :
+ Có những kỹ năng : Nghe, nói, đọc, viết.
+ Biết sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình, nhà trương và xã hội.
+ Trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, có tinh thần trách nhiệm trong học tập,
trong cuộc sống.
+ Rèn tính tự giác, tự tin chủ động, tích cực sáng tạo trong học tập.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp và biện pháp:
Phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy và học, người giáo viên
cần nắm được mục tiêu cơ bản của bài học. Tìm tòi và áp dụng những phương
pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng của học sinh. Nội dung chính là
nhằm trang bị cho các em một số kiến thức, kĩ năng phục vụ cho học tập, đời
sống hàng ngày.
b.1. Nội dung:

các đồng chí đồng nghiệp trong trường nói chung và chị em trong tổ khối 3 nói
riêng. Sự hợp tác nhiệt tình của học sinh và phụ huynh trong khối nhất ở lớp tôi
trực tiếp giảng dạy đã giúp tôi hoàn tất những ý tưởng của cá nhân và đạt những
thành quả đáng kể.
- Nội dung giải pháp chung:
+ Nhóm giải pháp 1. Nâng cao nhận thức của giáo viên:
Vào đầu năm học, Ban giám hiệu nhà trường cần kết hợp tổ chức những
buổi sinh hoạt chuyên đề nhằm giúp giáo viên nhận thức những mục tiêu giáo
dục trong việc dạy học nói chung, mục tiêu dạy học phân môn Tập làm văn lớp
3 nói riêng. Chỉ đạo tốt các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp trường, qua những
buổi sinh hoạt chuyên môn, tổ khối giúp cho giáo viên học tập, thảo luận về
mục tiêu dạy học ở các phân môn nói chung và phân môn Tập làm văn nói
riêng.
Mỗi GV cần phải tự học và nâng cao tay nghề, nâng cao nhận thức về mục
tiêu môn học, đối chiếu, so sánh thực tiễn về trình độ nhận thức học sinh địa
phương trong việc thực hiện mục tiêu môn học. Tham khảo nghiên cứu các văn
bản, tài liệu liên quan đến mục tiêu dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 như: (
Tham khảo sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế, tài liệu liên quan đến
phân môn, Kỹ năng sống, chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học, điều chỉnh nội
dung dạy học,…)
Khi giáo viên đã xác định đúng mục tiêu chính của phân môn Tập làm văn
lớp 3, những phương pháp giáo dục, giảng dạy phù hợp với đối tượng từng học
sinh nhằm chủ động phát huy tính tích cực và sáng tạo trong học tập của học
sinh là giúp HS đạt được các lĩnh vực về: “ Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ ”
trong cuộc sống.
+ Nhóm giải pháp 2. Công tác thực hiện nội dung, chương trình phân môn
Tập làm văn lớp 3:
11
- Với chức trách là tổ trưởng, cùng phối hợp với chuyên môn, giáo viên trong
khối. Tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên đề về phương pháp dạy học đổi

thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác,…) Được như vậy các em nhớ
lâu về kiến thức mà mình đã lĩnh hội được.
- Phối hợp và vận dụng các phương pháp dạy học nhằm pháp huy tính tích
cực của học sinh như:
- Phương pháp quan sát hỏi đáp, đàm thoại.
- Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp thực hành giao tiếp.
- Phương pháp phân tích đề bài bằng ngôn ngữ nói, viết.
- Phương pháp hợp tác trong nhóm.
- Phương pháp tự tìm hiểu, khám phá về tranh ảnh, các câu hỏi
gợi mở.
- Phương pháp tưởng tượng, liên kết.
- Phương pháp tích cực chủ động sáng tạo của người học.
d. Thực hiện các giải pháp, biện pháp cụ thể:
Nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
trong học tập, rèn khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến
thức vào các tình huống trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin, hứng
thú trong học tập.
Phân môn tập làm văn là một phân môn cần vốn kiến thức sâu rộng về
cuộc sống. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập của học sinh
thì vốn kiến thức của HS còn hạn chế, phạm vi giao tiếp còn hẹp dẫn đến các
em còn sợ, rút rè, nhút nhát trong giao tiếp. Để khắc phục và phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo. Người GV cần thực hiện những nhiệm
vụ sau:
Một là : Tạo niềm say mê khám phá kiến thức, tạo không khí vui vẽ, sôi
động, hào hứng trong tiết học: Dạy học là truyền thụ kiến thức cho người
học, để chuẩn bị cho một tiết dạy, GV cần kết hợp các phương pháp giảng dạy
13
phù hợp, sinh động, sáng tạo trong mỗi tiết học. Để tạo nên một không khí sinh
động và lôi cuốn HS thì không dễ dàng. Nhưng làm được điều đó GV không chỉ

