K ~ ,7
VANDEVAGIAIP
. .
,~ .~~
D
I
J ,
KINH TETRITHUC
",' ","' ., ,
VAN BE V A GIAI PDAP
Kinh nghi~m cua cae nuoc phat tri~n
va dang phat tri~n
I
vv 11Llf
VI~N NGHIEN coo QUAN LY KINH Tlf TW
TRUNG TAM THONG TIN -TV LIEU
NHA XUAT BAN THONG KE
-
HANQI 2001
MUC LUC
. .
LO'i giOi thi~u
Phan I
1- Dl! thao sang kien eong ngh~ thong tin eua Thu tu6ng Chfnh phil Mori
va n~nmong eua no eho cae xu hu6ng va vand~a Dong AHam 2001.
Takashi Kiuchi
2- N~n kinh te dl!a tren tri thue a Trung Quae:
nhan thue va thue ti~n.
. .
Tian Zhongqing
3- Con duang di t6i m(H n~n kinh te dl!a tren tri thue -
-
8- Mi;lngInternet la m(>tc6ng Cl,ltang cuong van xa h9i.
Somkiat Tangkitvanich,
Dew/den Nikomboriak
161
9- Sl! tang tfUbng kinh t€ dl!a tren tri thuc va cac lac d9ng
chinh tri - xa h9i b Indonesia.
173
Nasir Tamara
Phan II
10- Chinh quy~n di~n ttr: kh6ng Wong, kh6ng khoa,
kh6ng ctra ra vao ngan cacho
177
William Perter
Charlene Porter
11- Mi;lng Internet la m9t n~n mong dang mb n~)figchua tung thay
cho nghien CUllloan duo
182
Lori A. Perine
12- N~n kinh t€ tri thuc loan du va nhil'ng lac dc)ngcua no
doi v&ikinh doanh.
188
David Skyrme
13- Cac c6ng ty nen ap dl,lng ky thu~t so nhu the n~lO?(t6ng thu~t).
Adrian J. Slywotzky
D£II,idMorrison
Karl Weber
193
4
KINH TE TRI THUC
trinh bay t<,1ieuge h9i thao qu6e te 6 Tokyo eu6i thang 10 nam 2000, rhea
ehu d~: "Cae xu huang va van d~ 6 Dong AnarD2001- 51!tang truang kinh
te' dl!a lIen tri thue va nhiIng lac d9ng ehfnh trj- xii h9i 6 Dong A". Trang
KINH TE TRI TH(fC
5
sotai li~u nay co 5 tai li~u v~ 4 nuac Dong Bae A(Nh~t Ban, Trung Quae,
Han Quoc, Dai Loan) va 4 tai 1i~uv~ 4 nuae Dong Nam A (Singapore,
Malaysia, Thai Lan, Indonesia).
Ph<in thu hai, g6m 4 tai li~u v~ cac chu d~:
-Tac d<,;mgcua kinh te tri thuc doi vai chfnh quy~n
-Tac d9ng cua kinh te tri thuc doi vai ho~ltd9ng nghien CUllkhoa h9C
- 2 tai li~u v~ tar d9ng cua kinh te tri thuc doi vai kinh doanh,
trong do co bai t6ng thu~t m9t coon sach rat dang chu y mai du<;1cxuat ban
thang 11/2000 co d<iud~ "Cac rang ty Den ap d~ng ky thu~t so nhl1 the na07".
Nhu ket diu cua coon SUot~p ehuyen d~ nay rho thay ro, m9t m~t
chung toi muon cling cap m9t so tai li~u xung quanh m9t so van d~ va giai
phap v~ kinh te tri thuc a nhi~u nl1ac va ngay trong khu vl!c cua chung ta,
m~t khac, chung t6i muon cling cap them tai li~u v~ m9t so lac d9ng chung
cua kinh te tri thuc (khong chI trong ph£.lmvi khu vl!c cua chung ta), co
chu
y catar d9ng a t<imVImo va lac d9ng a tam vi mo. Chung toi da co
gang ll;lach9n nhfrng tai 1i~u c~p nh~t va dang thalli khao.
Mong rang coon suu t~p chuyen d~ nay, b6 sung rho coon tnrac, se
co ph<innao dong gap vao vi~c nghien eCruv~kinh te tri thuc anuac ta.
TRUNG
TAM THONG TIN- TU LI~U
VI~N NGHIEN CUU QUAN LV KINH TETW
68 PHAN DiNH PHUNG - HA NOI
6
KINH TE TRI THUG
Đó có phải là sự thất bại của một chính sách hay thất bại của điều gì khác?