việc dạy học nhất là ở phân môn tập làm văn. Càng có tranh ảnh, đồ dùng thì
càng tạo nên sự tích cực của học sinh trong tiết học. Chính vì vậy, mỗi tiết học,
giáo viên cần chuẩn bị đầy đuur đồ dùng, năm được mục tiêu của từng bức
tranh, cách sử dụng đồ dùng,…
Khi dạy Tập làm văn ở lớp 3, Có những tiết cần tranh ảnh để hình thành nội
dung bài như : Tuần 3 và tuần 5 học sinh được kể về gia đình minh và gia đình
bạn.
Sự chuẩn bị của các em cần có tranh hoặc hình ảnh minh họa để kể cho bạn
nghe về gia đình mình. Đồng Thời có thể cho các em quan sát một số bức tranh,
hình ảnh có thật liên quan đến bài dạy để các em có thêm vốn sống tạo cho bài
văn thêm sinh động
Tuần 4. Hãy Kể về gia đình em với một người ban mới quen.
Ở bài tập này mỗi em đều có sự chuẩn bị một bức tranh hoặc hình ảnh về
gia đình mình để kể trước lớp. Khi thực nghiệm ở bài tập này, lúc đầu các em
còn rụt rè, ngại ngùng khi đưa hình hoặc tranh ảnh về gia đình mình cho các
bạn trong lớp quan sát và
thảo luận. Từ những câu hỏi gợi ý như :
- Gia đình em gồm có những ai ?
- Những người trong gia đình em làm công việc gì ?
- Tình cảm của em và những người trong gia đình như thế nào ?
- Em sẽ làm gì để đền đáp lại sự quan tâm của người ấy dành cho em?
* Hình ảnh về gia đình:
.
15 Ở tiết dạy này, GV cũng có hình về gia đình của chính mình. Dựa vào câu
hỏi gợi ý, tôi đã thực hành như một người bạn cùng tham gia học với các em
giới thiệu về gia đình mình. Những tràn vỗ tay, những tiếng cười ngộ nghĩnh
của các em làm tôi cảm thấy rất vui, tăng thêm sự hứng thú trong tiết dạy. Quy

Từ các bước thực hiện trên, đã giúp các em biết cách quan sat, trả lời câu
hỏi, và biết hình thành một đoạn văn ngắn theo đúng logich của đoạn văn hay.
Ba là: Lồng ghép các phương pháp dạy học ở nhiều phân môn:
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Muốn học sinh chủ động
trong học tập, GV không dạy học theo lối rập khuôn mà cần người GV phải linh
động trong tiết dạy, tạo không khí lành mạnh trong lớp, cần phải sử dụng các
phương pháp đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, đàm thoại và
thảo luận, cùng phối hợp nhịp nhàng tạo không khí hứng thú, kích thích trí tò
mò của học sinh. Chính vì vậy, khi dạy phân môn này, người giáo viên cần lồng
ghép giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, kể chuyện, Chính
tả, luyện từ và câu, tập viết để giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân
môn Tập làm văn. Mối quan hệ này thể hiện rõ trong cấu trúc của sách giáo
khoa: Các bài học được biên soạn theo chủ đề, chủ điểm, hai đơn vị học xoay
quanh một chủ điẻm ở tất các các phân môn. Khi dạy ở các tuần, mỗi chủ điểm
của từng tuần có sự liên kết với nhau giữa các phân môn trong môn Tiếng việt.
Bốn là: Phương pháp thực hành theo nhóm và cá nhân.
Dạy học nhằm phát huy tinh thần tự học và sáng tạo của học sinh là tập
trung vào học sinh không phải chỉ tìm ra một câu trả lời có sẵn mà học sinh phải
đưa ra được câu trả lời trên cơ sở suy nghĩ và hiểu biết của chính mình. Quá
trình tư duy đó đòi hỏi học sinh phải vận dụng những vốn tri thức, hiểu biết phù
hợp với vấn đề đặt ra trong câu hỏi; phân tích, sắp xếp những tri thức đưa ra với
vấn đề trong câu hỏi trả lời, kết luận và chọn phương án trả lời tốt nhất. Tóm
19
lại, học sinh tự tìm ra câu trả lời qua việc thu thập, sàng lọc thông tin và phân
tích dữ liệu.
Hình ảnh các em đang hoạt động Nhóm trong tiết Tập làm văn