Sau đó, đâu là cơ hội thành công của Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ
tớng Chính phủ? Ông ta có dự định tăng cờng sự sẵn sàng chuẩn bị của
nền kinh tế cũng nh xã hội nh thế nào cho cuộc cách mạng kỹ thuật số? *
Tài liệu chuẩn bị cho Hội thảo "Các xu hớng và các vấn đề ở Đông á năm
2000," Tôkyô, 25- 26/10/2000.
1
Các nhà lãnh đạo Nhật Bản nhận thức nh thế nào về sự thống trị của ngời
Mỹ trong nền kinh tế mới và thời đại phân cách kỹ thuật số?
Tài liệu này cố gắng làm rõ các vấn đề này, bằng việc đa Sáng kiến
IT của Thủ tớng Chính phủ Mori vào khung cảnh lịch sử, nghiên cứu kỹ
lỡng mối quan hệ của nó với các nỗ lực tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế Nhật
Bản. Tuy nhiên, chúng ta phải luôn nhớ rằng một điều cực kỳ khó là phản
ánh một cách xúc tích các cuộc tranh cãi thờng mâu thuẫn với nhau đang
dấy lên mạnh mẽ, bởi vì sự phát triển phức tạp và nhanh chóng của công
nghệ làm bối rối nhiều nhà quan sát. Vì vậy, một số điều quan sát đợc thể
hiện trong tài liệu này có tính chất suy đoán cao độ.
Khởi xớng Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tớng Chính
phủ Mori
Thủ tớng Chính phủ Mori đã thực sự nhanh chóng lựa chọn công
nghệ thông tin là một tâm điểm quan trọng nhất duy nhất trong sáng kiến
chính sách của mình khi cuộc tổng tuyển cử kết thúc vào tháng bẩy. Điều
này làm nhiều nhà quan sát ngạc nhiên, bởi vì từ lâu ông Mori đã đợc biết
đến nh một nhà hoạch định chính sách giáo dục có kinh nghiệm nhng lại
thiếu kiến thức sâu rộng về công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, ngay từ đầu tháng bẩy, ông ta đã nhanh chóng ban hành
một loạt các biện pháp nhằm chứng minh cho sáng kiến chính sách của
là bãi bỏ các quy định lỗi thời có thể cản trở sự phát triển của thơng mại
điện tử và ban hành các quy định điều tiết hợp lý quyền sở hữu trí tuệ. Thứ
ba là tạo ra một chính phủ điện tử. Thứ t là tăng cờng phát triển nguồn lực
con ngời để đáp ứng các nhu cầu lớn hơn về chuyên gia công nghệ thông
tin. Thủ tớng Chính phủ Mori đã công khai hoá Sáng kiến để gắn toàn bộ
những thay đổi cần thiết vào khuôn khổ luật pháp và đề nghị Sáng kiến nh
một Đạo luật Công nghệ thông tin cơ bản trớc phiên họp thờng kỳ đầu tiên
của Quốc hội và đầu năm tới.
Đồng thời, có vẻ nh Thủ tớng Chính phủ Mori đã chớp mọi cơ hội
nhằm đẩy mạnh chiến dịch công nghệ thông tin của mình. Một thí dụ là
chuyến thăm gần đây của ông ta tới ấn Độ, tại đó ông ta đã đi thăm
Bangalore, thủ đô công nghệ thông tin của ấn Độ, và bàn bạc về khả năng
hợp tác với Chính phủ ấn Độ trong lĩnh vực phát triển công nghệ thông tin.
Khả năng Nhật Bản nhập khẩu chuyên gia công nghệ thông tin từ ấn Độ
đang dồi dào nguồn cung là hoàn toàn có thật. Thủ tớng Mori cũng tất bật
đến thăm một số doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nớc nhằm thể
hiện quyết tâm của mình hớng tới cuộc cách mạng công nghệ thông tin.
Bằng các hoạt động đó, Thủ tớng Mori dờng nh đang thành công trong
việc làm dấy lên sự quan tâm cha từng thấy của giới kinh doanh cũng nh
những ngời tiêu dùng.
Quả thực, Sáng kiến công nghệ thông tin của Thủ tớng Chính phủ
Mori cho thấy sự quả quyết, tham vọng và trọn vẹn. Nếu nó thành công,
3
ngời ta có thể kết luận rằng lịch sử sẽ nhớ đến Thủ tớng Mori nh một nhà
lãnh đạo đã tạo ra một bớc ngoặt trong lịch sử kinh tế của đất nớc từ kỷ
nguyên cách mạng công nghiệp sang kỷ nguyên cách mạng kỹ thuật số. Sự
thành công này đã đợc đảm bảo cha? Cha ai có câu trả lời. Để đa Sáng
kiến của Thủ tớng Mori vào một triển vọng thích hợp, chúng ta cần phải
nhìn lại quá khứ một chút.
Các chính sách trớc đây về công nghệ thông tin và những hạn
công nhân có kỹ năng sang dựa vào các máy tính đã đợc tiêu chuẩn hoá trên
cơ sở từng công đoạn sản xuất. Ngời máy đã thay thế hầu hết các công đoạn
sản xuất bằng tay trong xởng. Đồng thời, kỹ thuật tự động cũng đã bắt đầu
nhận chìm một số bộ phận các hoạt động hậu cần, chẳng hạn nh kho hàng
và các hệ thống phân phối.
Giai đoạn thứ ba của tự động hoá là các thiết bị điện tử thông minh và
tự động hoá văn phòng. Cả hai đã tiến bộ đáng kể vào cuối những năm 1980.
Một số thiết bị điện tử đã bắt đầu tự trang bị các bộ vi xử lý có tác dụng điều
khiển cách thức hoạt động của chúng. Nhiều thiết bị điện tử dễ sử dụng và dễ
điều khiển bằng tay nh máy giặt thông minh, máy ảnh tiêu điểm tự động, tủ
lạnh không đọng nớc đã đợc sản xuất ra. Hơn nữa, hệ thống điều khiển
microchip đã bắt đầu đợc lắp đặt chủ yếu trên các ô tô, nó đã trở nên dễ vận
hành hơn trớc rất nhiều.
Bên cạnh đó, các thiết bị điện thông minh đã làm tăng nhanh chóng
khả năng làm đợc nhiều công việc đến mức thờng xuyên làm bối rối ngời
tiêu dùng, chẳng hạn nh các thiết bị ngoại vi điều khiển từ xa kèm theo đầu
máy video, tivi, rađiô
Kết quả là việc sử dụng rộng rãi máy tính đã bắt đầu làm thay đổi bài
trí của các văn phòng và cách thức làm việc của chúng. Mọi văn phòng bắt
đầu đợc trang bị nhiều dàn máy tính hơn và các bộ xử lý từ ngữ tiếng Nhật
Bản. Ngời ta tin rằng những thiết bị mới này thực sự sẽ cách mạng hoá
phơng thức hoạt động trong các ngành dịch vụ. Đồng thời, trong một công
ty cũng nh trong một nhóm các công ty, một mạng máy tính kết nối với
nhau đã bắt đầu lan rộng thông qua các đờng dây thuê bao phục vụ cho các
công việc nội bộ. Một số ngành dịch vụ nh dịch vụ tài chính, giao thông vận
tải, bán lẻ, v.v. đã bắt đầu đầu t ồ ạt vào các hệ thống xử lý thông tin.
Có một sự đồng thuận giữa các chuyên gia rằng công nghệ thông tin
sẽ phát triển mạnh mẽ và đa nền kinh tế vào một giai đoạn phát triển công
nghệ và công nghiệp mới cơ bản trong những năm tới. Cùng với quá trình
này, thí dụ, các chuyên gia đã bắt đầu bàn đến sự xuất hiện của kỹ thuật tự
tập trung sau đây. Thứ nhất là ban hành một hệ thống các quy định nhằm
điều tiết hợp lý thơng mại điện tử. Thứ hai là tăng cờng mạnh hơn nữa việc
áp dụng công nghệ thông tin vào các dịch vụ công. Thứ ba là tăng cờng
giáo dục về công nghệ thông tin. Cuối cùng là củng cố một hệ thống các quy
định nhằm khuyến khích các hoạt động mạng lới công nghệ thông tin.
Ngời ta không thể tránh khỏi có đôi chút ấn tợng khi xem xét kỹ
lỡng công việc này của Chính phủ nhằm khuyến khích sự phát triển công
nghệ thông tin. Thứ nhất, những nỗ lực do Ban Xúc tiến Xã hội Thông tin và
Viễn thông tiên tiến thực hiện là rất bao quát và công phu bao gồm hầu hết
các lĩnh vực mà hiện nay chúng ta thừa nhận là mang tính quyết định đối với
sự phát triển công nghệ thông tin và mạng lới của nó.