Hình ảnh các em đang thực hành cá nhân trong tiết Tập làm văn
20


Năm học Trước khi thực nghiệm Sau khi thực nghiệm

Đơn vị

số
HS
Tích cực,hứng
thú, say mê
sáng tạo học
môn TLV
Không tích
cực, hứng thú,
say mê sáng
tạo học môn
TLV
Tích cực,hứng
thú, say mê,
sáng tạo học
môn TLV
Không tích
cực, hứng
thú, say mê
sáng tạo học
môn TLV
2010- 2011
LỚP 3a5 30 8 em 22 em 26 em 4 em
2011- 2012
LỚP 3a2 30 9 em 21 em 27 em 3 em
2012- 2013
LỚP 3a2

trong cuộc sống, quan sát tranh ảnh,…Các em tự nhận thấy không còn sợ phân
môn này nữa vì bản thân các em đã được đóng vai trò chủ đạo trong tiết học.
Học sinh đã tạo cho chính mình sử dụng một cách tự tin về sử dụng câu từ và
mạnh dạn phát huy ưu điểm chính mình tạo cho lớp học vui vẽ, sôi nổi và hứng
thú hơn. Thiết nghĩ, nếu giáo viên áp dụng các biện pháp này một cách thường
xuyên ở lớp thì chắc chắn chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh
trong lớp sẽ được cải thiện.
III. Phần kết luận, kiến nghị:
1.Kết luận:
Qua việc thực hiện nội dung nghiên cứu trên, cho chúng ta thấy được việc
Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh Lớp 3 trong phân
môn Tập làm văn đó là một việc đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm cần phải
sáng tạo và linh hoạt trong các tiết dạy. Để có được kết quả trên, Người giáo
viên đã biết áp dụng nhiều phương pháp dạy học một cách linh hoạt và khéo
léo. Như chúng ta đã biết, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Vì
vậy, trong dạy học, mỗi giáo viên phải linh hoạt phối hợp các phương pháp dạy
học và các hình thức tổ chức sao cho nhịp nhàng, lô-gic để tiết dạy theo phong
phú, tự nhiên, sinh động và đem lại niềm vui cho các em trong việc học tập.
24
Tôi nghĩ những biện pháp nêu trên có thể áp dụng rộng rãi ở các lớp đó là
những yếu tố không thể thiếu được để nâng cao chất lượng dạy học. Tôi mong
rằng kinh nghiệm này sẽ được nhân rộng ra ở các khối lớp ở bậc tiểu học nói
chung và đặc biệt là ở lớp 2,3 nói riêng để tạo cho các em có một hành trang
đầy tự tin khi học phân môn này. Là GV ở bậc tiểu học. Tôi nghĩ rằng, người
GV cần phải : Tăng cường sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học, đổi mới
cách đánh giá, kiểm tra. Bên cạnh đó người giáo viên phải có lòng nhiệt
tình,tâm huyết trong việc giảng dạy.
- Dành thời gian để nghiên cứu bài, lập kế hoạch bài dạy, dự kiến trước những
tình huống có thể xảy ra để đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời.
- Theo dõi, quan tâm, giúp đỡ mọi đối tượng học sinh. Tạo điều kiện để tất cả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status