Thứ hai, tuy nhiên, dờng nh Chính phủ đã bỏ ra nhiều năm để hợp
nhất những cân nhắc kỹ lỡng vào các kế hoạch hành động cụ thể, thực tế nó
6
diễn ra chậm chạp. Đơng nhiên, cho tới gần đây, sự thực hiện các kế hoạch
hành động là khó đợc bắt đầu. Ngời ta nghi ngờ rằng sự trì hoãn này có
thể giải thích một phần các lý do tại sao Nhật Bản lại bị gạt ra ngoài trong
cuộc cạnh tranh nhằm khuyến khích phát triển công nghệ thông tin.
Trong mọi trờng hợp, Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tớng
Mori, không lẫn vào đâu đợc, vẫn là một loại mở rộng cố gắng trớc đây, và
không phải là một nỗ lực tình cờ do ngẫu hứng. Thực tế, Ban Xúc tiến Xã hội
Thông tin và Viễn thông tiên tiến đã tiếp tục tồn tại cho đến khi nó bị thay
thế bởi Ban Công nghệ thông tin của Thủ tớng Chính phủ Mori. Hơn nữa,
thực tế là cựu Thủ tớng Chính phủ Keizo Obuchi lần đầu tiên đã cố gắng tái
tập trung vào phát triển công nghệ thông tin.
Trong Dự án Thiên niên kỷ mà Thủ tớng Obuchi đa ra với một sự
phô trơng ầm ỹ vào cuối năm 1999, ông ta đã chọn phát triển công nghệ
thông tin là lĩnh vực u tiên hàng đầu trong chiến lợc phát triển kinh tế dài
hạn, cùng với hai lĩnh vực khác, đó là chuẩn bị cho một xã hội lớn tuổi và
bảo vệ môi trờng. Thủ tớng Obuchi giải thích mục tiêu của phát triển công
thế lỡng nan là cải cách cơ cấu lại thờng có tác động tiêu cực ngắn hạn tới
sự hồi phục kinh tế. Hãy xem xét đến sự giải điều tiết, giải điều tiết đợc
thực hiện với mục đích bãi bỏ một số sự bảo hộ trong nớc của Chính phủ
đối với một ngành dịch vụ không hiệu quả cụ thể. Giải điều tiết sẽ giúp cho
việc từng bớc hợp lý hoá ngành đó và làm cho nó có hiệu quả thông qua
cạnh tranh gay gắt.
Tuy nhiên, quá trình hợp lý hoá có thể dẫn đến sa thải hàng loạt công
nhân dôi d. Điều này có thể làm yếu đà hồi phục cho đến khi những công
nhân này đợc tuyển dụng lại trong ngành nào đó và trở lại sản xuất.
Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách có lý do để trớc tiên a thích
một sự ổn định nhanh chóng hơn, sau đó mới giải quyết các vấn đề dài hạn,
khi nguy cơ trực tiếp đã không còn. Điều này đặc biệt đúng khi sự suy thoái
diễn ra hết sức trầm trọng. Đồng thời, tuy nhiên, một điều cũng đúng là nền
kinh tế sớm hay muộn sẽ mất đi tính năng động nếu không tiến hành cải
cách cơ cấu. Một sự hồi phục kinh tế theo chu kỳ là hoàn toàn khác so với
một sự gia tăng tiềm năng tăng trởng dài hạn, nó chỉ có thể đợc thúc đẩy
bởi cải cách cơ cấu thích hợp. Mặt khác, một loạt các chính sách theo
Keynes quá mức có xu hớng kết thúc với sự lạm phát đình đốn tại cuối mỗi
chu kỳ kinh tế.
Chúng ta phải nhớ rằng cựu Thủ tớng Chính phủ Ryutaro Hashimoto
đã hoàn toàn thất bại trên mặt trận này. Trớc dấu hiệu hồi phục đang tăng
lên năm 1995, Thủ tớng Hashimoto đã đa ra một sáng kiến củng cố tài
khoá táo bạo và tăng thuế tiêu dùng từ 3% lên 5% và bãi bỏ sự miễn thuế thu
nhập đặc biệt khi chỉ mới bắt đầu đợc áp dụng từ một hai năm trớc đó.
Rõ ràng, ý định của cựu Thủ tớng Hashimoto là tiếp tục giải quyết
một trong những vấn đề cơ cấu không thể tránh khỏi, đó là vấn đề thâm hụt
8
tài khoá lớn gây đe doạ cho nền kinh tế ngay sau khi thoát khỏi suy thoái.
Nh đợc biết đến một cách rộng rãi, quyết định của ông ta thật khờ dại và
đã đa Nhật Bản đến bờ của một sự sụp đổ kinh tế tổng thể cũng nh sự đổ
muốn cải cách cơ cấu và lựa chọn thời điểm dịch chuyển chính sách từ quản
lý khủng hoảng đến cải cách cơ cấu.
9
Về các đề nghị khác, Hội đồng Kinh tế Chiến lợc, một trong các cơ
quan cố vấn của Thủ tớng Obuchi, đã đề nghị thiết lập 5 mục tiêu sau đây.
Thứ nhất là xây dựng lại một chính phủ nhỏ gọn và hiệu quả và đề ra một kế
hoạch giảm thâm hụt tài khoá đáng tin cậy. Thứ hai là tạo ra một môi trờng
lành mạnh và cạnh tranh thông qua giải điều tiết, do đó vực dậy sự năng
động của khu vực t nhân, và xây dựng một mạng lới an toàn xã hội thích
hợp. Thứ ba là khôi phục thị trờng tài chính đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu.
Thứ t là kích thích các khu vực công nghiệp chiến lợc. Thứ năm là thiết lập
kết cấu hạ tầng mới. Đề nghị này là tơng đối toàn diện nhng Thủ tớng
Obuchi đã không coi nó là các đờng lối chính sách chính thức của mình.
Sau đó, vào khoảng cuối năm 1999, Thủ tớng Chính phủ Obuchi đã
bàn đến Dự án Thiên niên kỷ, coi đó là sáng kiến của chính mình. Dự án đã
đề cập đến ba lĩnh vực đòi hỏi phải có sự tập trung về chính sách nhằm
chuẩn bị nền kinh tế và xã hội cho thế kỷ 21. Thứ nhất là khuyến khích phát
triển công nghệ thông tin. Thứ hai là làm cho xã hội sẵn sàng trớc tình trạng
dân số già. Công nghệ sinh học và cải cách phúc lợi xã hội đã đợc đề cập
đến. Thứ ba là tìm kiếm sự phát triển bền vững, giải quyết thoả đáng mối
quan ngại về môi trờng. Việc phát triển của các pin nhiên liệu và một hệ
thống phát điện phân tán đã đợc đề cập đến.
Có thể là công bằng khi nói rằng Thủ tớng Obuchi đã dự định làm
cho sáng kiến của mình về cải cách cơ cấu tập trung rõ ràng hơn so với báo
cáo của Hội đồng Kinh tế Chiến lợc, và ông ta đã hớng sự chú ý của quốc
gia vào các triển vọng sáng sủa trong tơng lai hơn là triển vọng ảm đạm và
công việc khó khăn là giải quyết các vấn đề cũ.
Nhân dịp ủng hộ cho cuộc tổng tuyển cử vào tháng 7 năm nay, Thủ
tớng Obuchi đã ban hành "Gói hồi sinh kinh tế," về bản chất gần giống với
Dự án Thiên niên kỷ. Gói hồi sinh kinh tế có 5 cột trụ: 1/ Cải cách kinh tế
hạn chế. Hơn nữa, đáng phải chú ý rằng công nghệ thông tin là một thứ
khuôn sáo hấp dẫn đối với những ngời thành thị, họ tin rằng chính họ là nạn
nhân của các biện pháp bảo hộ trớc đây của chính phủ trong khu vực dịch
vụ không hiệu quả. Trong thực tế, ngời Tôkyô đã bỏ phiếu cho hầu hết các
ứng cử viên Đảng LDP không ở Tôkyô vào Thợng viện trớc đây cũng nh
trong các cuộc tổng tuyển cử gần đây.
Một cuộc sát hạch về sự lãnh đạo chính trị vững mạnh
Có một khía cạnh quan trọng khác trong Sáng kiến Công nghệ thông
tin của Thủ tớng Chính phủ Mori. Ngời ta phải thực hiện một công việc
cấp bách là xác định lại mối quan hệ giữa khả năng lãnh đạo chính trị và bộ
máy chính quyền. Những ngời ủng hộ cải cách cơ cấu đã nhiều năm tranh
luận rằng Nhật Bản phải có một chính phủ trong sạch và một sự lãnh đạo
chính trị vững mạnh. Họ lập luận rằng sự thất bại lớn của hệ thống Nhật Bản
có nguồn gốc sâu xa từ bộ máy công quyền quan liêu quá cồng kềnh không
có khả năng tạo ra bất kỳ sự thay đổi chính sách táo bạo nào, bởi vì họ tự
nhận thấy rằng họ là con tin của các nhóm đặc lợi họ trông nom, chăm sóc.
11
Một số nhà chỉ trích cũng cho rằng nội các nghị viện là một công thức
tự nhiên dẫn đến khả năng lãnh đạo yếu kém của Thủ tớng Chính phủ, đặc
biệt là so với hệ thống Tổng thống của Mỹ. Có sự đồng thuận nổi lên cho
rằng công việc cấp bách là các nhà lãnh đạo chính trị phải thuần hoá cái bộ
máy quan liêu để có thể bắt tay vào cải cách cơ cấu một cách táo bạo.
Các nhà chính trị không bị đui trớc sự chỉ trích này. Đặc biệt, rõ ràng
là các nhà chính trị sẽ phải đánh giá lại sự lãnh đạo của mình khi cuộc khủng
hoảng tài chính đã tàn phá đất nớc trong năm 1997 và 1998. Một điều hiển
nhiên là các quan chức chính phủ đã không thể kiểm soát đợc cuộc khủng
hoảng đó một cách hợp lý. Sắc lệnh về tái xuất vốn tài chính năm 1998 là
trờng hợp đầu tiên trong nhiều năm các nhà làm luật đã tự viết ra một sắc
lệnh.
Kể từ thời gian đó, cải cách chính phủ đã trở thành một bộ phận quan
Nói cách khác, LDP bắt tay vào thực hiện Sáng kiến Công nghệ thông
tin nh một cuộc xét nghiệm nhằm thể hiện một sự lãnh đạo có hiệu quả của
Văn phòng Nội các mới. Sự thành công cha đợc bảo đảm và ngời ta vẫn
phải xem xét xem Thủ tớng Chính phủ Mori có thể đáp ứng đợc niềm
mong đợi nh thế nào. Một tỷ lệ dân chúng rất thấp a thích Nội các Mori
hiện nay đủ gây ra sự lo ngại. Tuy nhiên, có một cơ hội thành công. Trong
quá trình tái tổ chức, mỗi bộ bị mất đi phần nào sự thống nhất của mình và
không chắc chắn về mảnh đất riêng mà mình muốn giữ lại. Do vậy, có thể là
sự chống lại những thay đổi của các công chức sẽ yếu hơn nhiều so với trớc
đây nếu các nhà chính trị có thể giải thích đợc những giải pháp của mình.
Ngời ta có thể nói rằng Luật cơ bản về Công nghệ thông tin là một
gói thông minh. Bất kỳ bộ nào cũng không thích sự chỉ trích phản đối các
thay đổi cụ thể về luật lệ sẽ phá vỡ toàn bộ cả gói. Hơn nữa, việc thực hiện
quan hệ với công chúng của Thủ tớng Mori về Sáng kiến Công nghệ thông
tin có vẻ dần đi đến thành công trong việc sắp đặt những ý kiến của công
chúng, khiến cho nếu ai đó phản đối Sáng kiến Công nghệ thông tin thì có
thể bị lên án. Nói tóm tắt, sự tái tổ chức chính phủ dờng nh đang tạo ra
một cơ hội vàng cho các nhà lãnh đạo chính trị cố gắng luật hoá một cuộc
cải cách táo bạo.
Sự hồ hởi của các doanh nghiệp trớc công nghệ thông tin
Một u điểm khác của Sáng kiến Công nghệ thông tin của Thủ tớng
Mori là nó khớp với quan điểm của các nhà kinh doanh khu vực t nhân. Cho
tới gần đây, công việc quản lý quan trọng nhất duy nhất của giới kinh doanh
Nhật Bản là tiến hành hợp lý hoá và tái cơ cấu để đảm bảo sự sống còn. Sự
mở rộng và xuất hiện mới của các hoạt động kinh doanh hiện nay là hoàn
toàn không có gì phải nghi ngờ, miễn là chúng có thể đảm bảo thu lại lợi
nhuận nhanh chóng.
Thời kỳ khủng hoảng này dờng nh đang ở đằng sau hầu hết các
doanh nghiệp. Nỗ lực của họ nhằm hạn chế sự tăng tiền lơng trong nhiều
13
trớc khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra đang thu lợi nhiều từ sự bùng
nổ xuất khẩu hiện nay.
Tất cả những thay đổi thuận lợi đó trên thị trờng quốc tế đã hỗ trợ
cho các doanh nghiệp lớn liên quan đến công nghệ thông tin của Nhật Bản và
làm cho họ có một t tởng hớng lên phía trớc. May mắn nhờ vào sự tăng
lên của luồng tiền mặt tự do, hiện họ đang quyết tâm làm mọi việc để đuổi
14
kịp các đối tác Hoa Kỳ bất cứ khi nào có thể. Một điều có thực là vào một
thời điểm nào đó năm 1999, một cái bong bóng Internet đã xuất hiện ở Nhật
Bản, nó đã làm đổ bể và phá sản một số doanh nghiệp Nhật Bản yếu kém
trong năm 2000. Nhng sự cố này dờng nh đã không cản trở đợc các
doanh nghiệp liên quan đến công nghệ thông tin thử thách với các cơ hội
mới.
Xem xét lại những tính toán sai lạc trong những năm 1990
Tựu trung lại, sẽ là phi thực tế nếu đổ lỗi rằng sự đình trệ của nền kinh
tế trong những năm 1990 cũng nh sức ỳ của Chính phủ là nguyên nhân duy
nhất làm cho Nhật Bản bị tụt lại xa phía sau Mỹ trong phát triển công nghệ
thông tin. Chắc chắn, dờng nh có một số tính toán sai lạc về phía các nhà
lãnh đạo Chính phủ Nhật Bản cũng nh các nhà lãnh đạo kinh doanh. Rõ
ràng là họ đã không nhận thấy những tiềm năng của Internet và máy tính cá
nhân đang đợc sử dụng mạnh mẽ tại Mỹ trong cuối những năm 1990.
Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã không biết trớc đợc rằng máy vi tính
sẽ trở thành một nền tảng chung cho những ai sử dụng công nghệ thông tin.
Họ nghĩ rằng việc sử dụng máy tính tiếp tục bó hẹp trong các doanh nghiệp
và chỉ một phần nhỏ đợc các cá nhân sử dụng. Vì sự tính toán này, các nhà
kinh doanh Nhật Bản đã không dành nhiều nguồn lực cho phát triển các hệ
điều hành (OS) cũng nh máy tính cá nhân. Một số cuộc thí nghiệm ngập
ngừng về giao diện liên lạc kiểu cả gói đã đợc thực hiện đối với những
ngời sử dụng máy tính, nhng đã không tiến triển đợc xa.
Vậy, sai lầm hiển nhiên mang tính thiển cận này của các nhà lãnh đạo
cấu giá cả còn cao. Không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng Internet đã không
có đợc một vai trò thích hợp trong việc thiết lập này.
Cách thức này của hệ thống đã dẫn tới một sự phân chia ranh giới rõ
rệt giữa những ngời chuyên về máy tính và phần dân c còn lại bao gồm
không chỉ những ngời tiêu dùng mà cả những nhân viên trong các văn
phòng bình thờng. Trên thực tế, đầu t cho công nghệ thông tin tăng đáng
kể trong những năm 1990 là một phần của tổng đầu t và đã dẫn tới sự mở
rộng không ngừng của các trung tâm xử lý thông tin. Những ngời bình
thờng bị khiến cho cảm thấy rằng họ không cần bất kỳ kỹ năng nào về công
nghệ thông tin và họ có thể đợc các chuyên gia công nghệ thông tin giúp đỡ
hoàn toàn mà không cần có sự nỗ lực nào cả. Nhân đây, có thể nói rằng một
vài hệ thống phát triển theo cách đó ngay đến nay vẫn là tiên tiến. Thí dụ, hệ
thống thanh toán chuyển séc của Nhật Bản giữa ngân hàng trung ơng và các
ngân hàng thơng mại vẫn là một trong những hệ thống tốt nhất trên thế giới
về khía cạnh tốc độ, độ tin cậy và sự tinh vi trong vận hành.
Một sự thiếu hồ hởi trong việc hớng tới máy tính cá nhân và mạng
Internet có thể quy cho niềm tin cho rằng có sự d dật các cơ hội kinh doanh
ở những nơi khác. Đó là cái đợc gọi là một cuộc cách mạng vi điện tử. Các
nhà kinh doanh bị làm mê hoặc bởi tiềm năng của việc trang bị các bộ vi xử
lý cho TV, ô tô và hầu hết các vật dụng sử dụng hàng ngày khác và làm cho
các thiết bị này có những chức năng tinh vi. Một thí dụ về sự phát triển khác
16
thờng ở Nhật Bản là hệ thống điều khiển xe hơi, nó vẫn đứng hàng đầu thế
giới về mặt công nghệ cũng nh thơng mại.
Các cơ hội ứng dụng các bộ vi xử lý vào công nghiệp cũng dờng nh
dồi dào vô hạn. Ngời ta biết rằng các hệ thống bán hàng tự động (POS) tại
các cửa hàng tiện lợi của Nhật Bản là một trong những hệ thống tốt nhất trên
thế giới. Các cơ hội phong phú này đã khiến các công ty công nghệ thông tin
của Nhật Bản sao lãng không chú ý đến các tiềm năng của máy tính và mạng
Internet.
trở nên lỗi thời.
Đứng trớc khoảng cách ngày càng tăng giữa Nhật Bản và Mỹ về phát
triển công nghệ thông tin vào cuối những năm 1990, sự bi quan vẫn tiếp
diễn. Về cơ bản, những ngời bi quan chỉ ra rằng Nhật Bản có thể là một địa
điểm phù phiếm để có thể tiến hành một cuộc cách mạng công nghệ thông
tin. Có những lý do khác nhau, nhiều trong số đó không nhất thiết cần đợc
chứng minh bởi các công trình nghiên cứu khoa học khắt khe. Tuy nhiên,
cũng đáng phải đề cập đến những sự bi quan này.
Thí dụ, một số nhà chỉ trích đã chỉ ra rằng hệ thống Nhật Bản không
cho phép diễn ra sự đổi mới và các dự án kinh doanh mới. Nền kinh tế bị
thống trị bởi các công ty lớn mà các bộ máy cồng kềnh của chúng luôn luôn
chống lại các dự án mới cần tập trung các nguồn lực quan trọng theo một
cách thức linh hoạt. Các bộ máy đó có xu hớng lựa chọn một quyết định
"nửa vời" là công thức tự nhiên dẫn tới sự thất bại trong ngành công nghệ
thông tin, đáng ra họ phải có các quyết định nhanh chóng và táo bạo. Các
nhà chỉ trích còn thêm rằng các trờng đại học cũng nh các doanh nghiệp
Nhật Bản rất giỏi trong việc sản sinh ra những ngời sử dụng theo nhóm
nhng lại kém cỏi trong việc đào tạo ra những ngời đổi mới độc lập.
Hơn nữa, ngời ra dẫn ra rằng các thị trờng tài chính dựa trên quan
hệ với các ngân hàng không phải là nơi mà vốn rủi ro có thể đợc huy động
dễ dàng. Một số ngời phàn nàn rằng các ngành công nghiệp của Nhật Bản
không thể vốn hoá dựa trên một cái bể dồi dào các thành tựu khoa học và kỹ
thuật nh đợc tạo ra ở Mỹ bởi các dự án nghiên cứu và triển khai do quân
đội tài trợ.
Một số nhà lãnh đạo kinh doanh đổ lỗi cho Chính phủ vì đã có những
điều tiết cứng nhắc trói chặt tay các nhà kinh doanh khi họ muốn bắt tay vào
các dự án kinh doanh mới về công nghệ thông tin. Đặc biệt, những sự độc
quyền đợc phép nh NTT và NHK đã thờng xuyên bị chỉ trích là chống lại
giải điều tiết, điều có thể làm xói mòn các dịch vụ viễn thông và phát thanh.
Một quan điểm đồng thuận là quá muộn và quá nhỏ bé và cái kiểu giải điều
Cũng thú vị không kém, dờng nh Sáng kiến Công nghệ thông tin
đợc đa ra đúng lúc có một số dấu hiệu cho thấy sự hồi phục lòng tin đã bắt
đầu xuất hiện từ phía các công ty Nhật Bản. Không nghi ngờ gì, sự hồi phục
và sự cải thiện hiệu suất lợi nhuận là những nhân tố đóng góp quan trọng.
Tuy nhiên, có một số tiến triển cho thấy rằng sự cạnh tranh trong các ngành
công nghệ thông tin có thể đang tiến vào một giai đoạn mới một cách nhạy
cảm.
Có hai thí dụ thờng đợc trích dẫn để biểu thị sự thành công của các
công ty Nhật Bản trong những năm gần đây. Thứ nhất là sự tăng lên nhanh
chóng của việc sử dụng điện thoại di động ở Nhật Bản, đặc biệt là sự bùng nổ
19